MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU – Bài 6

Bài thứ sáu trong chủ đề:

MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU.

THẤY GÌ QUA ĐÁM TANG NGUYỄN VĂN VĨNH?!

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ra ở đâu?

Thật đáng tiếc, vì đã qua gần 140 năm kể từ ngày học giả Nguyễn Văn Vĩnh ra đời (1882), trong hiểu biết của hậu thế, người ta vẫn bâng khuâng khi đọc các ghi chép về Nguyễn Văn Vĩnh, thấy hiện lên sự thiếu nhất quán, rằng ở tài liệu này, Nguyễn Văn Vĩnh sinh ra ở làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, phủ Hà Đông! Nhưng ở tài liệu kia, ghi ở số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội?

Sự thiếu nhất quán này, không hề là lỗi của những người ghi chép, mà lỗi thuộc về hệ thống chính quyền qua các thời kỳ ở Việt Nam. Họ xem nhẹ việc xác minh vai trò lịch sử của Nguyễn Văn Vĩnh, và không một chế độ chính trị nào trong lịch sử Việt Nam ở thế kỷ 20, muốn truyền tụng về Nguyễn Văn Vĩnh…!?

Chỉ có các tổ chức dân sự, các hội đoàn riêng lẻ trong các thể chế xã hội khác nhau ở các giai đoạn lịch sử, cùng những người dân sùng kính văn hóa, vì lòng ngưỡng mộ, vì kính phục tài năng, vì hàm ơn, và quý trọng những cống hiến của Nguyễn Văn Vĩnh, nên đã chủ động ghi chép lại, dựa vào những góc quan sát khác nhau, tạo nên sự khập khiễng ở một vài khía cạnh, gây sự nghi ngại cho người quan tâm.

Công bằng để nói, trách nhiệm về sự thiếu danh chính này, thứ nhất là Chính phủ Thuộc địa của người Pháp ở Việt Nam, mà hôm nay là Chính phủ Pháp! Họ là những người đầu tiên phát hiện ra năng lực bẩm sinh của Nguyễn Văn Vĩnh, và họ cũng là những người đầu tiên khai thác, sử dụng có hiệu quả những tài năng thiên bẩm đó của ông.

Xong có lẽ, việc Nguyễn Văn Vĩnh được cất tiếng khóc chào đời ở đâu, đã không còn quan trọng, và nếu là quan trọng, nó chỉ còn trở nên cần thiết với các giọt máu là hậu duệ của ông mà thôi!

Làng Phượng Dực nhìn từ đường huyện vào chùa làng. Ảnh cắt từ video quay năm 2006 khi thực hiện bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”.

“Cuộc đời lộng lẫy và nhiêu khê…” (*)

Đó là câu nói đầy ấn tượng của nhà văn nổi tiếng ở cả ba chế độ chính trị ở Việt Nam trong thế kỷ 20, Vũ Bằng (1913-1984), bao gồm từ chế độ Thuộc địa của người Pháp Thực dân, đến chế độ Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam 1954-1975), và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Việt Nam (1945 đến nay).

Vậy Nguyễn Văn Vĩnh lộng lẫy ra sao ?

  • Mười bốn tuổi, đỗ thủ khoa trường Thông ngôn bằng tiếng Pháp (1896).
  • Mười lăm tuổi, làm thông ngôn cho Tòa xứ Lao Cai.
  • Hai mươi bốn tuổi, Chánh thư ký Tòa Đốc lý Hà Nội (1906).
  • Hai mươi lăm tuổi, Chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ Đăng Cổ Tùng Báo. Cơ quan ngôn luận của Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
  • Hai mươi bẩy tuổi, Chủ bút tờ báo tiếng Pháp Nortre Journal.
  • Ba mươi mốt tuổi, Chủ bút tờ báo danh tiếng nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam Đông Dương Tạp chí (1913).
  • Ba mươi sáu tuổi, Chủ bút tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam Trung Bắc Tân Văn.
  • Từ 25 đến 40 tuổi, dịch 30 đầu sách kinh điển của văn học Thế giới từ Hán văn và Pháp văn ra chữ Quốc ngữ, lần đầu tiên người Việt Nam tiếp xúc với nền văn học phương Tây, và trở thành nhu cầu tinh thần trong cuộc sống của người Việt.
  • Từ năm 28 tuổi đến lúc mất, 54 tuổi, dịch đi dịch lại Kim Vân Kiều từ chữ Nôm ra Quốc ngữ, và từ Quốc ngữ ra Pháp văn, được lịch sử vinh danh là bản dịch sang tiếng Pháp thành công nhất, vì đã đạt đến đỉnh cao của sự quảng bá tinh hoa văn hóa Việt với cộng đồng quốc tế.

Chỉ tạm nói đến chừng đó gạch đầu dòng trong cuộc đời làm văn hóa của một con người… Làm sao, một người viết văn, một người làm báo, làm văn hóa như Vũ Bằng, lại không gọi đó là sự lộng lẫy ?!

Quỹ Hỗ trợ Xuất bản của Đại sứ quán Pháp, thành lập năm 2000

Còn Nguyễn Văn Vĩnh nhiêu khê như thế nào ?

Việc định nghĩa thế nào là nhiêu khê, trong cuốn từ điển tiếng Việt ghi: Phức tạp rắc rối, khó làm, khó thực hiện…

Với tư duy đánh giá khách quan, sự phức tạp, khó làm, hay khó thực hiện một việc, một vấn đề, một hành vi, còn phụ thuộc vào nhãn quan của người quan sát. Nhãn quan, chủ kiến của người quan sát lại phụ thuộc vào từng hoàn cảnh lịch sử, từng trình độ nhận thức, và mặt bằng dân trí của một xã hội.

Một trăm năm trước, trong khái niệm của người Việt Nam, việc mặc bộ com lê cùng các chi tiết như: Áo sơ mi phải được giặt sạch bằng xà phòng (khi xà phòng còn là xa xỉ), phải được là phẳng phiu (chưa có bàn là điện), chiếc ca vát phải phù hợp với màu sắc của áo quần (khi còn rất ít người biết cách thắt ca vát), rồi đôi giày phải có gam màu hài hòa với cả bộ vét…

Đến việc cúi chào và nhường đường cho phụ nữ khi ở nơi công cộng, việc mở cửa xe ô tô cho người có vị trí quan trọng, việc dừng lại ở ngã tư khi có đèn đỏ, là sự bắt buộc, cho dù ở vào thời điểm khi không có phương tiện nào di chuyển. Có người Việt nào ngày đó, lại không nghĩ rằng: Toàn là những chuyện nhiêu khê…!

Theo nhiều tài liệu ghi chép, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên ở Thăng Long hưởng ứng phong trào, đàn ông không búi tó, đàn ông không nên đi guốc, mà thay vào đó là đi giày. Khi tiếp xúc với các đối tượng có phẩm hàm trong hệ thống cai trị, không nên cúi lạy, vì khi cúi gập người, cả đôi bên đều không thể biết, hành vi đó có thật sự là sự tôn trọng lẫn nhau hay không, do không quan sát được đôi mắt (cửa sổ) của đối phương. Thay vào đó, là vẻ mặt điềm tĩnh và giơ tay bắt với đôi mắt nhìn thẳng người mình tiếp xúc…

Cái lối sống ảnh hưởng của văn minh phương Tây của nguyễn Văn Vĩnh ở những năm đầu của thế kỷ 20, đã để lại nhiều thắc mắc, xì xào trong dân chúng, vì nó ‘trái’ với tập quán của xã hội, trái với cả các quy chuẩn đạo đức do tập tục để lại, và như thế, khi bị lên án, dèm pha, nó trở thành sự mặc cảm, thậm chí là ác cảm.

Bức tranh vè có tính châm biếm trên một cuốn sách về Nguyễn Văn Vĩnh, thể hiện sự nhận thức sai lệch của nhãn quan người đương thời khi nói về việc NVV phải đi tìm vàng… trả nợ! Đồng thời thể hiện cách nhìn về một người ‘khác’ với lối sống cổ hủ của người dân An Nam.

Vốn Nguyễn Văn Vĩnh thường có tác phong sống khác với tập tục, phần ông cho rằng vì nó cổ hủ, phần vì muốn khẳng định, mình là Người Nam Mới, ông bị bài xích và phản bác. Những kẻ bảo thủ đã gán cho ông nhiều tội, trong đó, cách nói: Ông này phức tạp, ông này rắc rối, gây khó cho chúng tôi… và ông này là kẻ‘nhiêu khê’ có nguồn cơn từ đó.

Tất nhiên, còn rất nhiều dẫn chứng, mà Người Nam mới đã làm mếch lòng không phải chỉ với tầng lớp quan lại, những đối tượng hưởng lợi từ hệ thống cai trị, và cũng không phải chỉ với giới cựu học, nho gia đôi khi khó chịu với ông, mà cả các đồng liêu của Nguyễn Văn Vĩnh, những người mà phải hơn hai chục năm sau, họ mới thấm thía cái nguyên do Tân Nam Tử đã dấn thân khai phá, tạo dựng và thay đổi.

Suốt 5 năm đầu của thập niên 30 ở thế kỷ XX, những hệ quả mà Nguyễn Văn Vĩnh đã gây dựng thành công trong lĩnh vực tinh thần văn hóa, văn học, dân trí, những tố chất chứa nhiều năng lượng trí tuệ, đã tác động, thôi thúc người dân An Nam tìm đến sự độc lập, dân chủ, bình đẳng và quyền con người, điều làm cho bộ máy cai trị, và cả các thế lực chính trị ngầm lo lắng đến mức… quyết tâm tìm cách loại bỏ ông, kẻ luôn ‘xúi giục’ cải cách, và là một đối thủ đáng gờm.

Công lý và chân lý, chẳng bao giờ có ý nghĩa gì với những chế độ cường bạo và quân phiệt! Việc đánh gục, tiêu diệt Nguyễn Văn Vĩnh về cả nghĩa đen và nghĩa bóng, là điều chẳng khó khăn gì với một bộ máy cai trị độc tài. Vậy mà, họ vẫn phải lựa chiều, với các chiêu bài mùi mẫn, cùng cả sự nhẫn nại, để sự ‘chấm hết’ của Người Nam mới, không biến thành hậu họa cho chế độ.

Ngoài ra, họ đã không dấu được sự tiếc nuối, khi nghĩ tới cái khối năng lượng tiềm tàng mà Tạo hóa ban cho Nguyễn Văn Vĩnh là quá lớn, thay vì cực chẳng đã khi phải loại bỏ do không thu phục được. Họ vẫn những mong ‘thuần hóa’ được con người này theo cách triệt để, hòng giúp sức cho việc thực hiện thành công chính sách cai trị một giống dân An Nam có rất nhiều ưu điểm này, cùng với mảnh đất màu mỡ mà Tạo hóa ban riêng cho cái đất nước có vị trí địa lý thật sự lý tưởng này.

Chắc chắn, vì bất đắc dĩ, Chính quyền đành dùng đến biện pháp cuối cùng để loại bỏ Nguyễn Văn Vĩnh, với chiêu bài xiết nợ. Họ quá hiểu Nguyễn Văn Vĩnh, một mẫu người coi danh dự là cao nhất, chứ không phải tiền bạc, mặc dù ông là kẻ xin vay tiền ngân hàng với danh nghĩa ‘kinh doanh’. Trong khi ai cũng biết, làm doanh thương, mục tiêu sống còn là lợi nhuận, là tiền, thậm chí nếu phải biến thành gian thương, thì cũng là chuyện thường thấy.

Ở Nguyễn Văn Vĩnh tuyệt nhiên không có chuyện đó, vì việc vay tiền của ông không nhắm đến lợi ích làm giàu. Chính vì vậy, Nhà Cầm quyền toan tính, với một kẻ trọng danh dự, việc bị bỏ tù, sẽ là sự hạ nhục phù hợp nhất, hơn là sự hạ sát. Bởi kẻ hạ sát sẽ suốt đời bị giày vò vì đó là nghiệp chướng, nhất là khi hạ sát một người tử tế!

Để không phải xấu hổ với chính mình và những người ruột thịt, Nguyễn Văn Vĩnh đã chấp nhận chiêu bài xiết nợ do Nhà Cầm quyền đặt ra, đi tìm vàng để trả!

Trong các giai thoại của gia đình Nguyễn Văn Vĩnh khi nhắc lại những năm tháng đen tối này, cụ bà Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965) thường kể lại, rằng: “Trước khi ông chấp nhận đi sang Lào, Chính phủ nói, nếu đồng ý đi tù, dù chỉ một ngày cũng được, ông sẽ không bị ép trả nợ và phá sản! Nghĩa là sẽ không phải đi Lào nữa”.

Nguyễn Văn Vĩnh bằng mọi giá, quyết giữ cho cái ngực còn trinh, như lời ông từ chối việc nhận kim khánh Vua Khải Định ban năm 1918. Ông chấp nhận sang vùng rừng thiêng, nước độc xa xôi bên nước Lào, vì ông nói: “Mình đi vẫn viết được mà”… Ông đi theo sự ‘hướng dẫn’ của một người Pháp có tên là Climénti, người gốc ở đảo Coóc, nơi có hệ thống nhà tù nổi tiếng nhất nước Pháp, và có tới hơn 80% số dân làm nghề cai ngục. Đó cũng là nơi Đại tướng Napoleon bỏ mình.

Vượt quá mức của sự khôi hài, giới truyền thông xã hội ở thời điểm đó đã làm cho dư luận tin… rất tin, rằng Nguyễn Văn Vĩnh ham vàng, thích giàu! Để rồi nhận biết méo mó về ông. Ý nghĩ ấy cứ đeo đẳng sống trong ký ức mờ mờ, ảo ảo của hậu thế, nhất là ở một xã hội ít quan tâm đến tư duy logic, đến phép biện chứng… nhức đầu!

Hơn một tháng sau đó, Nguyễn Văn Vĩnh vĩnh biệt kiếp người sau một đêm mưa gió, một thân một mình, trên con thuyền độc mộc bị trôi dạt vào chân cầu Sê Pôn.

Thân thể ông tím đen, đến mức người vợ ba của ông là bà Suzan Vĩnh (1902-1981), và hai người con trai đi cùng sang Sê Pôn để đưa xác ông về Hà Nội, đều không nhận ra chồng và cha mình. Mọi người chỉ thấy… một tay ông vẫn giữ chặt cây bút, và tay kia là cuốn sổ đang viết dở những bài phóng sự có nhan đề “Một tháng với những người tìm vàng”.

Lịch sử, công chúng xưa và nay đều không hề biết, rằng khi người nhà đến nhận xác Nguyễn Văn Vĩnh, chính quyền thị trấn Sê Pôn ở nước Lào, đã thực hiện nghiêm túc việc bàn giao toàn bộ số đồ dùng và các vật dụng cá nhân cùng các giấy tờ quan trọng của Nguyễn Văn Vĩnh cho người thân.

Thậm chí, họ còn trả lại nguyên vẹn phong thư chưa mở gửi qua đường bưu điện của bà Suzan Vĩnh, với nội dung thông báo… ông hãy quay về ngay, ngài quan X đã khẳng định, sẽ không dồn ép ông nữa…ông hãy về ngay…! Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh đã qua đời khi chưa kịp đọc cái ‘mệnh lệnh’ đãi bôi đó… Và cũng không bao giờ biết, vị quan Tây quan trọng đó, đã thông qua bà Suzan Vĩnh gửi cái thông tin muộn mằn đó tên là gì?!  

‘Họ’ đã chỉ đợi có thế, Nhà cầm quyền loan tin: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét và kiết lị! Đó cũng là thời khắc, ở Hà Nội, Nhà Cầm quyền đã hoàn tất chóng vánh việc phát mại toàn bộ tài sản của Nguyễn Văn Vĩnh bằng một cái giá bèo bọt!

Một bản cáo phó về cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh, của một trong nhiều tờ báo ở Hà Nội

Vĩnh biệt

Trong cuốn sách mỏng của Tủ sách NHỮNG MẢNH GƯƠNG TÂN VIỆT của NHẤT TÂM, in năm 1957 tại Sài Gòn mang đầu đề NGUYỄN VĂN VĨNH (1882 – 1936), người đọc thấy toát lên những tình cảm chứa chan không phải chỉ của tác giả, mà của toàn thể  dân chúng và xã hội An Nam với một Nguyễn Văn Vĩnh siêu phàm.

Đáng tiếc, có khá nhiều nội dung, chi tiết liên quan đến vai trò lịch sử xã hội, lý do khủng hoảng và nguyên nhân cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu, không đúng với bản chất sự việc. Người tổng hợp, viết lại trong một trạng thái tâm lý thán phục, và sự choáng ngợp trước những bước đường ông đã trải qua, những di sản mà ông để lại, mà thiếu đi góc nhìn khoa học, hay những tư duy logic khi nêu những bất thường trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh.

Nhất Tâm không có lỗi, vì tác giả không phải nhà chuyên nghiên cứu lịch sử chính trị, xã hội. Họ chỉ thực hiện một công việc của người đi sau với tấm lòng kính trọng Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh mà thôi.

Cách hiểu về Nguyễn Văn Vĩnh ở một vài khía cạnh không thật của tác giả, chính là âm mưu của Nhà Cầm quyền, là cách thức đánh lạc hướng sự thật, tránh để dư luận hiểu đúng về ông, về những mâu thuẫn chính trị nghiêm trọng giữa ông và chính quyền. Họ đã khống chế truyền thông, không để công luận vì xót xa cho sự mất mát này, mà nuôi sự khinh miệt và căm ghét chính quyền, do mâu thuẫn chính trị, đã hãm hại một người tài, người mà dân chúng đặt niềm tin vào những năng lực siêu phàm của ông, sẽ đem tới cho xã hội những tiến bộ tươi sáng.

Đau đớn hơn, sự thật này còn kéo dài đến tận hôm nay, thế kỷ 21!

Phàm với người Việt, một dân tộc có tâm lý bao dung, nhất là vào thời điểm khi kết thúc một số phận, điển hình với câu phương ngôn: Nghĩa tử là nghĩa tận! Ở trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ có như vậy, bởi lẽ những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện và để lại, thực sự là những điều có ích đối với nền dân trí xã hội, là sự vứt bỏ những lối sống của quá khứ hủ lậu, đã tồn tại cả ngàn năm trong sinh hoạt của người dân.

Những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm trong cuộc cách mạng văn hóa mà ông khơi mào, nó chỉ được xã hội cảm nhận và hàm ơn sau khi được thời gian thử thách. Chính vì thế, hầu hết những gương mặt gạo cội trong đời sống văn hóa tinh thần, và các chính khách ở Việt Nam ngày ấy, đều xót xa và nhận ra sự thiếu hụt quan trọng trong cuộc sống tinh thần của một xã hội khi không còn Nguyễn Văn Vĩnh.

Danh chính, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là một người bình thường, như chính ông đã từng khẳng định như một mệnh đề trên tờ nhật báo đầu tiên ở Việt Nam, tờ Trung Bắc Tân Văn, rằng: Tôi chỉ là người thường! Mệnh đề này được ông lặp đi lặp lại nhiều lần, trong nhiều bài viết và trên nhiều số báo.

Việc Nhà Cầm quyền đày ải ông Vĩnh sang Sê Pôn miền Nam nước Lào, với luận điệu ông đi tìm vàng để trả nợ … Nhưng không ai biết vì sao Nguyễn Văn Vĩnh bị xiết nợ? Và cụ thể, ông đã vay bao nhiêu tiền? Ông vay để làm gì? Hợp đồng vay trong bao lâu? Có vi phạm luật tài chính không? Và đã đến thời hạn trả nợ chưa?

Việc đi tìm vàng, hay đi đào vàng, hay đi kết nối với những cơ sở khai thác vàng ở Lào để viết phóng sự của một kẻ ‘phá sản’, không danh vị chức quyền, không dòng tộc trâm anh, không phải thành viên của tầng lớp cành vàng lá ngọc trong xã hội… Vậy tại sao lại có thợ chụp ảnh ‘bám’ theo?

Một bức ảnh hiếm hoi của Nguyễn Văn Vĩnh tại khu vực bản Ban Salouang, nơi có cơ sở khai thác vàng của người dân địa phương.

Đành rằng, Nguyễn Văn Vĩnh đơn thuần chỉ là một nhà làm báo, những vị trí ông từng có chân trong hệ thống chính trị xã hội, như hội viên hội đồng thành phố Hà Nội (thập niên 10 và 20), thành viên Phòng Tư vấn Bắc kỳ (thập niên 20), thành viên Hội đồng Kinh tế Đông Dương cuối thập niên 20 đầu 30) đều không phải là những cơ quan hành pháp hay cơ quan quyền lực của hệ thống chính trị. Nhưng vì sao, lý do nào, thi thể của ông được ưu ái đóng bằng quan tài kẽm chở từ Sê Pôn về Hà Nội?

Ngày 8/5/1936, lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh được cử hành trang trọng tại số nhà 107 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội trong suốt hai ngày và một đêm với sự kính viếng và đưa tiễn của hàng vạn người dân Thủ đô.

Tại đám tang, người ta thấy không thiếu một nhân vật trọng yếu nào của bộ máy cai trị ở Hà Nội như: Phó Toàn quyền Đông Dương Châtel, Thống sứ Tholance, Khâm sứ Tissot, Đốc lý Hà Nội Virgitti, rồi Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Thượng thư Hồ Đắc Đàm, Giáo hội Phật giáo Bùi Kỷ, Phạm Huy Lục Viện Dân biểu Bắc kỳ….

Kể ra, sự trang trọng với một người quá cố là thật quý, thật ý nghĩa, xong giá như người ta (cả hôm nay) khi lòng quý trọng và yêu mến kẻ xấu số nếu là có thật, sao  không ngăn chặn việc đẩy nhau đến chỗ thân tàn ma dại, và rơi vào cảnh khuynh gia bại sản? Đến lúc thân xác đặt trong nhà tang lễ, những người liên quan lại tỏ ra ‘chu đáo’ đến vậy?!

Nghi lễ bên linh cữu Nguyễn Văn Vĩnh trong tòa nhà số 107 rue Gambetta (nay là Trần Hưng Đạo), tổ chức ngày 8/5/1936 tại Hà Nội.

Nỗi đau của nhân gian.

“Ông Vĩnh ơi, trước đây một tháng, ông còn là người bạn rất thân thiết của đồng bào, một người dân rất trung thành của Tổ quốc, nay ngờ đâu, nghìn năm rồi. Thân thế ông, sự nghiệp ông sẽ kể rõ trên các báo chương, ghi chép trong tập quốc sử, những lời tự thuật và tán dương của tôi có lẽ chả thấm vào đâu.

Song cái tin ông mất như tiếng sét bất thình lình, đã làm chấn động cả một nước, bất cứ phái nào, đều phải ngậm ngùi ngơ ngác, coi như là đã vắng mất một người có quan hệ đến tình thế xứ này…”

Trích điếu văn của Bùi Kỷ – Đại diện Hội Phật giáo Bắc kỳ.

“Than ôi, cuộc đời dâu bể, tạo hóa tiểu nhi! Một cái thân thế trong sạch, một đời tận tụy với việc bồi đắp văn hóa cho Tổ quốc đồng bào, dù kẻ ghét người yêu, kẻ thù người bạn, đều cũng phải công nhận là một bậc vĩ nhân đã giúp nhiều việc có ích cho giang sơ Tổ quốc, là một bậc hào kiệt gắng sức phấn đấu với muôn ngàn nỗi khó khăn về thời thế, về hoàn cảnh, về nhân tâm đen tối, về xã hội suy đồi, chỉ có một lòng mong muốn cho người nước khôn, vận nước chuyển, thế nước có ngày mạnh, cảnh nước có ngày thuận, con Hồng cháu Lạc có ngày chen vai thích cánh với năm châu.

Thế mà trời xanh không để cho ông trường thọ lấy vài chục năm nữa để đem lịch duyệt lão thành ra dìu dắt đồng bào! Thật quốc dân Nam Việt ta từ gái chí trai, từ già chí trẻ, ai ai cũng phải lấy làm thương tiếc buồn rầu…”

Trích điếu văn Nguyễn Mạnh Bổng – Giáo Hội Phật giáo Bắc kỳ.

“Năm 1906, tiên sinh sang dự cuộc đấu xảo Marseille…giúp cho tiên sinh nhìn thấy tận nơi những cái đặc điểm của người giống trắng…Tiên sinh có định kiến từ đấy.

Một dân tộc thất học có đến 99% thì còn hi vọng ngóc đầu lên sao được, nếu phái trí thức không lo giáo dục cho bình dân là phần cốt yếu của dân tộc ấy. Nhưng thực hành là một chương trình giáo dục không phải là việc dễ, nhất là nước mình không có sẵn một thứ chữ riêng…

Tiên sinh không có cái ảo mộng làm cho hai mươi triệu đồng bào cùng thành nhà bác học… Thứ chữ ấy (Quốc ngữ), nếu Nguyễn tiên sinh không mang ra truyền bá thì không mấy người để ý đến và không đắc dụng như ta hiện thấy…”

Trích điếu văn của Phan Trần Chúc – Đại diện báo giới Bắc kỳ.

Các nhà báo đến chia buồn với cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh tại nhà số 7 phố Route du Village de Papier (Sau là số nhà 13 phố Thụy Khuê, Hà Nội).

 “Phải biết ông Vĩnh một người có tài học cao cường, chí khí lỗi lạc nhất ở nước ta ngày nay, chẳng riêng đồng bào, mà người tha bang ngoại khách cũng kính mến!”

Phan Khôi.

“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam gió thổi tung mây, gan óc dễ đâu vùi chính suối;

Có lưỡi như cồng, có bút như thép, trong làng báo mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu”.

Đông Tây Tuần báo.

“Đồng bào hai mươi triệu thơ ngây, chỉ lối đưa đường nào mấy kẻ;

Tổ quốc bốn nghìn năm cũ kỹ, tô son điểm phấn biết rày ai?”

Lê Thước.

Rút ruột tằm trả nợ non sông, nào Đồng văn, nào Đăng Cổ, nào Đông dương Tạp chí, nào Trung Bắc Tân văn, giấy trắng bao lần hoen máu đỏ;

Vững cột đá chống cơn sóng gió, khi ngoài Bắc, khi trong Nam, khi đấu xảo Mạc Xây, khi băng rừng Vạn tượng, lòng son rắp những vá trời xanh”

Mai Đăng Đệ.

“Mấy mươi năm xoay trở một trò đời, nào khi vào nghĩa đảng Đông kinh, lúc từ huy chương Bắc đẩu, khi hò hét Âu Tây tư tưởng, lúc giảng diễn Niên lịch thông thư, vang lừng giọng nói câu văn, nóng lạnh trái tim, đậy nắp quan tài chưa hẳn định;

Bao nhiêu bạn đi về cùng lớp trước, nay người đã Thượng thư Tổng đốc, kẻ còn Tân đảo Côn nôn, người ca tụng Pháp Việt đề huề, kẻ theo đuổi quân dân hiến pháp, rộn rịp đường ngang lối dọc, sang hèn cuộc thế, trông chừng dân nước vẫn đang say”.

Đoàn nhà báo mặc âu phục trong đám tang ông Nguyễn Văn Vĩnh

Á Nam Trần Tuấn Khải.

Bản Hán – Việt:

Khu sa tẩu thạch, báo giới đạo tiên hà, trấp niên uyển lực tung hoành, Âu hóa phong trào song quản bút;

Lịch tỉnh, môn sâm, bảo tàng siêu bí quật, nhất vãng hùng tâm khảng khái, Thục sơn lôi vũ ngũ đinh hồn.

Bản dịch sang tiếng Việt:

Vun cát dẹp đá, báo giới mở đường, hai chục năm dốc sức dọc ngang, Âu hóa phong trào đôi ngòi bút.

Dọn giếng phát cây, bảo tàng khai quật, cả một đời hùng tâm khảng khái, Thục sơn sấm động mấy anh hồn.

Huỳnh Thúc Kháng

Thưa các quý vị và các bạn!

Để tạm kết thúc phần nói về nỗi thương tiếc của xã hội Việt Nam trước sự ra đi mãi mãi của Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh, trong gần năm chục bài điếu gồm các thể loại, văn điếu, thơ điếu và liễn điếu gửi tới đám tang, Ban Tổ chức Lễ tang đã chọn ra sáu bài điếu để đọc trước linh cữu học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Riêng Phan Bội Châu, nhà cách mạng gạo cội hàng đầu Việt Nam, người duy nhất trong lịch sử văn đàn và truyền thông, người đã phải nhận sự chỉ trích công khai của Nguyễn Văn Vĩnh về khuynh hướng cách mạng, đã có cảm xúc ra sao trước sự ra đi vĩnh viễn của Nguyễn Văn Vĩnh, người từng ‘dám’ phê bình mình?!

Phan Bội Châu đã trân trọng gửi từ Huế ra đám tang Nguyễn Văn Vĩnh bằng cả hai thứ chữ viết là Quốc ngữ và Hán văn. Vậy vì sao cụ Phan phải dùng cả hai thứ chữ? Vì sao nội dung của hai phần có sự khác nhau, thay vì dịch từ nội dung thứ chữ này sang thứ chữ kia? Việc này xin dành cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa và chính trị có lời giải đáp, nếu họ để tâm.

Nhân đây, chúng tôi xin trân trọng chuyển lại một lần nữa, toàn văn bài điếu bằng hai thứ chữ của Phan Bội Châu.

“Ngày tôi mới về Huế, được gặp ông chủ báo Trung Bắc Tân Văn vào Huế thăm tôi cùng một xe hơi với tôi đi Cửa Thuận. Xe nhà ông, ông cầm lấy lái. Nhân duyên xa lạp chưa trải bao nhiêu mà đường lối Bắc Nam chốc thành vĩnh biệt. Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông:

1)Câu đối phần tiếng Việt:

– Duyên tương tri nhớ trước 10 năm, xe tự do chung lái, sóng biển vui tai mộng hồn há lẽ hững hờ, quang cảnh còn in mây Thuận Tấn;

– Tài bác học trỗi trong hai nước, đàn ngôn luận phất cờ, làng văn nở mặt, công nghiệp tuy còn lở dở, thanh âm từng dạt gió BaLê!”

2) Câu đối phần Hán – Việt:

– Vân hạc dục an chi, y ngô hữu châu tân não, kim khánh bất tằng huyền, khởi hữu như kim sơn, năng đoạt ngã tái nhân dĩ khứ;

– Hải đào do tạc dã, ức lão phu thập tải tiền duyên, xa thanh y cựu họa, hà đương tái xa lạp, đồng dữ nhi tạo hóa giả du.

Dịch sang tiếng Việt:

– Mây hạc sẽ về đâu, ôi bạn ta ngọc báu của năm châu, kim khánh chửa từng đeo, há có như núi vàng mà cướp người tài mang đi mất ;

– Sóng biển còn như cũ, nhớ lão phu duyên trước đã mười năm, tiếng xe còn chung vẳng, biết bao giờ gặp lại để cùng trẻ tạo cuộc rong chơi”.

Người dịch : Trần Thị Băng Thanh – PGS.TS Văn học Cổ (Bà đồ Nho).

Thưa các quý vị và các bạn!

Loạt bài viết về mối quan hệ Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu, phục vụ cho sự hiểu biết của hậu thế về một điều ‘tiếng xấu’, mà những người theo chủ thuyết Vô sản đã luôn nhấn mạnh và gán cho ông trong quá khứ, rằng vì sao không gọi Nguyễn Văn Vĩnh là Nhà yêu nước?!

Sự thật về con người, về sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh không phải chỉ ám ảnh các con cháu hậu duệ của ông, mà còn ám ảnh cả lịch sử của đất nước này, ám ảnh tất cả những ai có lương tri và lòng hướng thiện, cùng với sự biết ơn những dâng hiến của các bậc tiền nhân, một thuộc tính quý báu của các loài sinh vật trên trái đất.

Cầu cho vong linh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh mãi mãi linh thiêng và mát mẻ!

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Ghi chú:

  • Hồi ký Vũ Bằng – 40 năm nói láo. Xuất bản lần thứ nhất 1969 tại Sài Gòn.

Danh mục các bài trong chuyên mục MỐI QUAN HỆ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU:

2 Responses

  1. Cảm ơn Bình đã gửi cho những bài viết hay với nhiều tư liệu lịch sử quý báu
    Vân

  2. Cảm ơn Anh đã gửi cho tôi bài viết rất quý về Cụ NVV.
    Bài viết đã giúp tôi hiểu sâu hơn và thêm kính trọng ngưỡng mộ hơn tài năng, nhân cách của Cụ, vì trước đây tôi chỉ “kính nhi viễn chi”.
    Mong được đọc các bài viết hay khác của Anh.
    Trân trọng!

    VXQuế

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network