Phần 3C – NHÀ BÁO NGUYỄN VĂN  VĨNH, TỪ THỊ PHI ĐẾN NGỢI CA

Thưa các quý vị và các bạn!

Có một điều mà lịch sử luôn chứng minh, là sự thật có thể bị trì hoãn nhưng không thể bị chôn vùi…

Việc đưa những thông tin bị che dấu ra ánh sáng, không chỉ là một việc làm nhạy cảm, mà là điều kiện tiên quyết để khôi phục niềm tin của dân chúng!

Trân trọng!

NLB

Phần 3C – NHÀ BÁO NGUYỄN VĂN  VĨNH, TỪ THỊ PHI ĐẾN NGỢI CA

Phần 3A

Phần 3B

Nguyễn Văn Vĩnh trong con mắt người ngoài.

6/ Emil Vayrac, nhà văn, Trưởng phòng Xuất bản Báo chí bản xứ thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương thập niên 20 và 30 ở thế kỷ trước. Vai trò chính trị của E. Vayrac là thực sự đáng kể trong hệ thống cầm quyền của Chính phủ Thuộc địa, đồng thời cũng là gương mặt kiên nhẫn tồn tại nhiều năm ở Việt Nam, phản ánh mặt nào đó chính sách thuộc địa của Thực dân Pháp.

Vậy nhưng, việc tồn tại gần cả thế kỷ của người Pháp, cùng sự ‘hào phóng’ khi đổ công đổ của vào Đông Dương, phục vụ công cuộc kinh doanh thuộc địa, đã không những không đạt được kết quả như Toàn quyền Paul Dumer (nhiệm kỳ 1897-1902) dốc lòng mong muốn, mà còn dẫn đến kết cục cay đắng, ê chề vào năm 1954 với danh nghĩa kẻ thất bại.

Trong hằng hà sa số các nguyên nhân dẫn đến nỗi đau của người Pháp Thực dân khi hứng chịu thất bại ở Đông Dương (khác với chiến lược thuộc địa của người Anh), có một nguyên nhân sâu xa được hé lộ trong một văn bản do E. Vayrac thực hiện.

Ngày 17/2/1937, E. Vayrac gửi Phủ Toàn quyền một bản báo cáo dài, tổng hợp, đánh giá các hoạt động của người Pháp ở Bắc kỳ trong lĩnh vực văn hóa và xuất bản, giai đoạn từ 1912 đến 1937 (25 năm). Ngay ở phần đầu của báo cáo, E. Vayrac đã viết khá dài nói riêng về NVV, xin được trích dẫn (người dịch Nguyễn Như Phong):

“…Ngay từ đầu, tôi đã may mắn được kết bạn với một số người An Nam nổi tiếng, đặc biệt là ông NGUYỀN VĂN VĨNH, nhà văn An Nam vĩ đại nhất ở thời đại chúng ta. Chính ông ấy đã dần dần giúp tôi nhận ra được cái vực sâu ngăn cách giữa chúng ta với quần chúng An Nam. Và chúng tôi đã tự hỏi, bằng cách nào chúng ta có thể vượt qua sự thiếu hiểu biết một cách toàn diện này…?”

 “…Dès le début, j’eus la chance de me lier d’amitié avec quelques Anamites éminents, notamment avec M. NGUYEN VAN VINH, le plus grand écrivain annamite de notre époque. C’est lui qui me fit mesurer peu à peu l’abîme qui sépare de nous la masse anamite. Et nous nous demandions par quels moyens nous parviendrons à entamer cette totale incompréhension….”

Chứng kiến những gì NVV đã làm, E. Vayrac đã không dấu được sự mang ơn NVV, là người đã khai mở cho ông ta và những người Pháp đến Đông Dương, về sự hiểu biết thế nào là bản sắc văn hóa của một dân tộc vốn trong tiềm thức họ từng coi là nhược tiểu? Khi hiểu ra, E. Vayrac đã ngỡ ngàng trước vẻ đẹp văn hóa, thứ  đã giúp người An Nam trở nên kiên cường và không dễ bị khuất phục:

“Nếu tôi hiểu được phần nào về xã hội của người bản xứ, nếu tôi thưởng thức được một ít văn chương dân gian tuyệt diệu của người An Nam, thì chính là nhờ vào người bạn thương tiếc này…!”

NVV đã ‘vô tình’ thành công khi đẩy E. Vayrac đến mức phải thú nhận một cách trần trụi sự yếu kém, sự trống rỗng trong hiểu biết của kẻ cai trị, trước hồn cốt của một dân tộc bị trị, tạo thành một trong những nguyên nhân dần làm cho chính sách thuộc địa trở nên bế tắc, cùng những sai lầm của những kẻ hay áp đặt do mang lối tư duy ‘thượng đẳng’ trước kẻ yếu.

Trong suốt cuộc đời lao động trí não, NVV đã thường xuyên đề cập đến mặt trái này của Chính quyền Thực dân thông qua các bài viết bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt, vừa mang tính tham vấn, vừa là sự phê phán ở từng giai đoạn lịch sử. Nhưng cuối cùng, do tính bảo thủ và xảo quyệt của một Đế quốc già, khi trở nên bất lực, họ đã giận dữ, ghét bỏ NVV đến mức quyết tâm hạ gục một kẻ trung thực.

E. Vayrac ngạc nhiên, khi hiểu quá trình phát triển tư duy, tư tưởng của NVV, dù rất biết đó chỉ là một ‘người nhà quê An Nam’, nhưng đã mang trong mình ảnh hưởng đậm nét văn hóa tiến bộ Pháp.

E. Vayrac thầm phục NVV và rằng, đó là mẫu người giàu năng lực, giàu khát vọng, kẻ đã tìm cách để ‘gạn đục khơi trong’, thay đổi nhân sinh quan của những người đồng bào không biết chữ của ông, dẫn họ đi tìm đến một cuộc đời khác, cuộc đời của những kẻ phải có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc.

Quan trọng nữa, E. Vayrac đã giúp đời sau biết rằng, NVV là người đã dịch sang chữ Quốc ngữ tác phẩm triết học chính trị kinh điển của nhân loại, về thế nào là chủ quyền của nhân dân dựa trên những nguyên tắc về tự do và bình đẳng, cuốn “Khế ước xã hội” của J.J. Russeau, bằng chứng cho việc chuẩn bị tư tưởng cho các cuộc cách mạng của NVV.

Sự thật này hậu thế đã không hề biết, kể cả với tầng lớp được mệnh danh là các ‘Nhà khoa học’. Họ thậm chí từng hiểu sai đến mức cho rằng, tác phẩm này chỉ xuất hiện bằng tiếng Việt khi VN đã là một quốc gia hiện đại! E. Vayrac báo cáo:

“Lúc đó ông Vĩnh chưa hoàn toàn tin tưởng vào Chính phủ. Ông đã đứng một phần nào về phía phản đối. Ông đã dịch những sách triết học Pháp, những sách chuẩn bị cho các cuộc cách mạng. Tôi đã đếm được ông đã dịch sáu hay bẩy quyển “Khế ước xã hội”, bản thân ông cũng không giấu tôi là đã dịch những cuốn sách đó. Nhưng ông không bao giờ thú nhận là ông đã mất rất nhiều công sức để làm cho đồng bào của ông biết về nó”.

Vậy E. Vayrac có phải là người đã xác nhận, sự nghiệp văn hóa của NVV ngay từ khi ông còn rất trẻ, đã bộc lộ sự giác ngộ nhờ đọc hiểu các luận thuyết chính trị tinh hoa của các bậc khai phóng phương Tây?

Nhưng có điều thật ngang trái, vì nhờ đọc hiểu, NVV đã phát hiện ra sự khác biệt giữa các học thuyết về dân chủ và tự do trước thực trạng của Chủ nghĩa Thực dân, điều làm cho ông trăn trở và trở thành một trong những nguyên nhân, đưa NVV rơi vào vòng xoáy mâu thuẫn với Chính phủ Thuộc địa cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Nhìn từ góc biện chứng, người ta thấy đây chính là bản năng của một kẻ sinh ra trong bóng tối của sự lạc hậu, nên luôn hướng đến ánh sáng của sự tự do, bình đẳng… NVV như một cái cây non thiếu nắng, luôn tìm cách để hướng về phía mặt Trời, và điều đó chỉ có thể là lòng hướng thiện của những kẻ cấp tiến!

Hóa ra từ cái ngày xưa ấy, khi xã hội còn trong cơn hỗn mang, NVV đã dám toan tính việc tạo dựng một nền tảng kiến thức cơ bản dành cho đồng bào mình, dù vào thời điểm đó, ông đã vô tình quên rằng, họ có tới hơn 90% là nông dân, với một cuộc sống nghèo nàn và lạc hậu, không có cả chữ viết phổ thông, thì khả năng đâu để đọc, để hiểu và hấp thụ những điều ông muốn truyền bá?

Có thể ngày ấy, vì E. Vayrac là kẻ có tư duy khoa học, nhờ hiểu được giá trị những gì NVV đã làm, nên thán phục đến mức, trong bản báo cáo, ông ta đã nói thẳng ý muốn, sẽ xuất bản một cuốn tạp chí lấy tên là “Vòng nguyệt quế của nước Pháp”, tổng hợp tất cả những di cảo của NVV để lại.

Ý nguyện này của E. Vayrac đủ để chúng ta nhận thấy, NVV là ai trong lịch sử thuộc địa của xứ Đông Dương?!

NVV chẳng phải là triết gia, cũng không phải là kẻ sẵn danh vị, phẩm hàm do hệ thống cầm quyền xưng tụng, nhưng là người VN đầu tiên, đã lĩnh hội cái sứ mạng lịch sử trong việc đốt lên những ngọn lửa cách mạng về tư tưởng, để thiêu cháy cái bóng đêm mịt mù do Phong kiến và Thực dân tạo ra.

NVV tham vọng, sẽ làm thay đổi tận gốc lối sống phong kiến, với tư duy tiểu nông, thứ lực cản vô hình trên con đường tiến hóa của một dân tộc. Có phải, NVV là kẻ đã ‘vô tình’ can dự vào cuộc cách mạng thoát Á, một khuynh hướng mà những kẻ từng nuôi ý đồ thôn tính đất nước này rất căm ghét. Không rõ, rằng có phải NVV đã muốn noi theo gương của Minh Trị Thiên Hoàng ở nước Nhật cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 không nữa?!

NVV tin rằng, làm người nhất thiết phải có tri thức, mà tri thức chỉ có thể tìm thấy ở con chữ, và để học được nó, người ta chỉ có thể thông qua sách vở, trước tác của các bậc thánh hiền, và NVV đã lao vào con đường đó từ khi mới 18 tuổi.

Cảm ơn ngài Emil Vayrac đã giúp chúng ta hiểu thêm, hiểu rõ về NVV.

7/ Christopher Goscha sinh năm 1965 tại Bang Kansas – Hoa Kỳ, là giáo sư ngành quan hệ quốc tế của Đại học Québec ở Montréal – Canada. Ông là chuyên gia về Việt Nam và Đông Dương Thuộc địa.

Ông đã xuất bản nhiều sách cùng các bài viết có tiếng vang trên trường quốc tế về Chủ nghĩa Quốc gia Việt Nam, Chủ nghĩa Thuộc địa Pháp ở Đông Dương và Chiến tranh Đông Dương, trong đó bao gồm “Vietnam: Un État né de la guerre” – Việt Nam: Một Nhà nước sinh ra từ chiến tranh (NXB Armand Collins 2011), “Indochine ou Vietnam?” – Đông Dương hay Việt Nam? (NXB Vendémiaire 2015) và “The Penguin History of Modern Vietnam” – Lịch sử một Việt Nam hiện đại (NXB Penguin/Random House 2016)…

Năm 1987, C. Goscha nhận bằng cử nhân tại Trường Ngoại giao – Đại học Georgetown – Washington DC, Hoa Kỳ. Năm 1992, ông lấy bằng thạc sĩ về Lịch sử Đông Nam Á tại Canberra – Úc.

Trong quá trình nghiên cứu, sưu tập tư liệu để bảo vệ bằng thạc sĩ thứ hai ở Đại học Paris VII năm 1994 tại Pháp, ông đã tiếp cận với nhiều thư mục lưu trữ về Đông Dương, nhờ vậy, ông phát hiện ra một người VN, là dịch giả, nhà báo mang tên Nguyễn Văn Vĩnh. Sự khám phá này đã mang đến cho C. Goscha ấn tượng mạnh do ngạc nhiên, trước những gì liên quan tới ‘Người Man di – NVV’ (Cách NVV tự nhận mình trên báo tiếng Pháp xuất bản ở HN năm 1932).

Để ghi lại dấu ấn này, C. Goscha đã viết một tiểu luận bằng tiếng Pháp “Le barbare moderne – Nguyen Van Vinh et la complexité de la modernisation coloniale au Vietnam” (Người Man di hiện đại – Nguyễn Văn Vinh và tính phức tạp của quá trình hiện đại hóa thuộc địa ở Việt Nam),đăng trên RFHOM, T.88, số 332-333 (2001).

Ngay trong phần đầu của bài viết, C. Goscha đã không dấu sự hoài nghi về vai trò lịch sử của NVV, vì điều đó liệu có trái với nhân tâm thời đại? Ông nhấn mạnh:

“…Nhưng nếu Nguyễn Văn Vĩnh là một khuôn mặt xuất sắc của giới văn hóa giữa hai cuộc chiến, thì điều đáng được lưu ý là ông bị giới sử học hiện tại bỏ qua! Đối với sử học Nhà nước Cộng sản sau năm 1954, cuộc đời ông tất nhiên đặt ra những vấn đề gai góc…”.

Bị NVV cuốn hút, C. Goscha đã nghiền ngẫm một cách thận trọng, ông nhìn rõ sự liên hệ trong tư tưởng của cuộc Cách mạng Duy tân đầu thế kỷ XX, mà NVV và Phan Châu Trinh là những hạt nhân quan trọng, để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử VN và C. Goscha đã đánh giá ghê gớm về NVV thế này:

“…Khả dĩ để cứu được Việt Nam thoát khỏi mối hiểm họa Thực dân, Phan Châu Trinh đã phát đi chính xác những tư tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh vẫn mong được nghe thấy. Nhưng, trong bản tuyên ngôn mà ông sẽ giới thiệu sau đó trên tờ báo Nước Nam Mới – “L’Annam Nuoveau” năm 1931, NVV còn đẩy các tư tưởng của Phan Châu Trinh đi xa hơn rất nhiều…”.

C. Goscha nhìn thấy rõ dụng ý to lớn của NVV trong việc tạo dựng một nền văn hóa mới (sau gọi là nền giáo dục hiện đại) thay thế nền giáo dục cổ hủ do chế độ phong kiến đã duy trì cả ngàn năm, bằng việc tích cực phổ cập một loại chữ viết dễ tiếp thu đối với người nghèo.

“… Chúng ta hãy bằng lòng để nói rằng, ông Vĩnh viết rất nhiều cả bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng Pháp về sự cần thiết phải thống nhất và hệ thống hóa chính tả, cũng như ngữ pháp tiếng Việt để gia tăng tính hiệu quả và nâng cao tính công dụng của nó. Ông đã xúc tiến và cổ vũ cho việc chuẩn hóa tiếng Việt trong các nhà trường để việc tiếp thu được dễ dàng hơn.

… Những suy nghĩ rất hấp dẫn của ông về chữ Quốc ngữ, về chức năng của ngôn ngữ học… khiến cho tờ báo“L’Annam Nouveau” trở thành một thứ phương tiện hàn lâm Việt Nam để suy nghĩ về sự tiến hóa của ngôn ngữ dân tộc”.

Đánh giá động cơ dịch thuật các tác phẩm văn học kinh điển từ Pháp văn ra Việt ngữ của NVV, C. Goscha nhận ra, NVV đã mượn sự tiến bộ trong tư tưởng của văn học phương Tây, tác động lên nhận thức của một cộng đồng dân cư vốn là nông dân thuần túy từ ngàn đời, và C. Goscha xác định:

“…Nhiều người trong số họ đã ca ngợi sự thành công của Nguyễn Văn Vĩnh khi ông cải biên hoặc chuyển đổi những nhân vật trong sách, kể cả cách suy nghĩ của nhân vật thành những sự tương đồng trong văn hóa Việt Nam. Nếu như vậy, thì đây không phải là một thành tựu nhỏ về văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh…”

C. Goscha tiếp tục lập luận:

“…Việc ông dịch cuốn “Những người khốn khổ” của Victor Hugo, còn thể hiện một mối quan tâm xã hội khác của một con người đã tìm thấy chính mình ở những bài viết có chuyên đề về làng xã và về những thực trạng nghèo khổ đang ngự trị ở đó”.

… Đương nhiên, khi chú tâm dịch các tác phẩm từ tiếng Pháp đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã đóng góp tích cực để phát triển một nền văn học thuần Việt”.

C. Goscha đã nhắc lại với người Pháp về một quá khứ khiếm khuyết của họ, khi ông nhận ra tầm tư duy văn hóa của NVV, không chỉ thể hiện lòng khao khát nâng cao dân trí cho đồng bào của mình, mà còn cho chính kẻ đang tìm cách cai trị và thôn tính một dân tộc mà họ chưa bao giờ hiểu được:

“…Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ giới hạn trong việc dịch thuật các tác phẩm từ Pháp ngữ. Ông không phải là người có chủ trương “đồng hóa”. Từ năm 1909, cùng với Phan Kế Bính, ông đã cho xuất bản toàn bộ bản dịch bộ tiểu thuyết dã sử cổ điển Trung Hoa “Tam Quốc chí diễn nghĩa” bằng chữ Quốc ngữ.

Ông cũng dịch tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du “Kim Vân Kiều” vốn có bản gốc là chữ Nôm. Nguyễn Văn Vĩnh đã thường xuyên xem đi xem lại và không ngừng hoàn thiện bản dịch này từ năm này qua năm khác. Năm 1923, tác phẩm này đã được in lại đến lần thứ bẩy với số lượng phát hành là 30.000 bản.

…Rất ít trí thức Việt Nam như ông, được giáo dục theo kiểu phương Tây,  có nguồn gốc xã hội như ông, mà lại hiểu được thực tế như Nguyễn Văn Vĩnh trước các vấn đề về người nông dân”.

C. Goscha còn hiểu, vì sao tầng lớp chức sắc Phong kiến VN dị ứng trước một NVV duy tân, kẻ không khoan nhượng với sự ‘đồng lõa’ của người Pháp Thực dân trong đường lối cai trị, và ông nhận xét:

“… Giới quan lại được đặc biệt bị công kích dữ dội trong các bài báo của ông Vĩnh; ông thấy họ bóc lột nông dân mà không bị ai lên án và được người Pháp khoan hòa, che chắn. Nguyễn Văn Vĩnh lên án thực tế đó bằng một ngòi bút thép, đặc biệt trên tờ báo Nước Nam Mới “L’Annam Nouveau”.

… Ông Vĩnh đã chuyên tâm tìm kiếm các giải pháp hiện đại cho những bài toán mà chính tổ tiên của ông để lại”.

C. Goscha nhìn thấy bằng chứng, về thái độ chính trị của NVV trước xã hội phong kiến VN một cách cụ thể như thế này:

“… Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh, là trong suốt cuộc đời, ông đã sử dụng báo chí hiện đại làm phương tiện nhằm cảnh báo công luận về những bất công ở thôn quê và sự cổ hủ của một số thiết chế ở Việt Nam”.

Xét về quan điểm chính trị của NVV, vấn đề này nhạy cảm đến mức, đã tạo thành một trong những nguyên nhân sâu sắc, để các thể chế chính trị trong lịch sử VN cố tình né tránh việc bàn về NVV, C. Goscha nhận định:

“…Bị thôi thúc trước những quan điểm chính trị-xã hội của học thuyết Đác-uyn (Darwin), Nguyễn Văn Vĩnh coi sự phục hưng, đổi mới của Việt Nam phải được thực hiện bằng việc thích nghi một cách thận trọng với sự hiện đại hóa kiểu phương Tây, qua con đường thuộc địa Pháp.

… Nguyễn Văn Vĩnh tin rằng, từ sự va chạm mãnh liệt với một phương Tây Thực dân, đất nước ông sẽ biết cách tìm ra được nghị lực và sự phân biệt đủ thuyết phục, để rũ bỏ những cái mà theo ông là vấn nạn xã hội, những thói tục và những tập quán của nó, vốn thuộc một thời đại khác để lại. Cách tiếp cận rất phương Tây của ông, đã đặt lên hàng đầu tư tưởng rằng: Nước Việt Nam có thể, một khi cải cách, sẽ đạt được một cấp độ văn hóa ngang với cấp độ của nước đô hộ mình.

… Một lần nữa, ta thấy Nguyễn Văn Vĩnh thuộc lớp người dám dấn thân vào trào lưu khuyến khích cải cách văn hóa vượt khỏi giới hạn một nước “Việt Nam” hay của một “Đông Dương thuộc Pháp”.

C. Goscha sống ở một nơi cách xa đất nước VN hàng vạn cây số, xuất thân của ông chẳng liên quan gì đến dòng giống người Việt, nhưng những nghiên cứu của ông về NVV, đã thể hiện sự xuyên thấu những gì đã tạo ra một Việt Nam đau thương do bị giằng xé bởi quá nhiều thế lực, cùng những mâu thuẫn sâu sắc giữa các trào lưu tư tưởng của thời đại.

Phần kết thúc bài tiểu luận của mình, để xác định NVV là ai? Để ngợi ca hay phê phán NVV, C. Goscha đã nhặt ra một câu nói của NVV khi trao đổi với nhà cách mạng nổi tiếng Huỳnh Thúc Kháng một cách công khai, trên tờ báo tiếng Pháp phát hành ở HN năm 1932 như thế này:

“Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới.

Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng… chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”

(Người dịch thứ nhất: Đào Hùng-1932-2013. Người dịch thứ hai: Tôn Nữ Thị Ninh)

Nhìn ở bất cứ góc quan sát nào, chúng tôi cũng thật sự cảm kích tính khách quan của giáo sư C. Goscha, người đã giúp cho những ai quan tâm, và những người đứng trong đội ngũ có trách nhiệm ghi chép lịch sử của đất nước này có thêm những góc hiểu biết kinh điển về NVV!

8/ Abdou DIOUF, sinh năm 1935, nguyên là Thủ tướng nước Cộng hòa Senegal (1970-1980), Tổng thống Senegal (1981-2000), Tổng Thư ký Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ OIF (Organisation Internationale de la Francophonie) ba nhiệm kỳ (2003-2014).

Ngài Abdou DIOUF đến thăm VN năm 2014, theo lời mời của Bộ Ngoại giao VN.

Năm 2008, nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Pháp ngữ 20/3 hàng năm, Các Viện Đại học thành phố Montpellier – Cộng hòa Pháp, kết hợp với Tổ chức AD@LY do bà Anna Owhadi Richardson làm Chủ tịch, đã tổ chức buổi giao lưu văn hóa với chủ đề: “Truyện ngụ ngôn của La Fontaine: Một bước đệm cho đối thoại liên văn hóa” (Le fable de la Fontaine un tremplin pour le dialogue interclturel).

Để chứng minh tính sinh động trong mối quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Pháp, Ban Tổ chức (BTC) đã báo cáo, xin ý kiến và mời ngài A. Diouf  tham dự.

Đáng tiếc, do điều kiện và hoàn cảnh công việc, ngài Tổng Thư ký A. Diouf đã không thể có mặt. Tuy nhiên, sau khi nắm bắt nội dung của buổi giao lưu, ngài A. Diouf đã viết thư chào mừng gửi tới BTC của buổi lễ, trong thư có đoạn nói về NVV như sau: (Người dịch Nguyễn Như Phong)

“Cách đây vài tuần, cộng đồng quốc tế kỷ niệm ‘Ngày Quốc tế các ngôn ngữ mẹ đẻ’, trước ngày diễn ra một buổi lễ kỷ niệm khác – Ngày Quốc tế Pháp ngữ. Tôi được hân hạnh chào mừng công trình của Nguyễn Văn Vĩnh, người đã, bằng việc dịch ra tiếng Việt các tác phẩm thơ ngụ ngôn của La Phontaine, đặt chiếc cầu nối giữa tiếng bản xứ và ngôn ngữ du nhập, giữa tiếng Pháp và tiếng Việt.

Và thật là may mắn khi, để kết giao tinh thần của hai thứ tiếng, Nguyễn Văn Vĩnh, chiến sỹ trên mặt trận trao đổi kiến thức, đã chọn những tác phẩm mà qua nhiều thế kỷ vẫn giữ nguyên được tính đại chúng…”

Cảm phục và trân trọng những việc làm của NVV trong giao lưu văn hóa Việt-Pháp, hiểu rõ những giá trị cao quý và những nỗ lực của các nhân sỹ có tấm lòng đối với nền giáo dục đạo đức của nhân loại, ngài A. Diouf đã kết luận như sau về NVV:

“Không có gì đáng ngạc nhiên khi từ bao lâu nay, chúng ta đã biết, rằng Nguyễn Văn Vĩnh giữ vị trí quan trọng trong việc truyền bá văn hoá Pháp tại Việt Nam. Bằng công trình xuất sắc dịch các tác phẩm của các thiên tài Pháp, ông đã giúp nhiều thế hệ người VN tiếp xúc với tiếng Pháp, thứ tiếng mà, như một trong các ông tổ đã sáng lập ra cho rằng, nó mang tính nhân văn trọn vẹn và được dệt vòng quanh trái đất”. 

Vậy là, nói về sự thật, đúng như triết gia người Mỹ Ralph Waldo Emerson (1803-1882) đã đúc kết:

“Sự thật không thuộc sở hữu của cá nhân nào mà là báu vật của cả loài người”.

Truth is the property of no individual but is the treasure of all men.

Kết luận cho phần Ba:

Năm 2025, chúng tôi vô tình được cộng đồng mạng cho biết: Trong hệ thống sách giáo khoa phổ thông về văn hóa lịch sử đang lưu hành ở nước Úc (Australia) dành cho học sinh THPT, ở mục giao bài tập cho các học sinh (task), liên quan đến những nhân vật là người VN, người ta thấy nêu tám cái tên gồm: Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Ngọc Hân, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh và Bùi Xuân Phái, với gợi ý:

“…Em sẽ thuyết trình về một nhân vật lịch sử có những phẩm chất đáng khâm phục. Những hình ảnh dưới đây sẽ giúp em một số ý tưởng…

Để làm bài nói này, trước tiên em hãy tìm thông tin trên mạng về một nhân vật anh hùng ở Việt Nam. Em phải chuẩn bị bản thảo (script) để giới thiệu về nhân vật này. Tập nói qua nhiều lần trước khi trình bày với giáo viên của em!”

Hết phần Ba trong loạt bài VÌ SAO.

Nguyễn Lân Bình

One Response

  1. Phần 3 chủ yếu dành cho học giả người nước ngoài nghiên cứu và đánh giá công lao của Nguyễn văn Vĩnh trong việc nâng cao dân trí cho dân Việt Nam . Đó là đánh giá rất quý và khách quan . Nếu có phần phản hồi của giới nghiên cứu người Việt trong và ngoài nước càng khách quan và độc giả Việt càng trân trọng hơn . Tôi nghĩ vậy . Cảm ơn anh Bình đã chia sẻ .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network