Nhà văn Nguyên Ngọc: Tây Nguyên – “Quá chút nữa thì không còn cưỡng lại nổi” P2

Sau khi chúng tôi giới thiệu phần 1 bài phỏng vấn Nhà văn Nguyên Ngọc của tác giả Hồng Anh, chúng tôi băn khoăn nếu không giới thiệu phần tiếp theo, vì như thế, chúng tôi đã làm khó cho một số bạn đọc với câu hỏi: “Vì sao ông Nguyên Ngọc là người đã rứt ruột, ‘ráo riết’ kiến nghị Nhà nước phải bảo vệ. giữ gìn Tây Nguyên? Vì sao ông đã vật nài, thuyết phục Bộ máy Lãnh đạo Nhà nước Việt Nam đừng chỉ vì lợi ích kinh tế mà làm hỏng Tây Nguyên khi triển khai việc khai thác Boxit..?”.

Phần 2 bài phỏng vấn được chúng tôi chia làm hai đoạn để thuận lợi cho người đọc, mong các quý vị và các bạn cùng chia sẻ.

Nhà văn Nguyên Ngọc và cô Nguyễn Hồng Anh, giảng viên ĐHSP TP HCM, người phỏng vấn – Hội An, tháng 3/2023

N.H.A: Ông có thể kể sơ lược sự gặp gỡ ban đầu giữa Tây Nguyên và cuộc kháng chiến?

Trả lời: Như đã nói, ngày 23/9/1945, chỉ một tháng sau Cách mạng tháng Tám, Pháp đã quay lại chiếm Sài Gòn, nhưng khi đánh rộng ra đến Đèo Cả thì không đủ sức đi tiếp nữa. Giữa vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ còn lại với Tây Nguyên, họ chọn dồn sức lên chiếm Tây Nguyên vì đây là vùng đất cao khống chế. Các nhà quân sự đều nói ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Nam Đông Dương. Cũng vậy năm 1975 chính quyền Sài Gòn bỏ Tây Nguyên, lập tức tất cả sụp đổ. Cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm ở Liên khu 5 về cơ bản là cuộc giành giật khó nhọc và kéo dài giữa ta và đối phương vùng cao nguyên chiến lược này, tuy những năm đầu mặt trận ở đây trông chừng không mấy ồn ào.

Người Tây Nguyên quen sống tự do, không muốn chịu sự thống trị áp bức nào, nên hồi đầu thế kỷ XX khi người Pháp đến chiếm, đã vấp ngay nhiều cuộc nổi dậy chống lại, một số cuộc lớn như khởi nghĩa của Nơ Trang Lơn ở vùng Đak Nông ngày nay, hay phong trào Nước Xu ở Bắc Tây Nguyên mà ông Núp hồi trẻ có tham gia…

Người Tây Nguyên không ưa sự thống trị của Pháp, nhưng cũng không thích người Kinh, do một số thương lái lên buôn bán lừa đảo. Người Pháp lại kích thêm vào mối chia rẽ này, họ bày ra cái gọi là “chính sách muối” (politique du sel), nộp một cái đầu Việt Minh thì được Pháp đổi cho ba bát muối. Trong rừng, vị gì, chua đắng ngọt bùi đều đủ, chỉ vị mặn là tuyệt đối không. Ở đây hạt muối là hạt vàng. Người ta đành đốt rễ tranh lấy tro mà ăn để có một chút vị chát.

Muốn giành lại vùng cao nguyên chiến lược này thì phải nắm được dân, bằng công việc kiên trì gọi là “gây cơ sở”. Muốn gây cơ sở, cụ thể là rỉ rả nói chuyện với người ta để mà tuyên truyền, thuyết phục, thì điều kiện đầu tiên là phải gặp được nhau. Hóa ra khó nhất là “gặp”. Mình đi đông thì họ chạy mất, đi ít thì họ bắt, cắt đầu đổi muối Tây!

Gây cơ sở thì không thể dùng bộ đội chủ lực, hoạt động ở Tây Nguyên bấy giờ chủ yếu là các đội vũ trang tuyên truyền. Tôi có một người quen, tên là Nguyễn Huy Chương, từng là đội trưởng vũ trang tuyên truyền ở Đak Lak thời ấy, về sau làm đến Chính ủy Sư đoàn, rồi Phó Chính ủy Quân khu.

Anh kể hồi bấy giờ tính mãi không biết làm sao gặp cho được dân. Cuối cùng nghĩ ra một kế: Bí mật rình ở bìa rẫy, buổi chiều sẫm, khi những người lao động chính đã về hết rồi, chỉ còn một bà già nán lại nhặt củi rơi để tối về sưởi, đêm Tây Nguyên vốn rất lạnh; bèn xông ra kéo bà già ấy vào rừng, dọa ngay không được la hét, la lên thì tôi bắn!

Bà già thì hoảng loạn, mình thì ú ớ tiếng Ê Đê, đã nói được gì đâu. Giữ lại lâu thì lộ, phải thả về, dặn về tuyệt đối không được nói lại với ai, và chiều ngày sau ra lại đây gặp tôi, sai thì tôi vào làng bắn chết… Liều thế, rồi phập phồng kéo dài hàng tháng…

Cho đến một hôm, bà cụ đã bình tĩnh và khá quen, bỗng hỏi: “Con ở ngoài rừng thế này, ăn gì mà sống được?”. Lần sau bà mẹ ra (anh đã gọi bà bằng Mí = Mẹ) còn cầm theo một nắm cơm. Nắm cơm đầu tiên của một người mẹ Ê Đê mang vào rừng cho một người con là lính Việt Minh. Một bước lớn và quyết định đã được vượt qua…

Rồi lần khác, hàng mấy tháng sau, theo lời dặn dò rất cẩn thận của Chương, mẹ còn dẫn ra thêm một bà già khác mà mẹ tin cậy nhất trong làng… Cứ thế, tổ phụ nữ kháng chiến đầu tiên ra đời. Bao giờ đầu tiên cũng là các bà mẹ… Tổ phụ nữ thứ hai, trẻ và xông xáo hơn. Rồi tổ thanh niên và du kích.

Đến lúc này Huy Chương và đồng đội đã có thể vào làng, thoạt tiên ban đêm, nhiều đêm, rồi ban ngày… Quân Pháp đánh hơi, nhưng chúng mò vào làng đã khó. Vì người Ê Đê đã bắt đầu cắm chông, bảo để chống thú rừng, thực tế chống Tây đi lùng… Cho đến khi du kích công khai chống càn…

Bao nhiêu lâu cái công việc rị mọ ấy? Giỏi nhất sáu tháng, thông thường một năm. Hồi bấy giờ Đak Lak có một trung đoàn gọi là Trung đoàn 84, phương thức hoạt động với danh nghĩa là Đại đội độc lập, Tiểu đoàn tập trung, nhưng thực tế chỉ có một đại đội độc lập gọi là Đại đội 17, thường đứng ở vùng M’Lá, Cà Lúi cách ranh giới Phú Yên không xa, làm chỗ dựa cho hàng chục đội vũ trang tuyên truyền tiến thoái lúc thuận lợi hay khó khăn…

N.H.A: Ông đến với Tây Nguyên từ năm nào?

Trả lời: Tôi lên Tây Nguyên lần đầu vào cuối năm 1950, như thế là rất muộn đối với Tây Nguyên, khi các đội vũ trang tuyên truyền đã tiến được khá sâu vào nội địa. Tôi đi cùng Tiểu đoàn 39 thuộc Trung đoàn chủ lực 108, được điều từ Quảng Nam vào Phú Yên để áp tải dân công đưa gạo lên Đak Lak cho các đội võ trang tuyên truyền, đã đông đúc và hoạt động mạnh đến mức phải dùng lực lượng dân công lớn tiếp tế gạo, có đội đã đi đến sát biên giới Campuchia, tức đã có làng kháng chiến Ê Đê hay Mơ Nông xuất hiện tận đấy.

Quân Pháp phản ứng mạnh hơn. Đã tạo được thế giằng co trên chiến trường. Tuy nhiên vẫn còn chưa đến lúc có thể đưa lực lượng chủ lực lên mở các trận đánh lớn. Còn mất đến hơn ba năm nữa…

Tiểu đoàn 39 áp tải dân công chuyển gạo xong lại rút trở ra Quảng Nam.

– Về cùng chứ? Tiểu đoàn trưởng Tường Vinh hỏi.

– Anh về trước, tôi ở lại đã, muốn la cà thêm với núi rừng ít nữa.

– Bị mấy ông võ trang tuyên truyền cù rủ rồi chứ gì!…

Tôi đi Đak Lak bấy giờ là với danh nghĩa phóng viên mặt trận của báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân) Liên khu 5. Tờ báo ấy có một anh Chủ nhiệm tên là Trương Khả Liệu (tức nhà thơ Hà Kiều ở Sài Gòn sau này). Anh Liệu thả phóng viên tự do muốn đi đâu thì đi, miễn là đi ra mặt trận, thỉnh thoảng gửi về đôi mẩu tin hoặc một bài tường thuật ngắn. Tôi báo tin ở lại Đak Lak, anh không hề phản đối.

Tôi sinh ra ở Đà Nẵng, sống tuổi thơ ở Hội An, toàn ven biển, nhưng tạng người lại hợp với rừng, gặp rừng núi thì thoải mái và bị thu hút, viết dễ và dễ viết hay.

N.H.A: Như vậy từ 1950, ông đến và ở lại, khởi đầu “mối duyên” giữa ông với Tây Nguyên. Ông có thể kể thêm về hoạt động và quan sát của ông khi đi sâu vào lòng Tây Nguyên những năm tháng “đầu đời” đó? 

Trả lời: Tôi ở lại, nhưng không đi với vũ trang tuyên truyền. Tình cờ gặp ba người thật hay và bị họ cù rủ vào một vụ nghe chừng có thể hấp dẫn…

Duyên số thật. Ba người. Thứ nhất là chị Hải, con gái ông đại biểu đầu tiên của tỉnh Phú Yên ở Quốc hội khóa Một. Chị được Hội Phụ nữ Phú Yên tăng cường cho Đak Lak khi kinh nghiệm của các đội vũ trang tuyên truyền cho thấy, công tác dân vận trên này trước tiên cần nhằm vào các mẹ, các chị.

Chị Hải lớn hơn mấy anh em chúng tôi vài tuổi, chúng tôi gọi chị là Mai Đoa (tiếng Ê Đê: Mai = Chị; Đoa = Hai). Người thứ hai là Nhật Lai, nhạc sĩ mới vào nghề, anh yêu em gái chị Hải, chị Hải rủ, anh đi theo, và rồi sẽ bị Tây Nguyên mê hoặc tới sa đà với nó. Người thứ ba là Y Yơn, người Jarai quê ở Buôn Sam một làng cổ nổi tiếng tận cuối tỉnh Đak Lak giáp Gia Lai. (Ê Đê và Jarai là hai tộc người gần nhau, tiếng nói gần giống nhau).

Đak Lak, bấy giờ là tỉnh rộng nhất Tây Nguyên (chưa cắt riêng Đak Nông ra như ngày nay) từng có một ông công sứ Tây rất độc đáo, tên là Léopold Sabatier, cai trị từ 1913 đến 1926.

Sabatier là người đã phát hiện, sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp tác phẩm lớn nhất của văn học dân gian Tây Nguyên, trường ca Đam San, đem khoe nó với thế giới. Ông cũng sưu tập được toàn bộ Luật tục Ê Đê và tổ chức cai trị Đak Lak bằng một tòa án luật tục. Sabatier mở trường, bắt mỗi làng phải cử một đứa trẻ con đến học, làng nào không tuân lệnh thì chủ làng bị bắt, đánh đập thậm tệ.

Trường dạy tiếng Ê Đê, tiếng Pháp, phong tục tập quán và văn hóa Ê Đê, đào tạo ra lớp trí thức đầu tiên của Tây Nguyên (về sau hầu hết những người này đều trở thành cán bộ cách mạng). Tha thiết bảo tồn nguyên vẹn văn hóa bản địa, Sabatier chủ trương đóng chặt cửa địa bàn Đak Lak, cấm tất cả người ngoại lai xâm nhập, người Việt, người Hoa, cả người Pháp.

Dựa vào Luật tục sưu tầm được, ông viết và tuyên đọc một bản văn có vần gọi là “Lời ca Nguyện thề” (Palabre du Serment), tập họp tất cả các Tù trưởng địa phương trong một lễ hội Ăn thề lớn, tôn vinh ông làm Đại Tù trưởng của toàn xứ Đak Lak… Cuối cùng ông bị chính những người Pháp đồng bào của ông đang ham hố vào chiếm đất làm đồn điền cao su, vận động Toàn quyền Đông Dương Pasquier cách chức, đuổi về nước. Sabatier lủi thủi trở về Pháp, mang theo một cô gái Ê Đê làm con nuôi, mà ông gọi tên là Hbia.

Ở Tây Nguyên tên Hbia cũng tương tự như tên Eva trong văn hóa phương Tây, là người đàn bà đầu tiên của loài người và của Huyền thoại, cũng là biểu tượng của Xứ sở, trong trường hợp này là Xứ sở bị đánh mất. Dường như bi kịch của Sabatier chừng nào đó là báo hiệu sớm của bi kịch Tây Nguyên mãi về sau, giữa bảo tồn vùng đất tuyệt diệu này cùng bản sắc của nó, đối mặt với tham vọng hùng hổ vào khai thác nó đến tàn bạo của các nhóm lợi ích xảo quyệt và hung dữ…

Y Yơn là một học trò muộn của Sabatier. Khi Y Yơn ra đời thì Công sứ Sabatier bị đuổi đã lâu, nhưng kiểu trường của ông vẫn còn, kỷ luật bắt người đi học vẫn giữ nguyên, học trò đến trường vẫn coi Đại Tù trưởng Sabatier là thần tượng và chịu ảnh hưởng sâu sắc tình yêu cùng tư tưởng của ông.

Buôn Sam làng Y Yơn có một đứa học trò tên là Y Khí bị chết, thấy Y Yơn hát hay người ta bắt đi học thay, dù là đứa bé con nhà nghèo nhất làng. Nghèo nhất vì cả cha anh, ông Y Tam và mẹ anh, bà H’Lum quanh năm chẳng chịu làm ăn, chỉ say mê múa hát và chế ra đủ thứ nhạc cụ kỳ lạ, nghèo cho đến nỗi khi sinh ra anh, bà H’Lum đã định đập cho chết luôn, sợ không nuôi nổi, nhưng ông Y Tam giành lại, ông muốn dạy con còn hát hay hơn cả ông.

Cách mạng tháng Tám, Y Yơn có làm Phó Chủ tịch huyện Buôn Hồ một thời gian, khi Pháp đánh lên, mặt trận Buôn Hồ bị vỡ, anh chạy về vùng giáp ranh Phú Yên, được cử làm hiệu trưởng một trường văn hóa, bị Pháp bắt trong một trận càn, nhờ hát hay khi lính Pháp bảo hát cho chúng nghe, nhân lúc chúng sơ hở anh chạy thoát, và gặp chị Hải cùng Nhật Lai.

Tôi cũng gặp ba người đúng thời gian này. Họ đang định lập ra một thứ gọi là đội Tuyên truyền công tác, chuyên đi làm dân vận trong các làng bằng cách biểu diễn văn nghệ múa hát, đóng kịch tự chế ra, một gánh hát rong tự phát giữa chiến tranh. Chắc chị Hải là người có ý tưởng, được tỉnh Đak Lak đồng ý bởi Tỉnh cử anh Thuấn từng là huyện ủy viên làm đội trưởng của gánh hát rong này. Bốn người (đã có thêm anh Thuấn) thấy tôi là dân báo chí văn nghệ bèn rủ đi theo. Ít lâu sau tuyển thêm hai chị Ê Đê, một chị tên là H’Un.

Vậy là xuất hiện một tổ chức không có trong hệ thống hay biên chế nào cả, vũ trang tuyên truyền không phải, chúng tôi làm sao vũ trang được bằng họ, gánh hát chay cũng không, bởi chúng tôi cũng có ít vũ khí, hai súng các-bin và một khẩu súng trường dài ngoẵng, anh Thuấn đội trưởng thì có súng lục ru-lô, và trường hợp gặp Pháp o ép quá cũng có nổ súng chống cự, còn thì chủ yếu cố tránh chúng.

Cũng có lần phối hợp với du kích vài làng cùng chống càn. Sau này đọc tiểu thuyết “Lạc rừng” của Trung Trung Đỉnh tôi thấy cái lực lượng vũ trang kỳ lạ đánh Mỹ anh mô tả có vẻ hơi giống chúng tôi, chỉ có điều trình độ chúng tôi có vẻ thô sơ hơn, và chúng tôi lại thiên về múa hát.

Như vậy chị Hải là người sáng lập, anh Thuấn là lãnh đạo, Nhật Lai với tôi và hai chị Ê Đê là đội viên, còn Y Yơn là nhân vật đặc biệt, anh là linh hồn của đội. Hát múa kịch đều do anh sáng tác và chủ trì. Anh còn dạy chúng tôi tiếng Ê Đê. Tuyên truyền tất nhiên phải rành tiếng Ê Đê, hát rồi đóng kịch cũng vậy, bấy giờ tôi đã có thể tự mình đăng đàn tuyên truyền bằng tiếng Ê Đê trong làng, nói dông dài hàng tiếng. Cũng nghe hiểu được phần nào các cụ già kể Khan (trường ca), các mẹ các chị hát dân ca hay nói kiểu tục ngữ. Lại có thể la cà thâu đêm hút rượu cần với trai gái các làng, nghe và biết được bao nhiêu điều hay và lạ.

Đặc biệt Y Yơn có bài hát Gọi heo rất tuyệt, bao giờ người nghe cũng không cầm được nước mắt. Ở Tây Nguyên người ta không nuôi heo chuồng mà thả rông, chỉ buổi chiều nắng đã sắp tắt các bà già và các cô gái đứng ở bìa làng cất tiếng ót ót gọi heo, và đàn heo như một lũ trẻ con lon ton chạy ùa về chen chúc vục mõm vào máng rau cám đua nhau táp lấy táp để ngon lành.

Người Tây Nguyên đi xa quê xa làng không nhớ gì bằng tiếng ót ót gọi heo đó buổi chiều tà của mẹ hay của cô gái yêu. Y Yơn, rồi Nhật Lai cũng bắt đầu sáng tác một số bài hát kêu gọi kháng chiến, đều dựa theo dân ca, nhưng nhớ lại không gì bằng bài Gọi heo của Y Yơn. Mỗi trận đánh Tây xong, đêm liên hoan, du kích lại hát Gọi heo. Gọi heo trở thành bài hát kêu gọi kháng chiến đánh Tây. Sáng tác nhạc cách mạng kiểu Y Yơn là vậy. Chúng tôi thường tiếp sau các đội vũ trang tuyên truyền, khi các anh vũ trang gây được cơ sở đầu tiên rồi, chúng tôi làm tiếp công việc củng cố và phát triển.

Cũng có lúc Pháp bung ra càn quét rát quá, chúng tôi phải tạm lui về núi Dleya. Dleya là cụm núi lớn nhất của Đak Lak, và là núi thiêng. Có một buôn Dleya đã xây được cơ sở vững chắc ở chân núi, chúng tôi lui về núi thì làng Dleya là chốt án ngữ bảo vệ. Bà con Ê Đê thường không dám đi sâu vào cụm núi thiêng này.

Có bao nhiêu chuyện lạ về Dleya. Đấy là nơi ngự trị của các Yang (tức Thần linh), con người không được chạm tới. Cũng có lời đồn trong ấy có người rừng. Một đội trinh sát có lần vào sâu trong Dleya, đêm đốt lửa, bỗng nghe tiếng hú vang từ rừng sâu, rồi một tốp người trần truồng lông lá chạy ùa đến, sửng sốt đứng nhìn lửa. Người rừng Dleya còn chưa biết lửa.

Cũng có người bảo trong ấy có người, có làng thật, là những làng từng chống Pháp khi họ mới vào chiếm Tây Nguyên hàng trăm năm trước. Thua, các làng ấy rút lui vào cụm núi lớn này, cắt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài, chỉ thỉnh thoảng có người cải trang từ trong ấy mang các sản vật ra đổi lấy muối, rồi lại lặng lẽ biến vào rừng, làng trong ấy chỉ thiếu muối…

Thực tế những năm ấy ở Đak Lak, ở Tây Nguyên là vậy, hiện thực khó nhọc của công cuộc gây cơ sở giành dân và giằng co với Pháp, chen lẫn với huyền hoặc của núi rừng mờ ảo và linh thiêng. Còn tôi thì được nhúng mình đầm đìa trong cuộc, núi rừng còn nửa hoang dã cứ thế thấm vào da thịt, bản năng nhiều hơn là ý thức…

N.H.A: Sau đó, biến cố nào khiến ông rời khỏi Đak Lak?

Trả lời:Tháng 5 năm 1951 chúng tôi hoạt động ở Krong Pách, là khu vực có rừng ngập nước. Đêm 15 tháng 5 công tác dân vận múa hát ở Buôn Kreah Prong, xong ra ngủ lại ở một cánh rừng thưa ven đầm nước. Ngủ ở đó vì cách bờ đầm vài chục mét có một gò đất nhỏ nhô lên trên đó có một cái giếng nước ngọt. Chọn vị trí như vậy mà ngủ là ý thức quân sự rất tồi, Tây tập kích từ trong rừng đánh ra chỉ còn đường đâm đầu xuống đầm.

Mờ sáng hôm sau chúng tôi bị tập kích thật, chắc lộ từ đêm ở trong làng. Tảng sáng, chị Un dậy sớm tìm ra gò đất có giếng để đánh răng thì vấp ngay một tên lính Tây đang loay hoay tìm chỗ bố trí đón lõng chúng tôi. Nó bắn một phát, lập tức súng nổ bốn bề. Chúng tôi vùng chạy.

Được một khoảng, tôi chạy sau, thấy máu xối ra ở chân chị Hải. Cũng may, chị Un ra đầm sớm, bọn Tây chưa khép xong vòng vây. Anh Thuấn và chị Un bị bắt, còn thì thoát. Chạy khỏi vòng vây rồi, chúng tôi dìu chị Hải vào một khóm rừng rậm. Chẳng có bông băng, chúng tôi xé áo băng vết thương cho chị, chị bị thương gần chỗ kín của phụ nữ, rất khó cầm máu.

Ngày ấy còn chưa có võng, phải lấy chăn buộc chặt hai đầu làm võng, chặt cây làm đòn, ba anh em Y Yơn, Nhật Lai và tôi thay nhau khiêng chị về núi Dleya. Từ Krong Pách về Dleya phải qua hai quốc lộ 21 và 19. Mỗi lần qua lộ, tất nhiên toàn về đêm, tôi bò ra trước, lấy hòn đá ném lên mặt đường xem chừng động tĩnh, Y Yơn và Nhật Lai mới khiêng cáng vượt qua. Hai ngày hai đêm thì về tới Dleya.

Tìm một con suối nhỏ thật kín trong rừng, cất lều, nuôi chị Hải. Có chút thuốc men nào đâu, bông băng cũng không. Bấy giờ tôi đã có một bà mẹ nuôi ở làng Dleya, tên là Amí H’Jú. Chỉ có bà mới được vào núi thăm chị Hải, bà nấu lá rừng rửa vết thương cho chị, tìm lá thuốc cho chị uống. Đang lúc bọn Pháp nghi ta ở Dleya, tìm cách mò vào núi. Chúng tôi phối hợp với du kích Dleya đánh chặn mấy lần.

Núi sâu rất lạnh, ngày không thể đốt lửa sợ lộ vì khói, đêm cũng không thể nhóm bếp to. Thuốc lá rừng của Amí H’Jú không cứu được chị Hải. Chị cứ hao mòn dần, hơn tháng thì chị chết. Đấy là người phụ nữ Kinh đầu tiên hy sinh ở Tây Nguyên.

Chị Hải chết, anh Thuấn và chị Un bị bắt, đội tuyên truyền của chúng tôi rời rạc dần, rồi tan. Nhật Lai và Y Yơn ở lại Đak Lak, tiếp tục công tác văn nghệ ở tỉnh. Tôi đi dần ra phía Bắc, năm 1952 tới Gia Lai, cuối năm ấy ra đến Kontum, vùng Ba Na, đi đến đâu thường tìm bám vào các đội vũ trang tuyên truyền…

N.H.A: Và ông đã có tác phẩm đầu tiên về Tây Nguyên từ những năm tháng đi thực tế và chiến đấu đó?

Trả lời:Đó là mộtsáng tác tên “Pra”, với nhân vật chính là Ama Yơk.

Đội của chúng tôi hoạt động được mấy tháng thì bỗng có người đến xin gia nhập, một ông già tự xưng tên là Ama Yơk, tóc bạc, râu ria xồm xoàm, khoác một khẩu súng kíp, hỏi quê ở đâu thì khai sâu tít trong núi Dleya, lại kể rằng làng của ông tên là Pra, có con suối nước chảy ngược từ dưới lên trên, từng đánh Tây từ trước khi có Cách mạng, thua phải chạy vào núi, nay thấy Cách mạng lại nổi lên ông bèn tìm đến xin theo. Ông học rất nhanh bài hát Gọi heo, đêm vào các làng cùng hát với Y Yơn, mỗi người một bè, người cao người thấp, nghe rất lạ…

Ama Yơk ở với chúng tôi được vài tháng, rồi một đêm, sau khi biểu diễn ở một làng, ông lặng lẽ biến mất, cũng bất ngờ như khi đến. Thời ấy ở trên này mọi thứ còn lỏng lẻo, Ama Yơk đến rồi đi, cứ như thật như hư, chợt hiện ra rồi chợt biến mất, chúng tôi cũng chẳng mấy thắc mắc…

Giữa năm 1952, ở Gia Lai, tôi viết và gửi về cho anh Trương Khả Liệu sáng tác dài tên là “Pra”, ghi thể loại là bút ký, kể về một làng trong núi Dleya, với nhân vật chính Ama Yơk đúng như tôi từng gặp và sống cùng mấy tháng, người và việc nửa hiện thực nửa huyền thoại, kể chuyện Ama Yơk dẫn đầu dân làng Pra nổi lên khởi nghĩa chống Pháp từ giữa rừng sâu…

Báo Vệ quốc quân đăng làm nhiều kỳ, mỗi kỳ đều ghi “Kỳ sau đăng tiếp”… Nhưng đến kỳ thứ 5 thì bỏ dở và im lặng lờ đi luôn, bởi tôi viết đến đó thì tắc, không biết dắt dẫn nhân vật của mình đi đâu nữa.

Anh Liệu viết thư cho tôi an ủi: Không sao, chưa tiếp được cứ để đó, có ngày sẽ tìm ra… Sau này ra Hà Nội, tôi có đến Thư viện quốc gia tìm đọc lại, thấy đúng đấy là một kiểu tiểu thuyết chứ chẳng phải bút ký, khi viết đã học hành lý luận gì đâu, làm sao phân biệt thể loại.

Thời ấy Hà Nội còn chưa có photocopy, không lưu lại được, rồi Thư viện lại cho ai đó mượn báo lưu trữ, nghe nói người mượn bỗng bị bệnh điên, báo mượn chắc gia đình đem bán đồng nát, cái viết đầu tay dở dang của tôi mất biệt luôn, chẳng còn dấu tích…

N.H.A: Sống đủ lâu với con người Tây Nguyên, có lẽ đã giúp ông nhận diện được điều gì là đặc trưng nhất nơi họ, từ trong suy nghĩ đến thể hiện trong văn chương của ông? 

Trả lời:Tất nhiên có câu hỏi: Người Tây Nguyên từ đâu đến? Con đường đi của họ trong lịch sử lâu dài như thế nào, để hình thành nên “đặc trưng” của họ? Hãy thử nói về người Jarai, tộc người đông nhất, chiếm vùng trung tâm rộng rãi của Tây Nguyên vắt từ Đông sang Tây, từng là trung gian nối kết hai vương quốc lớn và lâu đời, Champa ở bên này với Khmer ở bên kia.

Về ngôn ngữ, tiếng Jarai gần giống hệt tiếng Chăm, nói hoàn toàn có thể hiểu nhau. Thậm chí nhiều nhà khoa học coi người Jarai là người Chăm lên Tây Nguyên. Nếu quả vậy, tại sao lại có những người Chăm lên Tây Nguyên để trở thành người Jarai, tức những người vốn ở đồng bằng lại lên núi để trở thành một tộc người miền núi?

Giáo sư James C. Scott ở Đại học Yale Hoa Kỳ đã thử trả lời câu hỏi này, trong một phạm vi rộng lớn hơn: Ở toàn vùng đồng bằng và cao nguyên Đông Nam Á, trong đó Nam Đông Dương là một phần. Năm 2009, Scott cho xuất bản cuốn sách quan trọng Nghệ thuật để không bị cai trị (The Art of Not Being Governed: An Anarchist History of Upland Southeast Asia, Yale University Press).

Ông cho rằng khi các dân tộc ở đồng bằng Đông Nam Á, do những tác động khác nhau, phát triển thành các quốc gia có Nhà nước, thì những người không muốn bị cai trị bởi các Nhà nước ấy đã bỏ chạy lên núi, và trở thành những thực thể mà ta gọi là các tộc người thiểu số trên Cao nguyên.

Scott còn có bài viết “Núi và Tự do” (“Mountains and Freedom, or Why Civilizations Can’t Climb Mountains”. Critique internationale, volume 11, issue 2, 2001, tr. 85-104) trong đó ông bảo các nền văn minh thì không biết leo núi, lại còn có nhận xét: Tiếng Sanskrit của các quốc gia Nam Á văn minh không bao giờ leo cao được quá 500 mét!

Suy theo kiểu James C. Scott, khi người Chăm vốn từ các đảo ở biển Nam đến cư trú trên vùng duyên hải Nam Trung bộ, do ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, phát triển thành Vương quốc với Nhà nước Champa, thì những người Chăm không muốn chấp nhận sự cai trị của Nhà nước đó, đã bỏ chạy lên Tây Nguyên để trở thành người Jarai. Họ lên núi để tìm tự chủ và tự do.

Về địa hình, Tây Nguyên có đặc điểm nổi bật: Thoai thoải ở sườn Tây xuôi dần về Mekong, nhưng lại dốc đứng trên sườn Đông đổ xuống duyên hải Nam Trung bộ. Từ đồng bằng Nam Trung bộ chỉ có thể đi lên Tây Nguyên theo những đường mòn độc đạo cao vút. Có thể nhận ra và gọi tên các con đường hiểm trở ấy mà người Chăm ly khai với Nhà nước Champa đang hình thành đã quyết mạo hiểm leo lên, hẳn từ những thời rất xa xưa, để trở thành người Jarai tự do: Lối đi nay đã thành quốc lộ 19, từ Quy Nhơn, liên tiếp trèo qua hai ngọn đèo đều chót vót An Khê rồi Mang Yang, lên Pleiku; và đường trước đây mang tên số 7, nay gọi là quốc lộ 25, từ Tuy Hòa, qua Cheo Reo, cũng lên Pleiku …

Tuy nhiên, có phải chỉ Jarai?

Người Ê Đê ở Đak Lak cũng có cách kể về con đường từ đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ đi lên Tây Nguyên của mình, họ có truyền thuyết về nơi gọi là Lỗ Đất Adreh. Hai anh chàng Ê Đê mải miết đuổi một con heo rừng ủi phá rẫy, chui theo nó vào một lỗ đất hun hút, đến khi thoát ra ở đầu lỗ bên kia thì thấy một vùng đất đỏ mênh mông muông thú và cây cỏ tốt tươi trù phú…

Họ bèn quay về dẫn cả cộng đồng của mình nô nức lên miền đất hứa vừa khám phá được. Ở Đak Lak ngày nay người ta có thể chỉ rõ cái lỗ đất Adreh hạnh phúc ấy: Đấy chính xác là đèo Phượng Hoàng ngày nay trên quốc lộ 23, xuất phát từ Nha Trang, qua Ninh Hòa, từ đó leo lên Trường Sơn ở đoạn này dốc càng đứng, để lên tới Buôn Ma Thuột…

Không chỉ có truyền thuyết hay huyền thoại, hãy nghe các nhà khoa học nói về các xã hội Tây Nguyên trong lịch sử. Trong tác phẩm Rú Mọi (Les Jungles Moï, Paris: Emile Larose, 1912; bản tiếng Việt Rừng người Thượng do Lưu Đình Tuân dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nxb Tri thức, 2008) đặc sắc, sau khi đã chăm chú khảo sát khắp từ Nam đến Bắc, Henri Maître nhận xét hình thái xã hội ông vừa đi qua: Tây Nguyên “gồm các làng rời rạc và độc lập”.

Cũng nói về “các làng độc lập và rời rạc” đó, hơn 20 năm sau, 1937, trong sách Mọi Kontum hai nhà dân tộc học đầu tiên của Việt Nam Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi viết: “… Dầu to hay nhỏ, mỗi làng Ba Na là một tiểu quốc gia hoàn toàn độc lập, không phục tùng dưới quyền thống trị nào khác…”

Vậy đó, “đặc trưng” của những người đã quyết bỏ đồng bằng, leo lên núi, tất nhiên từ những thời rất xa xôi đến mịt mù, đủ thời gian để hình thành những tộc người riêng biệt.

Hết phần 2.

One Response

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network