PHỎNG VẤN NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC  (Phần cuối)

Thưa các quý vị và các bạn!

Thay mặt trang tin Tannamtu.com xin trân trọng cảm ơn cô Nguyễn Hồng Anh (người phỏng vấn Nhà văn Nguyên Ngọc) đã cho phép chúng tôi được đăng toàn bộ bài phỏng vấn lịch sử này.

Chúng tôi xin lỗi cô Hồng Anh, vì đã có một chút chỉnh sửa bố cục các đoạn văn trong bài trả lời của Nhà văn, nhằm tạo phong cách riêng của trang web, đồng thời giúp dễ đọc hơn khi tiếp cận.

TM Tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình. 

Anh hùng Núp gặp Ernesto “Che” Guevara

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC  (Phần cuối và hết).

N.H.A: Nơi đặc trưng ấy cũng đã sản sinh ra một anh hùng Núp, người đã gặp gỡ người lính – nhà văn Nguyên Ngọc như một cuộc hạnh ngộ?

Trả lời:Năm 1952 và đầu 1953, tôi đi theo các đội vũ trang tuyên truyền và một số tổ chức chính trị làm công tác dân vận ở Bắc Tây Nguyên, từ Gia Lai ra tới Kontum, được sống với các tộc người khác nhau, Jarai, Ba Na rồi Xơ Đăng, cả Dẻ Triêng ở mạn cao Đakglei…

Tình hình ở đây cũng tương tự như đã kể ở Đak Lak. Từ khoảng 1953, hoạt động kiên trì giành dân và phát động chiến tranh du kích đã tạo được thế trận thuận lợi ở đây để đưa các đơn vị chủ lực lên mở các trận đánh lớn.

Trong khi đó, cuối 1953 đầu 1954, song song với Điện Biên Phủ, địch mở chiến dịch Atlante nhằm đánh chiếm vùng tự do của Liên khu 5. Ta chủ trương chỉ dùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đối phó ở đồng bằng, chủ động đưa quân chủ lực lên mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên, trong một đêm đánh hạ 3 đồn trên hướng cửa mở vào thị xã Kontum, tiêu diệt 1 tiểu đoàn và 1 đại đội lính Âu Phi, 1 đại đội quân địa phương, sau đó phát triển lên phía Bắc truy kích quân địch tận Attopeu ở Nam Lào, đồng thời chặn đường phía Nam, quân Pháp hoảng hốt bỏ thị xã Kontum mà chạy.

Giữa tháng 2-1954, ta tiêu diệt tiếp đồn Đak Đoa ở Gia Lai, là cứ điểm án ngữ che chở cho quốc lộ 19 (còn quốc lộ 19 thì cắt đôi Tây Nguyên, như vậy với chiến thắng Đak Đoa toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên đã được giải phóng, trong khi chiến dịch Atlante của Pháp ở đồng bằng thất bại hoàn toàn).

Tôi bị thương trong trận Đak Đoa, được khiêng 10 ngày về bệnh xá Ba Tơ, nằm một tháng thì lành. Nghe quân ta đã chuyển vào vùng quanh An Khê, tôi đi bộ từ Ba Tơ vào Bình Định, tìm đường lên An Khê. Bấy giờ chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc, quân Pháp ở Triều Tiên rút về Đông Dương, lập thành Binh đoàn cơ động số 100 (GM 100), đóng ở An Khê, giữ đường 19 từ An Khê đến Pleiku, tạo thành tuyến ngăn quân ta tiếp tục tràn xuống Nam Tây Nguyên.

Quân khu 5 được giao nhiệm vụ kìm giữ GM 100 không cho nó ra Điên Biên Phủ. Đương nhiên không chỉ kìm chặt, quân khu 5 còn muốn tiêu diệt nó. Đúng ra bị tiêu diệt ở đồn Đak Đoa đã là 1 đại đội của GM 100 từ Triều Tiên về. Và trận đánh Đak Đoa rất ác liệt, quyết đánh đến lần thứ ba mới hạ được đồn, chính là để tăng sức ép xuống quốc lộ 19, buộc GM 100 phải bỏ chạy từ An Khê về Pleiku, sẽ tiêu diệt nó trên đường.

Tính chuyện lớn như vậy nên không hề đơn giản. Phải liên tục đánh một số trận thăm dò và uy hiếp, buộc bọn GM 100 ở An Khê phải tính chuyện bỏ chạy. Đồng thời trinh sát kỹ đường 19 chuẩn bị cho trận phục kích lớn.

Làng S’tơr của Núp (tức làng Kông Hoa trong Đất nước đứng lên) nằm cách đường 19 khoảng mươi cây số về phía Bắc, Núp là chỉ huy du kích S’tơr.

Chúng tôi đóng quân trong làng và trong rừng quanh làng, những đêm trinh sát đường 19 bao giờ cũng có Núp và du kích của Núp đi cùng, được Núp dẫn đường và cùng nhau mò mẫm bò đi sờ cho kỳ tận tay từng đặc điểm địa hình. Đêm nào cũng thức trắng đến rạng sáng, về lại ôm nhau ngủ vùi…

Tôi quen thân Núp từ đấy, cả bà mẹ Núp và chị Liêu vợ Núp, được coi như người thân trong gia đình. Ở Núp tôi nhận ra một Ama Yơk khác, cũng từ quá khứ huyền hoặc của lịch sử Tây Nguyên mà đi ra, nhưng trẻ trung và đang bước tới xa hơn trên đường hiện đại hóa khó nhọc và xúc động, tìm đến với cuộc chiến đấu hiện đại và rộng lớn hơn của một đất nước với một cuộc sống mới lạ và rộng lớn hơn…

Sau một loạt trận đánh thăm dò và gây sức ép của ta, ngày 24 tháng 6-1954 GM 100 bỏ An Khê để chạy về Pleiku và rơi vào trận địa phục kích của ta ở Đak Pơ, ngay đúng tại ngã ba từ làng S’tơr của Núp đâm ra đường 19, và bị tiêu diệt hoàn toàn.

Nghe bảo Cụ Hồ có lần gọi đấy là trận giao thông chiến lớn nhất thế giới, riêng số xe còn nguyên thu được là 229 chiếc. Đêm chiến thắng tôi gặp lại Núp trên mặt đường, anh đứng trên một chiếc xe chiến lợi phẩm như vậy mỗi vai khoác một khẩu súng, thêm một khẩu nữa cầm tay, tay còn lại vẫy chào, và gọi: “Về nhà chớ, mẹ với Liêu chờ lâu quá rồi!”.

Không thể về được, lại có lệnh hành quân lên bao vây Pleiku, một cánh quân khác đang phát triển về hướng Buôn Ma Thuột, một cánh nữa đang trên đường xuống Nha Trang… Thế trận cứ gần như 1975 sau này… Nhưng rồi tất cả phải dừng lại: Hiệp định đình chiến đã được ký ở Genève, có anh đã khóc òa vì tiếc…

N.H.A: Từ gặp gỡ đó, ông Núp trở thành nguyên mẫu cho nhân vật trong tác phẩm của ông như thế nào?

Trả lời: Liên khu 5 mở Đại hội thi đua, ngay tại Phù Cát, Bình Định, nguyên là hậu cứ của mặt trận An Khê. Núp được cử đi đại hội, tiếng Kinh mới bập bẹ, chữ thì hoàn toàn chưa biết i tờ gì.

Tôi viết báo cáo cho Núp ở Đại hội. Rồi Núp đi tập kết trước tôi, ra Hà Nội, dự Đại hội thi đua toàn quốc và được tuyên dương Anh hùng quân đội. Tôi đi tập kết chuyến cuối cùng, trong đội hình Sư đoàn 324, ra đến Sầm Sơn ngày 19 tháng 5-1955, về đóng quân ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa, rồi ở Đô Lương, Nghệ An.

Ngày 2 tháng 9-1955, chân ướt chân ráo ra Hà Nội do Tổng cục Chính trị quân đội mở trại sáng tác về các anh hùng quân đội, triệu tập mỗi sư đoàn một người. Tôi được gọi vì có anh Dương Minh Đẩu nguyên là Phó Ban tuyên huấn Quân khu 5 về Tổng cục trước, giới thiệu Khu 5 có cậu Ngọc có vẻ cũng viết được đấy cứ gọi thử xem.

Tôi về trại ngơ ngác và rất run, gặp một loạt các bậc đàn anh nổi tiếng từng văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, Nguyễn Khắc Thứ đã có bộ tiểu thuyết Đất chuyển hai tập dày cộp, Phùng Quán đang gây xôn xao với Vượt Côn Đảo, Hồ Phương thì có Thư nhà từng vang dội, Nguyễn Khải đã có giải thưởng văn nghệ Quân khu 3… Tất nhiên tôi xin viết anh hùng Tây Nguyên của khu 5, ông Núp.

Trại viết của quân đội bấy giờ rất kỳ lạ, lấy giường cá nhân của bộ đội kê lên làm bàn, bốn người ngồi bốn góc đối diện nhau cứ thế mà sáng tác tiểu thuyết. Phần đông các anh đều phải đi gặp anh hùng để lấy tài liệu, chỉ có tôi chẳng phải đi đâu, ông Núp là bạn tôi mà.

Vả chăng, dù chẳng dám nói với ai, may quá ngay từ đầu tôi đã biết tôi đâu có viết trần mỗi ông Núp, còn Ama Yơk của tôi nữa chứ, rồi Y Yơn, và bao nhiêu con người ở trên ấy tôi từng gặp, từng biết, từng thuộc suốt những năm lang thang ngấm mình đầm đìa Tây Nguyên, cả đất trời rừng núi trên ấy nữa, đất nước và con người. Nay có ông Núp là để gửi vào đấy bao nhiêu tích lũy dồn nén những năm tháng vùi mình say mê.

Bấy giờ ông Núp học trường văn hóa bên Gia Lâm, tôi viết được một số trang thì xin sang ở cùng ông, tối hai anh em đốt lửa ngay giữa nhà cho đỡ nhớ Tây Nguyên. Cứ viết xong từng chương, tôi lại đọc cho ông Núp nghe, tất nhiên dù viết người thật việc thật vẫn phải hư cấu rất nhiều, bởi nói cho cùng viết bao giờ cũng là viết về chính mình, trải nghiệm của mình, tự chiều sâu của cuộc đời mình cho đến lúc đó, tôi hiểu và tin điều ấy.

Đọc cho ông Núp nghe rồi hỏi thấy sao, lần nào ông cũng đều trả lời “Được đấy! Đúng rồi!”. Đúng với Tây Nguyên tự trong ông, ông chấp nhận, tôi hiểu vậy…

Bấy giờ anh Từ Bích Hoàng phụ trách trại sáng tác, nổi tiếng hiền như bụt, nhưng vẫn kỷ luật rất nghiêm, anh quy định phải viết xong trọn trong ba tháng, từ 2-9 đến 2-12-1955 hạn phải nộp quyển. Tôi nộp đúng 12 giờ trưa ngày 2 tháng 12. Hồi ấy sức trẻ, viết ngày đêm, nộp quyển xong tôi mượn thẻ ra vào cổng doanh trại của Phùng Quán, một mình ra phố đi lang thang, đầu óc không còn biết gì nữa…

Xong trại, chúng tôi được cho đi tham gia cải cách ruộng, “để biết nông dân và nông thôn” theo lời ông Nguyễn Chí Thanh hồi đó là Chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội. Tôi đi Thủy Nguyên, ngoại ô Hải Phòng cùng Nguyễn Khải và Nguyễn Trọng Oánh. May quá, cả ba chúng tôi chưa kịp bắn tên địa chủ nào thì cải cách được phát hiện sai và dừng lại.

Lẽ ra chúng tôi sẽ được trả về đơn vị cũ của mình, chắc sẽ trở thành một số anh cán bộ tuyên huấn nào đó. Nhưng trong thời gian chúng tôi đi cải cách lại nổ ra vụ Nhân văn Giai phẩm, như ta đều biết, bắt đầu từ trong quân đội. Các anh Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phát, Phùng Quán bị đuổi ra khỏi quân đội. Chúng tôi được giữ lại để thay thế… Và trở thành nhà văn chuyên nghiệp.

Lại là duyên số…

N.H.A: Theo ông, văn chương viết về đề tài Tây Nguyên còn điều gì cần khai thác (sâu) thêm?

Trả lời: Có lẽ trước hết nên nói viết về Tây Nguyên cần tránh điều gì? Ngoài tuyệt tác Chúng tôi ăn rừng (Nous avons mangé la forêt de la pierre-génie Gôo. Paris:  Mercure de France, 1957; bản dịch của Trần Thị Lan Anh, Phan Ngọc Hà, Trịnh Thu Hồng, Nguyễn Thu Phương; Nguyên Ngọc hiệu đính, Nxb Thế giới, 2020). Georges Condominas còn có một tác phẩm rất hay tên là Kỳ lạ từng ngày (L’exotique est quotidien. Paris: Plon, 1965).

Đúng ra không nên dịch từ “exotique”, thậm chí hầu như không thể dịch. Tra Le Petit Robert là từ điển thường dẫn từ nguyên thì thấy từ này có tiền tố Hy Lạp “exo” có nghĩa là “ở bên ngoài” (en dehors). Ở bên ngoài cái gì? Đi tiếp: Qui n’appartient pas aux civilisations occidentales = không thuộc các nền văn minh phương Tây, và qui provient des pays chauds et lointains = đến từ các đất nước nóng và ở xa.

Vậy thì đích thị rồi, “exotique” chỉ có thể ra đời khi các quốc gia thuộc nền văn minh phương Tây thực hiện Chủ nghĩa Thực dân, đi chiếm thuộc địa thường ở vùng ven xích đạo, nóng và xa xôi, đến đấy họ sửng sốt nhìn thấy những thứ quá ư lạ lùng không hề có ở các xã hội gọi là văn minh của họ. Họ bèn gọi những thứ ấy, nơi ấy là “exotique”. Theo cách ấy, Tây Nguyên đúng là quá “exotique”.

Từ nhà rông, nhà dài, đàn đá, đàn t’rưng khô rồi nước, cả cồng chiêng…, như chính Condominas từng nói: Như những giống chim lạ sặc sỡ. Đấy là những biểu hiện ra bên ngoài của văn hóa, độc đáo, quyến rũ. Nhưng cũng tiềm tàng hiểm nguy. Bởi nếu dừng lại ở đó, mê mẩn với chừng đó, thì sẽ không đi đến được những hồn cốt đằng sau, là nền tảng của những biểu hiện ấy và bị chính vẻ sặc sỡ của những biểu hiện ấy che lấp.

Cho nên “exotique” còn có nghĩa xấu, chê bai (péjoratif), chỉ thói hám lạ, thường gặp ở một số nhà dân tộc học và người cầm bút vội vã và cạn cợt. Viết về Tây Nguyên rất dễ sa vào hám lạ, hời hợt bên ngoài, vội vàng chộp lạ và khoe lạ. UNESCO đã rất tinh tế khi không dừng ở cồng chiêng, cũng không nói âm nhạc cồng chiêng, mà khẳng định Không gian văn hóa cồng chiêng mới là thực thể được công nhận di sản văn hóa thế giới, cần được tôn vinh và bảo tồn.

Không gian văn hóa cồng chiêng là Rừng và Làng. Rừng mất và làng đổ xuống vì không còn quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng, thì cồng chiêng chỉ còn là xác trơ.

Vượt qua được thói hám lạ, thì sẽ đạt được “chiều sâu thêm” của Tây Nguyên.

Cũng cần nói điều này: Trong gần 50 năm qua, từ sau 1975, do những tác động không thận trọng của ta mặc dầu đã được cảnh báo, Tây Nguyên đã thay đổi quá nhiều. Tôi đã có lần viết: Tây Nguyên đã vượt ngưỡng. Chẳng hạn về dân số, chỉ trong khoảng hơn 30 năm Tây Nguyên đã tăng gấp 5 lần, lại chủ yếu tăng cơ học, tức do đưa người từ nơi khác đến, khiến cơ cấu dân cư đảo lộn lớn. Hiện nay người Kinh ở Tây Nguyên đã chiếm 75 tới 80%. Những người ở nơi khác đến, theo chỗ tôi được biết, lại hầu như không được chuẩn bị chút gì về mặt tư tưởng, tâm lý, thái độ khi đến một vùng văn hóa hết sức đặc trưng như thế này.

Cho nên hỏi “cần khai thác (sâu) thêm” gì, chắc đã đến lúc trả lời: Cần viết về mối quan hệ giữa người Kinh với người dân tộc tại chỗ hiện nay, trách nhiệm của người Kinh trong mối quan hệ đó. Người dân tộc tại chỗ vốn là đa số tuyệt đối tại chỗ, đã trở nên thiểu số tuyệt đối tại chỗ, không còn là động lực phát triển chính của nơi này nữa. Nhưng nếu họ không thật sự phát triển, thì vùng chiến lược Tây Nguyên không thể ổn định. Theo tôi, người Kinh ở Tây Nguyên hiện nay cần biết trách nhiệm của mình trong sự phát triển đó.

N.H.A: Nhà văn và tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại nào viết về Tây Nguyên, theo đánh giá của ông, là đáng kể hơn cả, và vì sao?

Trả lời: Tôi xin giới thiệu với bạn đọc một nhà văn từng và đang còn viết về Tây Nguyên rất hay: Trung Trung Đỉnh. Đây là một trường hợp may mắn hiếm hoi và hơi bất ngờ, cho văn học, cho Tây Nguyên và đề tài Tây Nguyên, cho cả chính anh ấy.

Trung Trung Đỉnh quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng, là học sinh nhập ngũ, được đưa vào chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, trong đội hình của một binh đoàn hàng nghìn người đủ nguồn gốc và đến từ vô số hoàn cảnh khác nhau.

Anh bị sốt rét, phải nằm lại ở một trạm giao liên trên đường Trường Sơn, đến khi hơi khỏi bệnh, tỉnh dậy, thì cái binh đoàn hàng nghìn người của anh đã đi tít tắp tận đâu đâu không còn ai biết. Thời ấy người ta gọi những người như anh là lính lạc ngũ.

Bấy giờ các đơn vị ở chiến trường thường định kỳ cử cán bộ ra trạm đầu mối, tức trạm giao liên đầu tiên ở cửa ngõ của Khu 5, để nhận quân từ miền Bắc bổ sung vào. Ngoài quân số được nhận theo quy định, anh cán bộ ấy còn tranh thủ “vét” thêm những người lính lạc ngũ đủ loại rải rác trên các trạm dọc đường. Trung Trung Đỉnh được một anh cán bộ như vậy “vét”, hỏi “Muốn đi với tao không”, liền mừng quá xin theo ngay.

Được anh ta dẫn về một nơi có cái tên rất chung chung, K8, tít tận rừng sâu, sau này mới biết tên là Kông Chơ Ro. Hóa ra là chiến khu của một đơn vị bộ đội địa phương toàn người Ba Na: Một cậu học trò Hải Phòng, lần đầu tiên ra đời và sa vào chiến tranh, đột ngột rơi tõm vào giữa một đám đông ở giữa rừng toàn người Ba Na, chỉ có người Ba Na với nhau, từ đó cùng ăn ở, đánh giặc theo kiểu Ba Na cùng với họ, tăng gia sản xuất để có cái ăn mà tồn tại cùng họ, nhanh chóng nói tiếng Ba Na y hệt như họ, vui buồn sống chết cùng họ, Ba Na hóa hoàn toàn – mà Ba Na như tôi từng được biết lại là dân tộc nghệ sĩ nhất Tây Nguyên với triết lý sống nổi tiếng: Làm chỉ vừa đủ ăn thôi, còn để thời giờ và sức lực mà chơi chứ!

Thậm chí Trung Trung Đỉnh còn Ba Na hơn cả người Ba Na, đến mức ngày 30 tháng 4-1975 anh đang ở trại sản xuất của đơn vị vốn thường đặt xa doanh trại để khỏi chết chùm vì bom B52, mê mẩn với rẫy, với rừng, hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra trên đất nước và chiến trường, chờ mãi không thấy người của đơn vị đến liên lạc, thử chạy về doanh trại xem sao thì chẳng thấy còn ai, hỏi quanh hàng xóm mãi mới biết Sài Gòn đã giải phóng rồi, người ta đã kéo về thành phố hết…

Nghĩ cho cùng thì một trường hợp đi lạc vào Tây Nguyên vào Ba Na giữa chiến tranh của Trung Trung Đỉnh cũng không quá lạ, đến mức không thể không có thật. Điều hay là nó đã rơi vào đúng anh, đã tìm chọn rất đúng anh bằng một cuộc đi lạc đầy ngẫu nhiên nhận ra, rơi vào, khám phá và đánh thức dậy ở anh một nhà văn đúng cho Tây Nguyên, rất Tây Nguyên, rất Ba Na, cứ như anh được sinh ra cho sự thức dậy này.

Trung Trung Đỉnh có một cuốn tiểu thuyết rất lạ (một cuốn tiểu thuyết hay, tất nhiên, tôi muốn nhấn mạnh, rất lạ) tên là Lạc rừng: Một nhóm người Ba Na lang thang và đánh Mỹ, cõng theo một ông già, bởi vì họ là một nhóm lang thang và một cộng đồng Ba Na dù rất nhỏ và đang đánh nhau thì không thể không có một ông già làm linh hồn kết nối, họ thay nhau cõng ông, nuôi ông bằng cách các cô gái thay nhau cho ông bú.

Cho đến khi bắt được một tên tù binh Mỹ, họ bèn giao cho nó cõng ông già, cứ thế mà vừa đi vừa đánh… Chưa ai tả chiến tranh nhân dân ở Tây Nguyên theo kiểu này, nhưng vậy đó, văn học không phải là lý luận quân sự. Và Lạc rừng không chỉ nói về chiến tranh ở Tây Nguyên, nó là tiểu thuyết về Tây Nguyên, về Ba Na. Tây Nguyên chùng chình giữa truyền thống và hiện đại hóa. Thậm chí Tây Nguyên hiện đại hóa – đương nhiên tất yếu – theo cách của nó…

Vẫn mong có một nhà điện ảnh thật tài, lại rất hiểu và yêu Tây Nguyên để làm một bộ phim theo cuốn tiểu thuyết đặc sắc và rất lạ này. Có thể kết hợp với Đêm nguyệt thực, một truyện ngắn cũng rất hay của Trung Trung Đỉnh.

N.H.A: Không chỉ sống cùng, sống với Tây Nguyên, sau này ông cũng đọc và dịch nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về vùng đất này…

Trả lời: Một chị bạn quan tâm về Tây Nguyên nói với tôi: Muốn nghiên cứu Tây Nguyên, một trong những điều kiện cần thiết là nên rành tiếng Pháp. May quá, tôi được học tiếng Pháp từ bé, và sau đó không bỏ. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX người Pháp đã vào Tây Nguyên một cách rất bài bản, và trong hơn một thế kỷ đã nghiên cứu Tây Nguyên rất sâu sắc, bằng các chuyên gia tâm huyết, lại được đào tạo nghiêm túc.

Đầu tiên là các đoàn thám hiểm khảo sát. Ở trên tôi đã nhắc đến Henri Maître và tác phẩm đặc sắc Rú Mọi của ông. Được xuất bản năm 1912, đến nay, hơn 100 năm sau, chưa có khảo sát toàn bộ Tây Nguyên nào vượt qua được nó. Ngoài Rú Mọi, Maître còn được giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp về tập bản đồ Tây Nguyên. Ông cũng là người đầu tiên xác định được các tộc người Tây Nguyên dựa theo ngôn ngữ… Xin nói thêm: Ông là một nhân viên trung cấp bình thường được cử đi chuẩn bị thực địa.

Song song với các nhà thám hiểm là các nhà truyền giáo. Bị triều đình Huế ráo riết truy sát, họ tìm đường tránh lên Tây Nguyên, sau nhiều nỗ lực thất bại, cuối cùng đến được vùng người Ba Na ở Kontum, lập nên xứ đạo Kontum, đến nay vẫn là xứ đạo Công giáo lớn nhất ở Tây Nguyên. Các giáo sĩ, như Guerlach, Dourrisboure… viết về hành trình truyền giáo của họ, qua đó cùng lúc hình thành những hồ sơ dân tộc học nghiêm chỉnh, chặt chẽ khoa học, tỉ mỉ và sinh động về các tộc người tại chỗ, Ba Na, Rơ Măm, Xơ Đăng…

Sau đó là các nhà cai trị. Họ được đào tạo rất vững chắc về nhân học, dân tộc học, có thể thấy người Pháp đã chủ ý bố trí ở miền đất đặc biệt này những nhà cai trị là nhà văn hóa. Như Léopold Sabatier với Đak Lak. Ở Kontum thì có Paul Guilleminet, người đã góp phần rất cơ bản trong nghiên cứu sâu về Ba Na.

Cuối cùng mới đến các nhà khoa học thực thụ. Một lực lượng chuyên nghiệp toàn diện và thật sự hùng mạnh. Vừa gồm những tác giả chuyên sâu về từng tộc người, từng chuyên ngành, Anne Hauteclocque-Howe về Ê Đê, Maurice về M’nông, Georges Condominas về M’nông Gar, Jean Boulbet về Mạ, Jacques Dournes về Stiêng và Jarai, Antomarchi về ngôn ngữ học, Jouin về y tế dân tộc học…, vừa đề cập tới những vấn đề nhân học hay dân tộc học, lịch sử và xã hội khái quát và có tính cách lý thuyết.

Như bên cạnh tuyệt tác Chúng tôi ăn rừng, Condominas còn có tác phẩm lý thuyết rất quan trọng Không gian xã hội vùng Đông Nam Á (L’Espace social. A propos de l’Asie du Sud-Est. Paris: Flammarion, 1980; Thanh Hằng, Ngọc Hà dịch, Hồ Hải Thụy hiệu đính, Nxb Văn hóa, 1997), Jacques Dournes thì có công trình dày dặn, công phu và uyên bác Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jarai Đông Dương (Pötao: une théorie du pouvoir chez les Indochinois jöraï. Paris: Flammarion, 1977; Nguyên Ngọc dịch, Nxb Tri thức, 2013)…

Quả thật đấy là may mắn lớn cho Tây Nguyên, cho chúng ta. Muốn nói gì thì nói, người Pháp đã để lại cho chúng ta một gia tài đồ sộ và vô giá, để mà hiểu cho đúng, cho thấu đáo Tây Nguyên của mình, đất nước và con người.

Và cho tôi nói điều này: Trong hiểu biết, như bao giờ cũng vậy, sẽ nhận ra được cả những cảnh báo, thậm chí cảnh báo nghiêm khắc cho sống còn. Yêu nước, yêu Tây Nguyên thì phải biết tận dụng gia tài ấy. Trước hết bằng cách dịch nó ra tiếng Việt, cho người Việt, người lãnh đạo chung và tại chỗ, người cai trị ở tất cả các cấp, và mấy triệu người Kinh nay đang sống cùng người bản địa Tây Nguyên.

Do tình thế chung, cả do thói bạc bẽo của chúng ta nữa, khi người Pháp đi, thì tiếng Pháp ở ta cũng đi theo họ. Tôi hoàn toàn có ý thức về việc dành ra một phần thời gian và sức lực đáng kể trong đời sống và sự nghiệp của mình để góp phần tự mình chuyển ngữ, và tham gia tổ chức việc chuyển ngữ cái gia tài quý báu đó (bao gồm cả hiệu đính các bản sách chuyển ngữ, một công việc ai từng làm đều có thể biết, làm nghiêm túc thì còn tốn sức và nhọc nhằn hơn cả tự mình dịch).

Cũng phải nói, làm công việc đó cũng là cho chính tôi. Để tự mình cắt nghĩa cho chính mình, hiểu cho thấu chính cái vốn mình đã may mắn được sống bao nhiêu năm. Và nôm na, để có thể viết được đậm đà về “Các bạn tôi ở trên ấy”.

N.H.A: Và cuối cùng, điều gì ở rừng Tây Nguyên khiến ông bị lôi cuốn nhất, lôi cuốn đến mức “quá chút nữa thì không còn cưỡng lại nổi” như ông viết trong Các bạn tôi ở trên ấy?

Trả lời: Trong tác phẩm Rừng, Đàn bà, Điên loạn (Forêt, femme, folie : une traversée de l’imaginaire jörai. Paris : Aubier-Montaigne, 1978; bản dịch của Nguyên Ngọc, Nxb Hội Nhà văn, 2006), Jacques Dournes viết một câu rất lạ: “Người  Jarai không thể sống thiếu rừng, nhưng người Jarai cũng sợ quá nhiều rừng”. “Không thể thiếu rừng”, có thể hiểu được rồi (dù lại hay quên). Nhưng còn “rất sợ quá nhiều rừng”, tại sao?

Dournes từng sống ở Tây Nguyên trước sau 23 năm, trong đó liên tục 15 năm ở vùng Jarai. Tác phẩm này viết về người Jarai, song đúng ra câu nói trên của ông cũng là về người Tây Nguyên nói chung. Và về nhân sinh quan, thậm chí vũ trụ quan Jarai,

Tây Nguyên. Về mối quan hệ Người với Rừng, Xã hội với Tự nhiên. Về cách Tây Nguyên xử lý mối quan hệ căn bản và quan trọng nhất này, cũng là mối quan hệ căn bản và quan trọng nhất của nhân loại. Ở Tây Nguyên, Tự nhiên tức là Rừng. Trước khi có Người, thì chỉ có Rừng, tức Tự nhiên, chỉ có Hoang dã. Muốn thành Người, thành Xã hội, thành Văn hóa, phải tách mình ra khỏi Tự nhiên, khỏi Rừng, khỏi Hoang dã đó.

Chính ở đây thành vấn đề: Tách ra thế nào đây? Tách ra luôn chăng? Tách hẳn, tách luôn, biền biệt, thì sẽ rơi vào khô khốc, cạn kiệt, cằn cỗi, như thế giới ngày nay đã cho thấy và báo động. Cách của Tây Nguyên là tách ra mà không tách hẳn, không tách luôn, không cắt đứt, tách ra mà vẫn còn dính vào, vẫn còn bắt rễ, nhúng rễ ở trong ấy, cũng có thể nói là tách tạm thôi. Cuộc đời là “cõi tạm” mà lại!

Và ở Tây Nguyên có tục “bỏ mả”, người chết rồi chỉ được chôn tạm, chờ làm một nhà mồ thật đẹp trên ngôi mả tạm ấy (chính trong dịp này Tây Nguyên phô trương nghệ thuật tượng gỗ nhà mồ nổi tiếng của mình), rồi người ta làm lễ bỏ mả, lễ hội lớn nhất, rộn rã và vui nhất của Tây Nguyên, thường huy động cả một vùng, diễn ra vào mùa xuân, cũng là mùa Ninh Nông, mùa nông nhàn,… từ đó bỏ hẳn ngôi mộ ấy (cùng với những pho tượng gỗ tuyệt vời của nó) cho tàn phai với mưa nắng và thời gian.

Con Người từ Rừng đi ra nay đã được trả lại cho Rừng. Trịnh Công Sơn hát: “… rồi một mai ta trở về cát bụi”. Người Tây Nguyên: “…là rừng ta trở lại về rừng!”…

Vậy đó, rừng đối với con người Tây Nguyên, rừng nguyên thủy ở đầu này, ngọn nguồn từ đó con người đi ra, rừng cũng lại hun hút ở đầu kia, nơi con người trở về.

Cũng vậy đó, định nghĩa con người Tây Nguyên. Đấy là con người vừa dám tách mình ra khỏi Hoang dã, lại vừa biết và dám tự để mình còn dính, còn nhùng nhằng, còn gần với Nó, luôn bị Nó níu kéo, luôn có nguy cơ rơi trở lại vào trong ấy, rơi trở lại vào Hoang dã, đến mất mình.

Đấy là triết học Tây Nguyên, cốt lõi của Văn hóa Tây Nguyên. Một thế chông chênh bền vững, một thế bền vững chông chênh. Người Tây Nguyên là người biết sống bền vững một cách chông chênh, luôn bị níu kéo ở hai đầu.

Mà nghĩ cho cùng, Văn hóa thật thì bao giờ cũng vậy, không bao giờ chỉ một bề.

Jacques Dournes viết: Sức níu kéo ấy ám ảnh đến cả các nhà bác học nghiên cứu thực vật đi qua rừng.

Huống nữa là tôi.

Hội An, 9/3/2023

2 Responses

  1. Cảm ơn anh lần nữa. Nhưng lại phiền anh sửa lại tên em là “Nguyễn Hồng Anh” – không có chữ “Thị” ạ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network