Phần 3A – NHÀ BÁO NGUYỄN VĂN  VĨNH, TỪ THỊ PHI ĐẾN NGỢI CA.

Thưa các quý vị và các ban!

“Có một ngày bạn sẽ hiểu, lương thiện khó hơn thông minh nhiều. Thông minh là một loại tài năng thiên phú, còn lương thiện lại là một sự lựa chọn”.

Danh ngôn trên đây của nhân loại dùng cho trường hợp dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (NVV), hẳn sẽ làm hài lòng cho những ai quan tâm đến ông, bởi ông là con người vừa lương thiện và vừa có cả tài năng.

Hơn hai chục năm qua, với đề tài nhà báo NVV, tôi đã tiếp cận với không biết bao nhiêu những gương mặt khác nhau trong môi trường văn hóa xã hội. Họ đa dạng về học vấn, về tuổi tác, về chuyên môn, và cả tước vị, trong đó gồm cả những người bạn quốc tế từ các xứ sở, vùng miền khác nhau.

Đành rằng, trong số vô vàn những gương mặt mà tôi đã may mắn được đối diện liên quan đến NVV, có cả những ‘kẻ’ cơ hội từng nhân danh của nhiều cái nhân danh… Cho dù họ từng nhìn thấy thấp thoáng trong ánh sáng hư ảo của quá khứ, sự mập mờ đến mức có gì đó ám muội về một sự thật không thể chối bỏ về NVV.

Nhân những ngày cuối năm Ất Tỵ, chuẩn bị bước sang năm mới Bính Ngọ, bà con dù nghèo hay giàu, dù đang gặp cơn khủng hoảng hay có cuộc sống an bình, cũng đều hối hả sắp xếp cho những ngày lễ linh thiêng này được yên ấm. Vậy nhưng, chắc chắn dù có bận rộn đến đâu, đầu tắt mặt tối đến mức nào, ai đó vẫn sẽ có những khoảng trống trong những ngày nghỉ Tết, cái khoảng trống ấy biết đâu sẽ trở nên lắng đọng, nhất là khi bạn đọc được điều gì đó khác thường, về những bất công tới mức thô bỉ.

Trang tin Tannamtu.com xin tiếp tục gửi tới các quý vị và các bạn bài số Ba của chương mục “VÌ SAO”, nói về những điều trăn trở khi nghĩ tới cuộc đời của một người lương thiện: Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh.

Trân trọng!

Nguyễn Lân Bình.

NHÀ BÁO NGUYỄN VĂN  VĨNH, TỪ THỊ PHI ĐẾN NGỢI CA.

Lịch sử là gì? Đó là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ.

                                                                                          (Victor Hugo 1802-1885)

Lễ tang dịch giả, nhà báo NVV diễn ra tại Hà Nội kéo dài từ đêm ngày 7 đến sáng ngày 9/5/1936 (hai đêm và một ngày). Báo chí đương thời ở cả ba kỳ Bắc, Trung và Nam tường thuật, rằng đám tang NVV đã thu hút tới hơn hai vạn người, từ mọi tầng lớp xã hội, không phân biệt sang hèn, cao thấp, tôn giáo… đã đến viếng và tiễn đưa con người đầu tiên ở nước Việt Nam Phong kiến, đã tự nhận mình là Người Nam Mới (Tân Nam Tử), một kẻ không phẩm hàm, không dòng dõi trâm anh… Nhưng tại đám tang tiễn biệt con người ấy diễn ra ngày 8/5/1936 ở Hà Nội, đồng bào đã vinh danh ông là:

“Người Công dân vĩ đại!”.

Trong suốt thế kỷ qua, rất nhiều các nhà hoạt động xã hội, khoa học và chính trị, với sự hiểu biết uyên thâm và lòng trắc ẩn, lòng thành kính cùng bản tính tự tôn giống nòi, đã từng muốn chiêu tuyết cho “Tân Nam Tử”, chứng minh với hậu thế, rằng NVV, một con người xuất chúng, đức độ và ngay thẳng, người để lại những cống hiến đích thực cho nền dân trí xã hội… Rằng chân dung con người đó, khác hoàn toàn với những nhận định được ghi lại theo cách vội vã và phiến diện trong không ít những tư liệu lịch sử. Họ, những con người trân trọng tài năng và sự thật, hằng mong linh hồn NVV sẽ thoát khỏi cái vòng kim cô của định kiến, hệ quả của một xã hội luôn bị hạn chế sự hiểu biết và tri thức…

Nhưng tiếc thay, tất cả những con người giàu lòng trắc ẩn ấy, đã không đủ thời gian, sức lực và cả quyết tâm để đi tới những kết luận cuối cùng, về một gương mặt tiêu biểu có một không hai trong lịch sử văn hóa của một dân tộc. 

Thực tế, trong lịch sử loài người, đã có không ít những con người xuất chúng, với những cống hiến tiêu biểu dành cho nền văn minh nhân loại, nhưng để được lịch sử định danh sòng phẳng, đã phải trải qua hàng trăn năm chiêm nghiệm, người đời mới muộn mằn, ‘ân hận’ tỏ lòng kính trọng, hàm ơn như trường hợp của văn hào người Pháp Alexandre Dumas cha (1802-1870). Lịch sử đã phải mất tới 132 năm sau khi ông qua đời, mới nhận ra rằng, ông là một thiên tài, một triết gia, tác giả của những pho sách để đời, những bài học kinh điển về đạo đức và nhân cách làm người, thể hiện như trong “Ba chàng Ngự lâm Pháo thủ” hay “Bá tước Monte Cristo”… Để rồi một ngày, họ đã long trọng rước thi hài ông vào yên nghỉ tại ngôi đền linh thiêng dành cho các bậc vĩ nhân ở Paris – Điện PATHEON.

Suốt cả thế kỷ qua, NVV là đối tượng đã tiêu một lượng lớn giấy mực của xã hội, gương mặt để lại những nỗi ám ảnh dài lâu trong tiềm thức của hậu thế, của những người mến mộ, và cho cả những đối tượng từng tìm cách phủ nhận ông… Vậy, điều gì đã tạo ra cơn ‘giằng xé’ dai dẳng, cản trở việc dành cho NVV một ngôi vị chính danh, khi nói về một tác nhân, kẻ đã làm thay đổi màu sắc văn hóa ‘truyền thống’, thổi bùng ngọn lửa nhân văn, làm thức tỉnh tâm hồn người Việt trong dòng chảy của nền văn minh nước Việt ở đầu thế kỷ XX?!

Quan sát NVV từ nhiều phía, chúng tôi ngạc nhiên đến mức lắng đọng, khi tiếp cận với không biết bao nhiêu những ý kiến nặng lòng của những gương mặt gạo cội, với sự trân trọng và thán phục, kèm cả những nỗi niềm khắc khoải, toát ra cả vị đắng và chát mỗi khi nói về NVV ở cái thời xã hội còn hồng hoang về tư tưởng, trong một đất nước đang tìm cách rũ bỏ cái bóng ma của nền Phong kiến cổ hủ, thoát khỏi cái gông cùm hà khắc của Thực dân, quyết tìm đường hòa nhập một cách bình đẳng với nền văn minh nhân loại.

Để hiểu thêm về bản chất NVV, chúng tôi xin được cung cấp đôi ba tư liệu, kèm sự diễn giải thuần túy về hoàn cảnh lịch sử, những bối cảnh xã hội gây choáng ngợp, tạo ra vô vàn cảm xúc cho các nhân sỹ danh tiếng đáng kính cùng thời, tác giả của những cơn cuồng phong về tư tưởng, về tranh biện, mở ra sự thức tỉnh về tâm trí, không phải chỉ với giới tinh hoa cấp tiến, mà cả cho những nhân vật nổi danh trong lực lượng chính trị thắng thế về sau trên chính trường, mà sinh thời, giữa họ đã từng nhìn nhau như những kẻ đối địch ở hai bờ chiến tuyến.

Từ ngờ vực đến ngả mũ trân trọng.

1/ Danh sỹ Phan khôi (1887-1959), danh là Ngự sử văn đàn (là cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu 1829-1882), người thắp ngọn đèn tự do giữa kỷ nguyên đen tối về dân trí, người khái tính, khắt khe, nổi tiếng trong việc phán xét đến mức thành tai tiếng, để lại những giai thoại gây ngạc nhiên trong lịch sử chính trị cận đại Việt Nam, và ông cũng là người chứng kiến gần như toàn bộ cuộc đời của NVV.

Phan Khôi uyên bác đích thực, khi là một trong những người Việt Nam đầu tiên dịch Kinh Thánh ra chữ Quốc ngữ (1926), và ông đã không thể kìm lòng khi chứng kiến sự qua đời của NVV, không phải vì thân thiết, vì gắn bó, mà vì những ấn tượng mang tính bùng nổ về hình ảnh của một mẫu người hiền tài trong tâm thức của mình, ‘ép’ ông phải bộc bạch trần trụi trên văn đàn (Tạp chí ‘Sông Hương – Huế’, số Một ngày 1/8/1936) như sau: 

“Giữa chúng ta, ông Vĩnh đáng gọi là một kẻ sĩ hào kiệt. Sự lập thân xử thế của ông đã đảm bảo cho ông đáng được cái tên ấy một cách vững chãi…”.

Vậy nhưng, ba chục năm trước khi Phan Khôi viết những dòng sấm truyền ấy, khẳng định NVV là HÀO KIỆT, bối cảnh xã hội đã không giúp cho ông và đồng bào của ông hiểu được những hành xử ‘khác lạ’ và quyết liệt của NVV trong xã hội đương thời. Cộng đồng xã hội phong kiến VN từng dị ứng ngay cả vẻ ngoài của NVV, họ nhìn ông bằng con mắt mặc cảm đến mức ngứa mắt, vì với họ, phong cách, lối sống của ‘Tân Nam Tử’… là ‘trái’ với thuần phong từ muôn đời của một giống dân.

Trong hồi ký của Nhà văn Vũ Bằng (1913-1984), người hiểu và giữ nhiều di cảo (kể cả ‘gia phả’ như ông tự nhận) của NVV cho biết:

Trên chuyến tàu biển từ Hải Phòng sang Pháp dự hội chợ thuộc địa năm 1906, khi con tàu đi qua kênh đào Xuy ê (Xuez), trước không khí náo nức của dàn khách nhiều quốc tịch cùng đi trên tàu, NVV đã tỏ ra ‘ấm ức’ đến mức phải ta thán trong một bức thư viết về cho người em ruột là Nguyễn Văn Thọ, về tâm lý bị ám ảnh khi nói đến những trang phục mình đang mặc (áo the, khăn xếp, đi guốc…).

NVV thấy như bị xúc phạm trước những ánh mắt soi mói của thiên hạ, nó như làm ‘yếu’ đi cái giá trị của thằng người… Vậy nên khi ông sang đến Mác Xây (Marseille), ông đã nhắn với người em trong lá thư tiếp theo là:“Chú nói giúp hộ với nhà tôi, rằng bất đắc dĩ tôi đã may quần áo tây rồi. Ăn mặc như thế, người ta mới không ngạc nhiên và đỡ bình phẩm về mình…”.

NVV tự tin và luôn ý thức rằng, Tạo hóa sinh ra mọi người đều bình đẳng, cái vẻ sang, hèn phụ thuộc vào tác phong của mỗi người, là tính cách riêng, nhưng nó lại là sản phẩm của cách tư duy, hệ quả của vốn văn hóa mà kẻ đó có.

Khi trở lại quê nhà, NVV đã giữ nguyên phong cách mặc âu phục, đi dày da, nói tiếng Tây như… Pháp, thậm chí tham gia mở cuộc vận động trong ĐKNT, đòi bỏ lối trang phục ‘truyền thống’, khuyến cáo cánh đàn ông từ bỏ việc đi guốc và để tóc dài… Và chỉ chừng đó thôi, NVV đã tự chuốc lấy sự mặc cảm của một bộ phận dân chúng, đặc biệt là các Nho sỹ cựu học với hình ảnh đặc trưng là áo the, khăn xếp.

Dân chúng, với sự dẫn dắt của tầng lớp tinh hoa thời đó, khỏi cần suy xét ngang dọc, họ đã coi vậy là quá đủ lý do để kết án: NVV theo Tây, tác phong NVV ‘giống’ bọn Thực dân, bọn xâm lược! Thế rồi, cái ‘nhãn hiệu’ khôi hài ấy, đã theo NVV đến tận… hôm nay!!!

Sự đổ vỡ của Phong trào ĐKNT 1907 là quá khủng khiếp đối với riêng NVV (Chính sử Việt Nam tuyệt nhiên đã không viết một chữ nào về diễn biến này, cho dù NVV từng là thành viên sáng lập Phong trào), nhưng vào thời điểm ấy, xã hội An Nam không ai biết nỗi đau đó của ông, bởi cũng không ai biết bức văn thư viết ngày 11/12/1907 của NVV gửi trực tiếp tới ngài Hause – Đốc lý Hà Nội đã nói gì?! (TT. Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp CAOM).

Họ (những người cùng thời) càng không biết, rằng khi ĐKNT tan vỡ, NVV đã là hội viên Hội Nhân quyền Pháp từ một năm trước đó, đồng thời, từ năm 1906, ông cũng là người tán thành một cách sâu sắc quan điểm cách mạng của Phan Châu Trinh (PCT), về đòi hỏi một cuộc duy tân đất nước. Bằng việc làm cụ thể, NVV đã nhận dịch toàn văn bản kiến nghị chính trị – Thư trước tác Hậu bổ (còn gọi là Đầu Pháp Chính phủ thư) của PCT, dài 10 trang viết bằng chữ Hán sang Pháp ngữ, gửi Toàn quyền Đông dương đòi cải cách đường lối cai trị đối với đất nước An Nam.

Những sự thật lịch sử này ngày ấy, đã từng có người coi là ‘viển vông’… Còn cái danh xưng ‘Hội viên Hội Nhân quyền Pháp’ nó quá xa lạ trong tiềm thức của dân chúng, ngày đó, người Việt có mấy ai có khái niệm về Nhân quyền! Chưa nói tới việc, làm sao để người dân An Nam hiểu được những mâu thuẫn căn bản tới mức nhạy cảm, giữa người Pháp Thực dân với Hội Nhân quyền Pháp, dân ta làm sao biết, rằng hai thực thể đó luôn là đối thủ âm thầm của nhau trong cái chính thể Cộng hòa?! Với người An Nam nói chung ngày đó, nói đến Pháp (Tây) là… Xấu!

Giữa bối cảnh vừa nêu, phần lớn các nhân sỹ của ĐKNT khi bị khủng bố, không mấy ai biết, rằng NVV và Phạm Duy Tốn (1883-1924, nhân sỹ quan trọng của Phong trào), đều đã bị tạm giam ở Hà Đông, điều mà mãi đến tận năm 2025, nhờ sự ra đời “Tuyển tập các tác phẩm của Đào Trinh Nhất (1900-1951) do NXB Lao động ấn hành, người quan tâm mới… giật mình!

Khi hai con người ấy được ‘thả’ tự do, cũng không mấy ai để tâm để hiểu, rằng NVV là kẻ có khả năng biết cách tự bảo vệ mình, và ông đã là người VN duy nhất ‘dám’ ký đơn gửi Nhà Cầm quyền (NCQ), đòi thả Phan Châu Trinh vì PCT vô tội!

Lại nữa, cũng không ai hay, rằng vì lòng quý trọng đặc biệt với đồng chí của mình,  bằng uy danh cá nhân, NVV là kẻ đã đứng ra đòi NCQ ân xá, hủy án tử hình cho Bưu văn Phan Kế Bính (1875-1921), một nhân sỹ tài hoa, bị quy tội phản loạn vì tham gia ĐKNT… (điều này, t/g cũng vô tình được biết qua chương trình “Danh nhân đất Việt” của VTV2, Đài TH. VN. Sau khi xem, t/g đã gặp và được gia đình dòng họ Phan Kế Bính xác nhận).

Chính cái sự hiểu biết phiến diện của thời cuộc, cộng với sự mặc cảm, tính đố kỵ của giới cựu học do không thấy NVV bị bắt như những người khác, họ đã hồ nghi tính trung thực của NVV, thì Phan Khôi lúc đó chỉ là cậu học trò dưới mái trường ĐKNT, cũng không phải ngoại lệ để phán rằng: 

“Về việc trước (ĐKNT-t/g), người ta cho như gặp lúc cháy nhà, con chuột nào có thể thoát thân được thì để mặc nó thoát thân;”

Cái hình ảnh thiếu nhân cách của một… con chuột ấy, phải mất tới ba chục năm sau, cũng cái người đã ‘chót’ nghĩ NVV là con chuột thoát khỏi đám cháy… Lại đã không ngần ngại mà khẳng định một cách dứt khoát về cái tâm, cái đức và nhân cách của NVV là:

“Trong con mắt tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh là một trang hào kiệt, Mạnh Tử có nói: “Đến như kẻ sĩ hào kiệt thì dù không có Văn Vương cũng dấy lên”. Trong câu nói ấy thấy người hào kiệt đầy cái khí phách tự lập, đúng như cái khí phách của ông Nguyễn Văn Vĩnh chúng ta…”.

Chưa hết, trong nhận thức của Phan Khôi, một sự việc tạo thành cái nghi án lịch sử chính trị vào cuối thập niên 20 dành cho NVV, là khi ông cương quyết đòi thiết lập chế độ chính trị TRỰC TRỊ ở đất nước An Nam. Phan Khôi đã không bao quát được hết cái nội dung cấp tiến ấy của NVV, trong khi thực chất, cái kiến nghị đó là hiện thân của những lý do lịch sử ngẫu nhiên, nó cấp thiết trong bối cảnh các lực lượng chính trị đang tìm cách vật lộn, đưa đất nước đi tìm một trật tự khác chưa có tiền lệ.

Vào cái thời khắc lịch sử ấy, Phan Khôi đã không thể thấu hiểu được hết cái quyết tâm điên rồ về chính trị của NVV, mục đích là để chống lại việc áp đặt thể chế Quân chủ Lập hiến của Thực dân và Vương Triều Huế, nhằm duy trì cái kiếp sống một cổ hai tròng đối với người dân An Nam!

Phan Khôi càng không nắm được, rằng nhờ sự hiểu biết thấu đáo về hệ thống chính trị của nước Pháp, cái thiết chế TRỰC TRỊ được NVV nghiền ngẫm, nghiên cứu từ hàng chục năm trời, thông qua các học thuyết triết học, đúc kết từ những luận thuyết chính trị nổi tiếng của các triết gia hàng đầu thế giới. NVV còn đi tìm sự đồng thuận của các nhà cách mạng uy danh, bằng cách tham vấn, trao đổi với bậc đàn anh là Phan Bội Châu từ năm 1926 tại Huế… Phan Khôi đã tỏ ra lấp lửng khi phán xét NVV, trước sự ồn ào trong dư luận về cách thức ghi ơn ông rằng:

“Một người còn có chỗ để cho dư luận ngờ vực như thế thì làm sao ta lại nói đến sự dựng tượng đồng cho người ấy được?!” 

Lịch sử luôn cho thấy, việc nhìn nhận một con người, một sự nghiệp mãi là một điều nan giải, nhất là trước một nhân vật mang nhiều sắc thái khác lạ so với mặt bằng nhận thức ở một xã hội còn hồng hoang về chính trị, sáng tối còn đang là sự tranh chấp giữa Phong kiến, Thực dân và Vô sản… Mà cho đến những ngày tháng đó, người dân An Nam chưa bao giờ biết đến một thể chế xã hội nào khác ngoài chế độ Quân chủ Chuyên chế, thì để hiểu rõ NVV, chỉ có thời gian mới đủ sức làm sáng tỏ.

Cuối cùng, Phan Khôi cũng lộ ra cái mâu thuẫn bất cập khi nhận thức về nhân cách NVV, nên từ một góc sâu thẳm của lòng trắc ẩn, ông vẫn đã phải nói ra những điều gan ruột đến mức thấu tim. Ông kết luận giản dị trong âm thầm về lòng kính trọng nhân cách con người NVV, nó ngược hẳn lại với những nhận thức có tính suy đoán trước đó ba chục năm của chính ông, rằng NVV không những không phải là một con chuột… Càng không phải là kẻ háo danh để mong có bia, có tượng như chính Phan Khôi xác nhận, và ông đã thầm thì:  

“… như thế mà gọi ông là “văn hào”, hơn nữa là “đại văn hào”, chắc ông không chịu, vì ông sinh tiền là người biết điều lắm, không hay dởm như kẻ khác…!”.

Hình như Phan Khôi đã ‘vô tình’ thay mặt lịch sử đương thời để nói với hậu thế rằng: NVV là thế nào? Và thế nào là nhân cách của một thằng người?!

Một người ‘đàn em’ được ngưỡng mộ.

2/ Phan Bội Châu (PBC 1867-1940), danh sỹ, Nhà cách mạng nổi tiếng, người tin tưởng vào các giá trị của các hệ tư tưởng khác nhau một cách khó hiểu: Karl Mác (Đức), Lê Nin (Liên Xô), Khổng Tử (Trung Quốc), Mahatma Gandhi (Ấn Độ), J.J.Rousseau (Giăng Giắc Rutxo) hay Montesquieu (Môngteskiơ) của nước (Pháp)…

Cuối thế kỷ XIX, tuy người Pháp đã hoàn thành cơ bản việc bình định xứ Đông Dương, nhưng họ lại để lộ cái bản chất hà khắc của Thực dân trong chính sách cai trị, tạo ra sự bất mãn trong xã hội, cộng với chế độ một cổ hai tròng, dẫn đến sự kháng cự âm thầm của các lực lượng chống đối. Trước bối cảnh đó, PBC đã khởi sướng Phong trào Đông Du (1904), hi vọng bằng con đường bạo lực, cộng với sự trợ giúp từ bên ngoài, nhằm lật đổ vai trò của Thực dân Pháp. Chủ trương này trái với quan điểm chiến lược của PCT và NVV khi tổ chắc Phong trào Duy Tân (1906).

Xong nhờ có lý trí, cùng tư duy có bản sắc, họ tôn trọng sự khác biệt của nhau, nên cả hai Phong trào vẫn cùng song hành.

Đầu thế kỷ XX, lịch sử đã chứng kiến những khúc mắc, những sự cạnh tranh ngấm ngầm trong việc dành thế độc tôn của các lực lượng cách mạng khác nhau, dẫn tới sự thoái trào của cuộc cách mạng ĐÔNG DU và PBC bị bắt (1925). Thực tế này đã tác động mạnh đến sự nhãn quan của PBC, khi ông chứng kiến những diễn biến, những thành công của phong trào DUY TÂN mà NVV theo đuổi, cùng những thành quả hiện hữu của cuộc cách mạng khai dân trí đem tới từ Phong trào ĐKNT.

Năm 1925, với sức mạnh của đồng tiền, liên kết với các thế lực ngầm, NCQ đã đặt dấu chấm hết cho lý tưởng đấu tranh của PBC bằng việc bắt giữ ông. Thay vì tuyên án chung thân, NCQ đã buộc phải ‘ân xá’ cho PBC và cấm ông đi khỏi nơi cư trú, thực chất là để cách ly với môi sinh cách mạng,

NVV nhận thức, việc PBC bị giam lỏng ở Huế, không có nghĩa, rằng PBC đã hết năng lực cách mạng, ý chí đấu tranh đã tàn lụi! NVV tin vào nhân cách của PBC, vào ý chí của ông, và NVV đã chủ động vào Huế để gặp PBC, bắt chấp những hệ lụy có thể xảy ra.

Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa PBC và NVV, đã càng làm cho PBC thêm trân trọng những khát khao của NVV trong việc tạo dựng một xã hội tri thức, làm nền tảng cho việc tạo dựng một quốc gia độc lập và dân chủ, cũng giống như ông từng thai nghén từ hai chục năm trước đó. PBC hiểu rõ tấm lòng của NVV trong việc tầm sư học đạo, bất chấp cả sự giám sát hà khắc của chế độ.

Nếu Cơ quan An ninh Phủ Toàn quyền Đông Dương coi NVV là cộng sự đắc lực, nếu người Pháp Thực dân coi NVV là công cụ của chính sách thuộc địa như cách hiểu và cáo buộc của những nhóm cách mạng khác, họ đã không câu lưu NVV sau khi ông từ Huế về trở lại Hà Nội.

Và nếu không có cái ‘biên bản’ của Cơ quan mật vụ về cuộc gặp có tính sự kiện này của NVV và PBC, hẳn đời sau sẽ không bao giờ biết, rằng những tư tưởng lớn đã gặp nhau như thế nào?! Những người yêu cái dân tộc này, dù khác nhau về cách động viên cách mạng, nhưng họ đã trân trọng nhau ra sao, khi cùng có một lý tưởng?!

Để cho minh bạch, chúng ta cùng đọc lại nội dung biên bản do Cơ quan An ninh lưu giữ trong hồ sơ mang mã số SPCE 374, tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp CAOM (người dịch: Nhà giáo Đỗ Ca Sơn 1932 – Chiến sỹ mặt trận Điện Biên Phủ 1954), xem NVV đã nghĩ gì và nói gì về thế nào là một Nhà cách mạng?!

  • Điều tra viên BETRAND hỏi NVV:

“Ông giải thích thế nào về ý kiến cho rằng, một Nhà Cách mạng là một người yêu nước?

  • NGUYỄN VĂN VĨNH trả lời:

“Điều đó chỉ có ở một đất nước tự do, còn ở một đất nước bị ngoại bang cai trị, thì làm một nhà Cách mạng phải là một người yêu nước!”.

  • BETRAND hỏi tiếp:

“Vì sao ông xem cụ Phan Bội Châu như một người đứng trên các quan lại?”

  • NGUYỄN VĂN VĨNH trả lời:

“Ngày xưa các quan là ‘phụ mẫu’ của dân, nhưng ngày nay họ là viên chức, nghĩa là người làm công ăn lương của người đóng thuế, nhưng họ không phục vụ dân, không phục vụ cả Nhà nước Bảo hộ, ngược lại họ là những kẻ lừa dân, bằng những việc xấu, họ làm dân chúng căm phẫn Chính quyền. Tôi không coi trọng họ chút nào, tôi nghĩ rằng, những bậc khoa bảng nói chung và cụ Phan Bội Châu nói riêng là những người đứng trên những kẻ đó.

Cụ Phan Bội Châu là một vị anh hùng, bởi lẽ cụ bao giờ cũng chỉ đi theo lý tưởng của mình và không bao giờ chịu khuất phục cường quyền”.

Đáng tiếc, vì đến đầu những năm 30, qua những tranh luận giữa NVV và Nhà Cách mạng Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), dân chúng hiểu rằng, PBC đã không còn chủ động được trong việc động viên cách mạng. Nhưng vốn bản chất PBC là con người say mê tranh đấu, ông đã ‘vô tình’ lặp lại một vài ba phương thức cổ vũ bạo lực như đã từng làm cách đó 30 năm, đẩy NVV vào thế bất lợi do ông theo đuổi đường lối đấu tranh nghị trường đrr đòi quyền tự trị cho An Nam.

Sự thể này đã làm nảy sinh mâu thuẫn kỹ thuật giữa NVV và PBC, đưa NVV đến chỗ bất bình đến mức giận dỗi, cáo buộc PBC là Hủ Nho!

Diễn biến bất lợi này đã làm hại cho uy tín của cả hai con người trên trường chính trị, vì nó đã tạo ra lý do để cho kẻ cơ hội của những thế lực khác hạ thấp uy tín của cả PBC và NVV.

Tuy nhiên, là những con người cao đạo, trân trọng tài năng và đức độ, tôn trọng sự khác biệt trong suy nghĩ của nhau, việc va đập bởi những ý kiến trái chiều trong những khoảnh khắc lịch sử ấy, đã không hề làm cho họ biến thành những kẻ đối đầu, họ không sát phạt lẫn nhau, không làm thất vọng niềm tin và lòng ngưỡng mộ những người tài được dân chúng quý trọng!

Và rồi một ngày, PBC đã không cầm được lòng mình khi nghe tin NVV qua đời… Do bị giam lỏng, PBC đã phải viết đôi câu liễn gửi từ Huế ra Hà Nội viếng tang NVV bằng những giọt nước mắt… Nó không chỉ toát ra sự mặn nồng trong tình cảm của PBC, mà còn là sự trân trọng, ngợi ca với lòng thán phục người ‘đàn em’.

Cả dân tộc thuộc lòng nhân cách của Nhà Cách mạng lỗi lạc PBC, mẫu người không bao giờ biết lụy tình, vậy mà trước sự ra đi mãi mãi của NVV, PBC đã phải đau xót than lên trong những nét chữ. Thậm chí PBC còn suy xét, nếu chỉ viết bằng chữ Hán (thứ chữ mà ông rất thạo), e sẽ không vừa lòng con người đã sống mái nuôi dưỡng cái con chữ ghi âm từ tiếng mẹ đẻ, kẻ đã hy sinh trọn đời mong biến nó thành Quốc tự, vậy nên, PBC đã dùng cả hai thứ chữ để tri âm với người đã nằm xuống.

Toàn bộ đôi câu liễn điếu với lời dẫn của PBC gửi từ Huế ra đám tang NVV ngày 8/5/1936 ở Hà Nội như sau:

Ngày tôi mới về Huế, được gặp ông chủ báo Trung Bắc Tân Văn vào Huế thăm tôi cùng một xe hơi với tôi đi Cửa Thuận. Xe nhà ông, ông cầm lấy lái. Nhân duyên xa lạp chưa trải bao nhiêu mà đường lối Bắc Nam chốc thành vĩnh biệt. Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông:

1) Phần tiếng Việt.

– Duyên tương tri nhớ trước 10 năm, xe tự do chung lái, sóng biển vui tai mộng hồn há lẽ hững hờ, quang cảnh còn in mây Thuận Tấn;

– Tài bác học trỗi trong hai nước, đàn ngôn luận phất cờ, làng văn nở mặt, công nghiệp tuy còn lở dở, thanh âm từng dạt gió BaLê!”

2) Phần tiếng Hán, người dịch: Trần Thị Băng Thanh – PGS.TS Văn học Cổ.

– Mây hạc sẽ về đâu, ôi bạn ta ngọc báu của năm châu, kim khánh chửa từng đeo, há có như núi vàng mà cướp người tài mang đi mất;

– Sóng biển còn như cũ, nhớ lão phu duyên trước đã mười năm, tiếng xe còn chung vẳng, biết bao giờ gặp lại để cùng trẻ tạo cuộc rong chơi.

Ghi chú:

Các đoạn tư liệu dịch, tác giả sẵn sàng cung cấp khi có yêu cầu từ các độc giả.

Hết phần 3A

One Response

  1. Đọc lại phần 3 về đề tài Nguyễn văn Vĩnh ta càng tiếc thương một nhân cách vĩ đại. Tất cả do sự đố kị của người đời, sự thiếu hiểu biết. Đặc biệt, suốt 80 năm người ta cố tình dạy văn học sử sai lệch. Dù sao, ngọn lửa chân lí sẽ thiêu đốt mọi tà khí để trả lại công bằng với người có thiện tâm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network