NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG TRONG NGUYỆN VỌNG XÂY DỰNG MỘT NƯỚC VIỆT NAM TỰ DO, DÂN CHỦ THEO CHẾ ĐỘ CỘNG HÒA của NGUYỄN VĂN VĨNH và PHAN BỘI CHÂU (1).
Bối cảnh lịch sử
“Trong lịch sử Việt Nam, tư tưởng lập hiến không xuất hiện ở một người, qua một phong trào, cùng một lúc dẫn đến thành tựu, mà nó phát sinh ở nhiều nhà tư tưởng, qua nhiều phong trào cách mạng kế tiếp nhau và phát triển từng bước, tiến lên theo thời gian…. Nếu xét về mặt lịch sử, Phan Bội Châu là người đầu tiên nêu vấn đề lập hiến thành yêu cầu bức xúc ở nước ta vào năm 1907”. (2)
Nguyễn Văn Vĩnh kém Phan Bội Châu 15 tuổi, ông tham gia vào cuộc cải cách văn hóa xã hội khi Phan Bội Châu đã 40 tuổi. Động cơ, ông mong muốn có một đất nước của người Việt Nam, có nền văn hóa độc lập, với nền văn minh mang bản sắc riêng của người An Nam, tránh việc Hán hóa, hạn chế ảnh hưởng nặng nề của quá khứ lịch sử, từ thực tế địa chính trị diễn ra trước cả chục thế kỷ.
Để giữ được lý tưởng và định hướng cho bản thân, ông đã không khuất phục trước hàng loạt những cám dỗ dai dẳng như một ‘định mệnh’ trước người Pháp Thực dân, ép ông toàn tâm toàn ý, gắn bó chung thành với hệ thống cầm quyền và chiến lược cai trị thuộc địa, một trong những chính sách khá thành công của nước Pháp ở thế kỷ 19. Đó là chưa nói tới sức cản, sự phản ứng của lực lượng bảo thủ phong kiến Việt Nam, họ không chỉ không nhận thức được những giá trị cốt lõi mà Nguyễn Văn Vĩnh hướng đến, thậm chí họ còn lo lắng, rằng đó là mối đe dọa đến những lợi ích của cả hệ thống cầm quyền.
Thật trớ trêu, vì sau nhiều phương thức dụ dỗ, lôi kéo không có kết quả suốt thập niên 10 và 20 ở thế kỷ trước, người Pháp đã bất lực trước việc yêu cầu ông chấm dứt công kích Triều đình Huế, và không được phê phán các chính sách cai trị của Chính phủ Bảo hộ.
Họ biết, những phương thức truyền bá văn hóa mà Nguyễn Văn Vĩnh phát động, sẽ thúc đẩy việc mở mang dân trí, nhất là thông qua các ấn phẩm in bằng chữ quốc ngữ, loại chữ viết mới được quảng bá, tạo được sự tò mò, khao khát khám phá thế giới mới đối với dân chúng, giới hạn những tác động của tư tưởng Hán học qua con chữ.
Vào thời điểm lịch sử đó, theo cách quảng bá của Nguyễn Văn Vĩnh, đây là loại chữ viết giúp người Việt hào hứng trong tinh thần, nó nhanh chóng lan tỏa vì dễ học so với chữ Hán và chữ Pháp, mở ra một nhãn quan xã hội mới trong tư duy, lối sống của cộng đồng, vì thế, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị Nhà Cầm quyền coi là nhân tố, là kẻ nổi loạn, nên đã cấm ông viết dưới mọi hình thức bằng chữ Quốc ngữ (1930)!
Sự thật mỉa mai này của Chính phủ Thuộc địa, thể hiện sự hèn nhát, đi ngược lại những sách lược của chính họ trước đó nửa thế kỷ, về việc lựa chọn một loại chữ viết cho dân tộc này, giúp thuận lợi cho đường lối cai trị, nhưng họ lại lo sợ, chính cái con chữ đó sẽ giúp người An Nam mở mang kiến thức, tăng cường trí lực dẫn đến sự đấu tranh trước mọi chiêu thức dối trá, hòng nô dịch một giống dân lâu dài.
Để đối phó với tình hình chính trị, để tránh luật kiểm duyệt, duy trì cuộc đấu tranh với các lực lượng bảo thủ, và tận dụng hoàn cảnh với việc viết bằng tiếng Pháp không phải xin phép, cùng với quyết định khắt khe của Nhà Cầm quyền vừa ban hành trong buổi họp tháng 9/1930 của Nghị viện Đại biểu Nhân dân Bắc kỳ, là cấm các tranh cãi về chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định, đổi hướng cuộc đối đầu với chính quyền bằng việc thành lập công ty, và lập tờ báo riêng xuất bản bằng tiếng Pháp, lấy đó làm diễn đàn, và là cơ quan ngôn luận, tên báo là L’ANNAM NOUVEAU (Nước Nam Mới).
- Thực tế này, liên quan tới mối quan hệ đặc biệt giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, cả về mặt tích cực và tiêu cực.
Trong những tuyên bố có tính cương lĩnh in trên trang nhất số đầu tiên của tờ báo, lập trường, quan điểm chính trị, xã hội của Nguyễn Văn Vĩnh được nêu rõ mục đích, là đòi phá bỏ chế độ Quân chủ lập hiến, chấm dứt sự ỷ lại của một vương triều, tạo dựng một nước An Nam độc lập, có Hiến pháp, có Nghị viện và người dân có quyền bầu cử tự do, mà vẫn là người bạn tin cậy của nước Pháp văn minh phát triển.
Đặc biệt, đấu tranh để có một nước Việt Nam của người Việt Nam từ tay của người Pháp Thực dân, mà vẫn tôn trọng dân tộc Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh xác định:
“Người An Nam, phải có thể được yêu nước Pháp mà vẫn làm việc để khôi phục lại đất nước An Nam”.
(Les annamites doirent pouvoir aimer la France tout en travaillane pour la résurrection de la Nation annamite) (4)
Nghiên cứu những diễn biến trong cuộc đời của Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh vào giai đoạn 1926 đến 1932, người ta bắt gặp sự trùng khớp về một tâm trạng bức bối của hai con người này… Và rõ ràng, sự trùng lặp về những căng thẳng trong quan hệ với hệ thống chính trị của họ, không thể là sự vô tình, nhất là ở góc độ tư tưởng chính trị.
Tư tưởng tương đồng.
Năm 1925 Phan Bội Châu bị bắt ở Trung Quốc và dẫn độ về Việt Nam. Sau phán xử của Nhà Cầm quyền, họ để Phan Bội Châu sống tại Huế như một sự quản thúc.
Phan Bội Châu đã lăn lộn xây dựng phong trào giải phóng dân tộc suốt hai thập niên (1904-1924) cùng các nhân sĩ tiến bộ cả ở trong và ngoài nước, nhưng vẫn không định hình được mô hình tổ chức cách mạng mang tính xã hội hóa, hướng đến việc giành độc lập dân tộc.
Trong cùng giai đoạn, Nguyễn Văn Vĩnh song hành sự nghiệp khai mở dân trí thông qua chữ viết và ngôn ngữ văn hóa, đấu tranh kiên nhẫn với Nhà Cầm quyền để chấm dứt nạn ngu dân hóa, định hướng dân chúng giác ngộ xã hội bằng vốn tri thức tiến bộ của nhân loại, cùng những ảnh hưởng từ tư tưởng cách mạng, văn minh triết học, và văn hóa Pháp.
Ở mặt khác, Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện và giữ vững tính độc lập, tự chủ, không chịu phụ thuộc vào Chính phủ Thuộc địa, và khẳng định ý nguyện phải khôi phục quốc gia An Nam có chủ quyền, là điều mà Chính quyền Thực dân không thể chấp nhận.
Vậy là, vào bối cảnh đó, tư tưởng chính trị của hai con người này đều có những biến động mạnh, cả hai luôn bị khủng bố về tinh thần (Với Nguyễn Văn Vĩnh gồm cả vật chất). Nguyễn Văn Vĩnh từng thú nhận: “Tôi thất-bại lần này là lần thứ ba rồi. Bởi đã quen nên tôi cứ thản-nhiên như không” (5) , và họ đều nhận thấy bế tắc trong việc đối thoại với người Pháp, cùng những va chạm mạnh về chính trị, theo hình thức riêng của mỗi người trong quan hệ với Nhà Cầm quyền.
Năm 1926 Nguyễn Văn Vĩnh đã chủ động vào Huế, tìm đến gặp Phan Bội Châu (6) đem theo lòng tin về một bậc thức giả gạo cội, hy vọng của kẻ tầm sư học đạo, tìm sự đồng điệu trong khuynh hướng đấu tranh đòi quyền tự quyết cho dân tộc An Nam.
Qua những tư liệu hiện có, người ta thấy rõ tâm trạng của sự ngờ vực, thất vọng và có cả sự giận dữ đối với Chính quyền Thực dân của Phan Bội Châu, và Nguyễn Văn Vĩnh là rất nghiêm trọng. “Đơn giản mà nói, thực trạng hiện nay chỉ là một loại hình kinh doanh thuộc địa và chỉ chịu sự chi phối của Bộ Thuộc địa ở Paris mà thôi” (7).
Nhân tố gắn kết.
Suốt hai mươi năm liền, tuy Phan Bội Châu bôn ba ở Hải ngoại, nhưng thông qua các báo cáo và truyền đạt từ các nhân sĩ đồng minh, về các diễn biến xã hội, chính trị, văn hóa ở trong nước, ông nhận ra những đổi thay sâu sắc, sự phát triển rộng lớn về ngôn ngữ, chữ viết, truyền thông và văn hóa của người dân An Nam, là điều mà chính ông đã từng mong muốn, và coi đây là một trong những mục tiêu lớn của cuộc cách mạng do ông phát động.
Năm 1927, chính Nhà Nho Phan Bội Châu đã xác định trong cuốn sách ‘10 thang thuốc chữa bệnh cho dân tộc Việt’ như sau: “Nước ta bây giờ đang cần có sách học. Học sách Tàu? Hán văn đã không còn thích dụng ở đời nay. Học sách Tây? Pháp văn còn chưa mấy người thông hiểu…”.
Thầm phục những nỗ lực của Nguyễn Văn Vĩnh, nên khi ông lìa đời, Phan Bội Châu đã ca tụng: “Tài bác học trỗi trong hai nước, đàn ngôn luận phất cờ…” (8).
Phan Bội Châu nhận định, đó là ảnh hưởng của tư duy tiến bộ phương Tây, và ông thấm cái vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc nâng được vị thế của chữ quốc ngữ, trở thành thứ chữ viết phổ thông trong dân chúng, trở thành ngôn ngữ văn tự của một dân tộc, ông mừng, vì Nguyễn Văn Vĩnh là kẻ: “Thanh âm từng dạt gió Ba Lê” – (Paris, t/g) (9).
Về phía Nguyễn Văn Vĩnh, thời gian hai mươi năm là quá đủ để hiểu những nguyên tắc, những phương châm, cách thức tổ chức động viên cách mạng của Phan Bội Châu cùng những hệ quả của nó. Sự đổ vỡ trong sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu tính đến năm 1925, là sự phản ánh toàn diện đường lối và phương thức hành động của ông (10).
Mặt khác, việc Nhà Cầm quyền khủng bố Phan Bội Châu, đã lộ rõ quan điểm chiến lược và đường lối chính trị cực đoan của người Pháp đối với những nhân sĩ yêu nước tiến bộ bản địa. Điều này trái ngược hoàn toàn với những cam kết đầy màu sắc của họ cách đó 20 năm, sau giai đoạn ấn tượng của ngài Toàn quyền Paul Doumer (Nhiệm kỳ 1897-1902), về chủ trương giúp khai mở một đất nước An Nam tiến bộ, thoát khỏi ảnh hưởng tiêu cực của Chủ nghĩa Phong kiến Trung Hoa.
Cổ nhân dạy, ‘Vàng tìm vàng là bạn, ngọc tìm ngọc sánh đôi’, liệu có phải là mối quan hệ Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu ?!
Vào thời điểm, lịch sử của cuộc chiến tranh thuộc địa vừa chứng kiến sự chà xát, và đánh gục một con người là biểu tượng của lòng yêu nước, có lý tưởng lớn, tham vọng xây dựng một đất nước tiến bộ, giành lấy sự tôn trọng giữa con người với con người là Phan Bội Châu, với một người là Nguyễn Văn Vĩnh, cũng vừa trải qua những biến động tâm lý sâu sắc, sau chuyến đi lần thứ hai dự Đấu xảo ở Pháp năm 1922, với nỗi thất vọng ngấm ngầm về lối hành xử của người Pháp trong chính sách cai trị ở Đông Dương. Đặc biệt, cùng lúc, Nguyễn Văn Vĩnh lại chứng kiến chuyến công du của Vua Khải Định đến Paris được diễn ra một cách đãi bôi, hình thức ra sao, khi nhìn về mối quan hệ Việt – Pháp?!

Năm ấy, Nguyễn Văn Vĩnh đã quá thất vọng với đường lối cai trị của Chính phủ Pháp đến mức, ông bỏ việc tham dự các buổi hội thảo trong Đấu xảo, cùng Phan Văn Trường (1876-1933)(11) tìm sang Gutenberg bên nước Đức, quê hương của ngành công nghiệp in ấn, với tham vọng học hỏi những tiến bộ về công nghệ của ngành in và xuất bản lynotype, để về nước cải cách toàn bộ dây chuyền kỹ thuật in typo cũ kỹ do F. H. Schneider đưa sang Việt Nam từ gần 40 năm trước (12).
Nguyễn Văn Vĩnh cần nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất bản, cở sở để thúc đẩy cuộc cách mạng văn hóa bằng truyền thông, làm bàn đạp để đẩy nhanh việc phát triển dân trí, trí tuệ của toàn dân, hướng người dân sớm ý thức được đầy đủ, rằng thế nào là quyền con người, là tự do, bình đẳng trên cơ sở của luật pháp, của khoa học triết học… Từ đó biết cách đấu tranh giành quyền sống, quyền tự quyết trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền, tránh theo đuổi chiến tranh vũ trang đổ máu, và phải làm sao cho người Pháp tôn trọng, hiểu rõ hơn về những giá trị truyền thống, chứa đựng một tinh thần nhân ái sâu xa của một dân tộc được gọi là Annamite (13).
Sự kiện lịch sử
Do những thúc ép của hoàn cảnh chính trị, chuyến đi Huế của Nguyễn Văn Vĩnh tìm gặp và mạn đàm với Phan Bội Châu, hòng mưu cầu hệ quả của sự kết hợp giữa các tư tưởng lớn, chỉ được hậu thế biết đến khi đọc lại lời điếu đẫm nước mắt, phần viết bằng chữ Quốc ngữ của Phan Bội Châu gửi tới đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ở Hà Nội, có đoạn:
“Duyên tương tri nhớ trước mười năm, xe tự do chung lái…”
(Hai người gặp nhau ở Huế năm 1926, Nguyễn Văn Vĩnh mất ở Hà Nội năm 1936).
Những người làm sử và cả nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cận đại, đã cố tình không đếm xỉa (có phần vì không biết) đến sự kiện chấn động này, sự việc thể hiện đầy đủ quan điểm chính trị, cùng thái độ trân trọng và ngưỡng mộ lẫn nhau giữa các nhân sĩ yêu nước có học, trong cuộc đấu tranh có tính nghị trường với Chính phủ Thuộc địa, và những người Pháp thực dân chủ trương thống trị Đông Dương lâu dài.
Nếu không có một tấm lòng với tiền nhân, với sự thật lịch sử của một nhà nghiên cứu sử nghiệp dư, những nhà làm sử Việt Nam sẽ không bận lòng với sự kiện chính trị đáng kể này của hai con người nổi tiếng, khi nhân vật nghiệp dư đó trân trọng trao tặng tài liệu quan trọng này, được lấy từ Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM), cho người viết loạt bài này.
Đây là biên bản của Cơ quan An ninh Phủ Toàn quyền Đông Dương, thẩm vấn trong buổi câu lưu Nguyễn Văn Vĩnh, sau cuộc gặp với Phan Bội Châu trở lại Hà Nội.
Nhìn vào Biên bản lịch sử quan trọng đặc biệt ghi ngày 15/5/1926, người đời sau có thể hiểu rõ đến tận gan ruột của Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh, về một đòi hỏi cấp bách, quyền được có một quốc gia thật sự cho người dân An Nam.
Nội dung chất vấn của cơ quan An ninh Phủ Toàn quyền, đã chứng minh Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, những kẻ có trình độ nhận thức cao, với quan điểm tương đồng về việc phải xóa bỏ tầng lớp trung gian là Triều đình Huế, cơ sở để lập ra một đất nước An Nam độc lập, tự do và dân chủ.
Kẻ thẩm vấn, đã yêu cầu Nguyễn Văn Vĩnh, khai rõ những gì hai người trao đổi và thỏa thuận khi gặp nhau ở Huế.
Vốn tính khí thẳng băng, mẫu người không bao giờ nói khác những điều mình nghĩ, Nguyễn Văn Vĩnh không coi việc gặp gỡ với Phan Bội Châu là điều gì khuất tất, hay vi phạm pháp luật. Thậm chí, ông còn trả lời với thái độ bình đẳng, tự tin rằng, đó là cái quyền thiêng liêng, khi đặt ra khuyến nghị một cách công khai, rành mạch mà vẫn tôn trọng các cơ quan quyền lực, những kẻ đang đô hộ đất nước An Nam.
(Enquéte de M. BERTRAN):
“Au cours de son voyage à Huê, au mois de janvier demier (1926), je me suis trouvé avec Phan Bôi Châu et de nombreux personnages politiques annamite, nous avons convenu de former en Indochine un parti respublicain progressite. Nous avons élaboré des status que nous présenté à M. le Gouverneur Général, par l’intermédiaire, que M.le Gouverneur Général soumettrait le cas aux Résidents Supérieurs en Annam et au Tonkin.
(Trong chuyến thăm Huế hồi tháng Một vừa qua (1926), tôi đã gặp ông Phan Bội Châu và nhiều nhân vật chính trị người An Nam. Chúng tôi đã thỏa thuận việc thành lập ở Đông dương một Đảng Cộng hòa tiến bộ. Chúng tôi đã soạn thảo bản điều lệ và cũng đã trình lên Quan Toàn quyền, nhờ ngài chuyển tới quan Thống sứ Bắc kỳ và quan Khâm sứ Trung kỳ để xem xét).
Với nội dung này, đương nhiên Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh nhất thiết phải có quan điểm thống nhất, để cùng đạt tới thỏa thuận, thẳng thắn kiến nghị với kẻ cai trị, việc cần sớm có một Đảng Cộng hòa tiến bộ dành cho người dân Việt Nam, là một nhận thức có tính đồng thuận, hệ quả của sự am tường các nguyên tắc pháp lý không phải chỉ của nước Pháp, mà cả những quy chuẩn quốc tế trong lĩnh vực lập pháp. Dũng khí và trình độ của những nhân sĩ người Việt đầu thế kỷ trước, thật đắt!
Lịch sử trôi đi, hôm nay người đời nhìn lại quá khứ có biết, đã có những con mắt của những kẻ vô hồn mỉa mai, rằng: ‘Sao hai vị nhân sĩ ấy, lại ngây thơ chính trị đến mức hi vọng tinh thần tự do dân chủ từ bọn xâm lược nhỉ…?!’, mà họ không cần nghĩ, rằng hôm nay, chúng ta, cũng đã còn đang ‘ngây thơ’ đến độ không tưởng, trong việc nêu cao ‘tinh thần hợp tác’ xây dựng láng giềng như môi với răng, với một kẻ muôn đời không bao giờ từ bỏ quyết tâm thôn tính và đồng hóa dân tộc này!!!
Để nói về lịch sử phát triển nền lập pháp Việt Nam trước năm 1945, các nhà làm sử ở mọi thời kỳ có cần biết và nhớ, những nhân sĩ xuất chúng người Việt, đã từng nhận thức và suy nghĩ gì về việc phải xây dựng một Nhà nước cộng hòa, dân chủ trên tinh thần pháp luật… Từ khi nền dân trí của xã hội còn mỏng như những sợi tơ nhện?
Chúng tôi tin, chắc chắn, những văn bản kiến nghị này của Phan Bội Châu – Nguyễn Văn Vĩnh vẫn nguyên vẹn trong lưu trữ của Nhà nước Pháp, điều không phải khó khăn gì để các nhà nghiên cứu quan tâm và tôn trọng lịch sử, bổ xung thêm vào vốn hiểu biết về một chặng đường gian truân của các bậc tiền nhân, khi nghĩ về việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Vào bối cảnh lịch sử mà Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh đàm luận, mưu cầu xây dựng chế độ Cộng hòa cho đất nước An Nam, là một thực tế rất xa lạ với tầm nhận thức về chính trị của người dân Việt Nam nói chung. Từ đó, đủ thấy sự nhận thức đi trước thời đại của hai con người này ý nghĩa đến thế nào, chứ hoàn toàn không hề là một sự đề cao hay tán tụng!
Hai mươi năm tiếp theo sau sự kiện lịch sử đó, vào năm 1945, hẳn không vô cớ khi lực lượng Việt Minh cướp được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên của một thể chế mới cho đất nước Việt Nam là Dân chủ và Cộng hòa!
Lịch sử Việt Nam, như cách áp đặt do định kiến của một số nhà viết sử cận đại, đã sai đến mức họ cho rằng, Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu là hai kẻ đối nghịch về tư tưởng, về tư duy chính trị, từ đó, họ mặc nhiên thực hiện việc làm mang tính chia rẽ sâu sắc đến mức lâu dài, mối quan hệ tâm linh giữa các nhân sĩ yêu nước người Việt đầu thế kỷ 20! Vậy mà hôm nay, họ lại phát động tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc, thì lấy cơ sở ở đâu?
Có thể, chính người Pháp Thực dân đã tạo ra sự chia rẽ này, vì không đời nào họ muốn những tư tưởng lớn, những tấm lòng thiết tha yêu nước của các nhân sĩ bản xứ tiến bộ gặp nhau. Họ cũng không thể mất cảnh giác trước việc hình thành các liên minh chính trị đòi lật đổ Vương Triều Nguyễn, thứ công cụ đắc dụng cho việc cai trị mảnh đất thuộc địa với chủ thuyết Thực dân kiểu cũ, còn đang được chăm bẵm và chưa thực sự được định hình qua gần ½ thế kỷ.
Những người viết sử Việt Nam, cũng cần chấp nhận một góc khuất trong tư tưởng của tầng lớp các nhân sĩ Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, rằng họ muốn tận dụng sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương, là cơ hội để đẩy lùi và xóa bỏ cái thể chế phong kiến Trung Hoa lạc hậu, vật cản đối với dân tộc An Nam trên con đường tìm đến một thiết chế xã hội mới tiến bộ, và một tương lai có thực cho đồng bào mình!
Chứng minh cho quan điểm này, xin hãy xem vì sao, nhân viên an ninh Phủ Toàn quyền Betran, lại đặt câu hỏi trước Nguyễn Văn Vĩnh về Phan Bội Châu như sau:
“Pourquoi considérez-vous Phan Bôi Châu comme le supérieur des mandarins?”
(Vì sao ông xem Phan Bội Châu như một người đứng trên các quan lại?)
Nguyễn Văn Vĩnh trả lời:
“Autrefois, qu’on appelait les mandanrins les “pères et mères” du peuple, mais aujourd’hui, ils sont fonctionnaires, c’est à dire des employés à la solde du contribuable; il ne servent ni le contrbuable, ni le protectorat, ce sont au contraire des grugeurs de population et par leur méfait, its attirent la haine du peuple sur administration. Je n’ai donc, pour eux aucune considération et je pense que les lettrés gradués en général et Phan Bôi Châu en particulier, sont supérieurs de ces gens là.
Phan Bôi Châu est un héros dans le sens qu’il a toujours suivi son idéal et qu’il ne s’est jamais laissé contraindre par la force”.
(Ngày xưa, người ta gọi các quan lại là “phụ mẫu” của dân, nhưng ngày nay, họ là các viên chức, nghĩa là người làm công ăn lương của những người đóng thuế, nhưng họ lại không phục vụ dân, cũng không cả phục vụ Nhà nước Bảo hộ, ngược lại, họ là những kẻ lừa dân, và bằng những việc xấu xa của họ, họ làm dân chúng căm phẫn chính quyền. Tôi không có chút tôn trọng nào đối với họ cả, và tôi nghĩ rằng, những bậc khoa bảng nói chung và ông Phan Bội Châu nói riêng, là những người đứng trên những kẻ đó.
Ông Phan Bội Châu là một vị anh hùng, bởi lẽ cụ ấy bao giờ cũng đi theo lý tưởng của mình, và không bao giờ chịu khuất phục cường quyền).
Cũng trong một tài liệu ghi chép của mật thám được lưu trong hồ sơ cùng mã số, đã cho biết Nguyễn Văn Vĩnh từng trao đổi gì với Phan Bội Châu:
“C’est esvident, tout le monde le pense, lors qu’on a déjà des connaissances assez vaste, on pense toijours à les employer pour son bien particulier. Quant à vous, que compterez vous faire maintenant?”
(… Điều đó là rõ ràng rồi, ai cũng hiểu như thế. Khi kẻ nào đó có chút kiến thức và sự hiểu biết rộng một chút, thì họ luôn tìm cách sử dụng nó để phục vụ cho quyền lợi riêng của mình. Còn bây giờ ông dự định làm gì?)
Phan Bội Châu trả lời:
“Je ne veut rien faire! Je n’espère, dans tout le pays, on peut abolir le principe monarchique”.
(Tôi chẳng muốn làm gì hết! Tôi chỉ hy vọng các nguyên tắc của Chủ nghĩa Quân chủ ở cái đất nước này phải được xóa bỏ hoàn toàn).
Phan Bội Châu nói tiếp:
“Actuellement, dans tout le pays, on proclame la liberté, mais comment peut-on avoir cette liberté. ll faut eetre libre et y a t-il déjà cette égalité? C’est justement dans le pays où l’on proclame la liberté, qu’on n’ét pas libre. Si on y est déjà libre, il sera utile de proclamer cette liberté”.
(Hiện giờ trên cả nước, người ta công bố quyền tự do, nhưng làm sao mà có được cái quyền đó. Cần phải bình đẳng và tự do và thực chất cái quyền bình đẳng ấy đã có chưa? Ở một đất nước, nơi người ta rêu rao quyền tự do, thì thực chất người dân đang không có được cái quyền tự do ấy. Vì nếu người dân đang được tự do, thì việc rêu rao, công bố ấy là vô ích).
Nguyễn Văn Vĩnh tán thành và nói:
“C’est esvident, si on est déjà libre et qu’on proclame encore la liberté, on est donc pas vraiment libre”.
(Đúng vậy, nếu người ta đang được tự do, mà đi công bố về quyền tự do, thì thực chất là người ta đang không có quyền tự do thật sự!).
Kết luận:
“Sự khác nhau giữa họ trong khuynh hướng cách mạng, không hề tạo ra sự đối đầu, phân biệt, đố kị. Họ sống bằng nhãn quan văn hóa, luôn đặt mình vào tâm thế của những kẻ biết trân trọng sự khác biệt của nhau. Họ là một lớp trí thức với hình mẫu ‘Dị kiến đồng tâm’, nhưng họ cảnh giác chống lại lối sống ‘Đồng sàng dị mộng” (14)
Sự bóp méo nhận thức lịch sử về bản chất mối quan hệ Phan Bội Châu – Nguyễn Văn Vĩnh của những kẻ nào đó, liệu có phải là hành vi kế thừa di sản từ Chủ nghĩa Thực dân với chính sách chia rẽ các thành phần ưu tú của cách mạng Việt Nam, gây hận thù giống nòi, hòng ngăn cản xu hướng đoàn kết xây dựng một đất nước phồn vinh của dân tộc Việt?!
Người Ba Lan đã nói đúng: ‘Định kiến là nguyên nhân của mọi hận thù’.
Trong loạt bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh về chủ đề ‘Nền giáo dục cho người dân bản xứ’ (Enseignement indigène). trên tờ L’Annam Nouveau từ số 2 đến số 8 năm 1931, ông đã nhấn mạnh một nguyên tắc cần có, đối với những người có trách nhiệm trước vận mệnh của một dân tộc như sau:
“Lý tưởng của lớp người tinh hoa là cần phải có một viễn quan tổng thể, đồng thời lại không được bỏ quên cái riêng biệt. Phải dựa vào đông đảo quần chúng để có được đầy đủ nhất có thể về khái niệm ‘tổng thể’ đó, trong khi vẫn không làm cho quần chúng quên lãng những điều kiện sinh tồn riêng biệt trong không gian và thời gian của mình’’.
Thật tiếc, vì sự tương đồng trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh, về mục tiêu xây dựng một thể chế cộng hòa đã bị phá bỏ từ trứng nước, xong chí ít cũng nhắc lại cho đời sau biết, rằng các bậc tiền nhân đã nghĩ xa đến thế nào cho tương lai của một dân tộc ?! Họ biết, dân tộc này phải được sống trong một thiết chế xã hội tiến bộ, điều mà không phải chỉ có các quốc gia phát triển mới tìm đến !
Xin được hẹn các quý vị các bạn trong bài viết tiếp theo: ‘Mâu thuẫn căng thẳng về lập trường, quan điểm trong chủ trương hợp tác Pháp – Nam của Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu’.
Chú thích :
- Những người dịch các đoạn văn tiếng Pháp sang tiếng Việt gồm : Nguyễn Kỳ (1918-2013) Con trai thứ sáu của học giả Nguyễn Văn Vĩnh); Nhà giáo Phạm Toàn (1932-2019); Nhà giáo Đỗ Ca Sơn (Sinh 1932); Chuyên viên phiên dịch Nguyễn Như Phong (Sinh 1958).
- (BÀN VỀ LẬP HIẾN, bài viết của luật sư Phan Đăng Thanh, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 1 năm 2001).
- ‘Tờ báo này ra đời như thế nào ?’ L’Annam Nouveau 21/1/1931.
- Tuyên bố của báo L’Annam Nouveau 21/1/1931
- ‘Một giờ với Nguyễn Văn Vĩnh’ TIN VĂN, Hà Nội 28/7/1935.
- Mã số SPCE 374. CAOM.
- (Xem mục 4).
- Điếu văn phần tiếng Việt của Phan Bội Châu, gửi đến đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ở Hà Nội (Lưu trữ gia đình).
- (Xem mục 8).
- ‘Littérature séditieuse – Văn chương kích động’ L’Annam Nouveau số 116.
- Luật sư, tốt nghiệp Đại học Sorbonne, Paris. Giáo sư phụ giảng (répétiteur d’Annamite) ở Trường Ngôn ngữ và Văn minh Đông phương (École des Langues Orientales) ở Paris. Ông là một trong bốn người ký tên vào bản “Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam” hay còn gọi là “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” năm 1919 (Revendications du peuple annamite) với bút hiệu Nguyễn Ái Quốc, và được coi là ‘kiến trúc sư’ của văn bản này.
- Sự kiện này được diễn ra đồng thời với việc F. H. Schneider, dự kiến trao lại cho Nguyễn Văn Vĩnh hầu hết các cơ sở vật chất của ông ta ở Hà Nội, như một sự hàm ơn, trước khi trở lại Pháp sau gần 40 năm lăn lộn ở Việt Nam.
Đây cũng là nguồn gốc của việc đẩy Nguyễn Văn Vĩnh đến quyết định vay nợ Ngân hàng Đông Dương bằng sự thế chấp các tài sản này, và trở thành con nợ, thành kẻ nắm đằng lưỡi để Chính quyền Thực dân lấy cớ ép ông phải phá sản, nếu không chấp nhận các điều kiện của họ trong việc chấm dứt đối đầu chính trị theo phương thức truyền thông văn hóa.
- ‘Nếu tôi hiểu được phần nào xã hội người bản xứ, nếu tôi thưởng thức được một ít văn chương dân gian tuyệt diệu của người An Nam, thì chính là nhờ người bạn thương tiếc này (Nguyễn Văn Vĩnh. T/g)….’. (Báo cáo của Émile Vayrác, Trưởng phòng Sách báo Bản xứ gửi Phủ Toàn quyền Đông Dương ngày 17/2/1937 tại Hà Nội).
- Trích trong bài ‘LỊCH SỬ đã NÓI GÌ, và SẼ NÓI GÌ về NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU?’ đăng ngày 11/9/2020 trên Tannamtu.com.
Hết bài thứ tư trong chủ đề:
Mối quan hệ lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu.
Các bài có liên quan:
2 Responses
Bài viết hay lắm. Came ơn nhiều nhiều.
Huy
Excellent way of explaining, and good article to get information about my presentation focus, which i am going to convey in university. Almira Aksel Wake