Ông ‘CẦU LONG BIÊN’ – PAUL DOUMER

Quý Một năm 2020, Nhà Xuất bản Thế giới cùng Công ty sách OMEGA PLUS đã cho ra mắt cuốn sách“Paul Doumer – Toàn quyền Đông Dương 1897-1902”, viết xong năm 2004, của tác giả người Pháp Amaury Lorin, sinh năm 1972. Cuốn sách do ông Nguyễn Văn Trường, chuyên viên tiếng Pháp của Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội dịch sang tiếng Việt.

Cuốn sách mới về Paul Doumer của  Amaury Lorin

Để tránh mang tính chứng minh, tôi không muốn cụ thể từ đôi ba bình luận của giới truyền thông sau khi cuốn sách ra đời, cho rằng: Vai trò của ‘cái’ nhân vật người Pháp này ở Việt Nam như một Tổng Công trình sư, đúng! ‘Ngài’ đã góp nhiều công lao trong việc tổ chức, thực hiện những dự án đầy dấu ấn giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ở Bắc kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung, đúng! Nhưng những cố gắng đó, là để phục vụ tham vọng của bọn Thực dân, bọn Đế quốc …!

Cái lối nhận xét này, nghe như một sự phủ nhận, na ná như trong hôn nhân, có trường hợp, kẻ nọ, vì mê mẩn cô gái làng chơi, rồi nằng nặc đòi cưới người ta. Năm tháng qua đi, khi đã no xôi chán chè, hoa tàn nhụy héo, kể cả con cái đề huề với người ta, ngó sang ‘nàng’ khác, quay ra hắt hủi, diếc móc, chê bai, và kết cho người ta cái án: Ngày xưa, cô là gì? Cô có nhớ không…?!  

Nhờ có thời gian, tuy là kẻ hiểu biết ít, nhưng được chứng kiến nhiều, nên tôi vẫn thấy nó gờn gợn nỗi nghi ngại khi nói tới một gương mặt nổi danh trong quá khứ, mà thiếu khách quan, có phần định kiến, và cả một chút vô ơn.

Liệu, Paul Doumer có phải là đối tượng không được chính thể hôm nay tôn vinh với thái độ hàm ơn vì những lý do như tôi hiểu không? Tôi quyết định dành thời gian đọc và suy ngẫm về đề tài hệ trọng này.

Khi nhìn lại quá khứ, ở đâu cũng thế, và bao giờ cũng vậy, quan điểm, ý kiến, lời bình của bất kỳ ai, cũng đều phụ thuộc vào kiến thức, nhãn quan xã hội, thái độ chính trị, cùng với góc quan sát của họ, liệu có lệ thuộc vào sự định hướng chính trị nào đó không? Chỉ có điều, tôi ý thức rằng, thường những kẻ phán xét, và hay phán xét, luôn đông hơn và có tư chất khác hẳn, so với những người làm, những người thực hiện.

Song, dù đối tượng có khó hiểu đến đâu, đề tài có đồ sộ đến mấy, một người công minh, có tầm nhận thức, khi đứng trước những gì để lại của đối tượng được quan tâm, cũng sẽ nhận ra và xác định được hai cái giá trị dứt khoát, đó là: Sự có ích và sự vô ích!

Vậy tôi hiểu gì về những việc có ích, và vô ích được nhấn mạnh đối với sự nghiệp của ngài Toàn quyền Paul Doumer trong năm năm ở Việt Nam 1897-1902 ?

*****

– Ở lứa tuổi chúng tôi, lớn lên tại cái thành phố này, những nơi ‘vui chơi’ thủa thơ ấu, có đứa nào cùng lứa lại không biết Bãi Long Biên nằm dưới chân cầu Long Biên, nơi có những dải cát mênh mông, với bạt ngàn màu xanh của ngô, khoai lang, đôi chỗ có cả vạt mía, những thứ khi đói, tuổi thơ cộng với cái tính phiêu lưu bản năng, đã từng biến những đứa trẻ hiếu động bọn tôi, thành những tên ‘trộm’ một mùa. Để biện minh cho cái ‘hư’ ấy, cũng xin được gọi, đó là ‘trò chơi’ trẻ con, hẳn những người rộng lượng cũng sẽ tha thứ.

Học sinh cấp một ngày ấy, có ai không biết câu thơ in trong sách tập đọc:

‘Hà Nội có cầu Long Biên, vừa dài vừa rộng bắc ngang sông Hồng…’

Cái cầu Long Biên ấy, thấy người lớn bảo: Cầu do ‘bọn Tây’ nó làm hồi xưa đấy!

Cầu Long Biên, khi khánh thành được đặt tên là cầu Paul Doumer. (Ảnh internet)

– Ngày ấy, trẻ con con trai ở Hà Nội, vào những ngày hè nóng nực, chỉ quanh quẩn với những trò chơi dân gian truyền đời như: đánh khăng, đánh xèng, chơi bi, trốn tìm (còn gọi là xô-vê). Đứa trẻ nào có chút máu mạo hiểm, anh hùng kiểu liều lĩnh, còn dám nghĩ đến chuyện trèo cây me, sấu lấy quả, hoặc mò vào hái trộm các loại quả như ổi, doi, hồng bì…ở những nhà biệt thự có vườn, nằm dọc các phố quý phái như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Phan Châu Trinh… Hay mải miết đi tìm tổ dế, bắt ve, bắt xén tóc, dọc vỉa hè các phố có những hàng cây cổ thụ xum xuê quanh năm tỏa bóng (Ngày ấy, vỉa hè có lát gạch ở giữa, hai bên là cỏ).

Nhưng liều đến mấy, ham chơi đến mấy thì ham, chứ khi nghe thấy tiếng còi ủ vang lên báo hiệu 12h00 trưa, là cả lũ chạy bán sống bán chết về nhà để tránh bị ăn đòn, do giờ đó, bố mẹ đi làm về mà không thấy đâu (Thời đó, ngày làm hai buổi).

Cái tiếng còi hú ấy, lại thấy người lớn bảo: Nó ở trên nóc Nhà Hát Lớn đấy, do ‘bọn Tây’ nó làm hồi xưa đấy!

Nhà hát lớn Hà Nội của hai kiến trúc sư người Pháp là Broyer và V. Harley, họa theo hình dáng nhà hát Opéra Garnier nổi tiếng ở Paris. (Ảnh internet)

– Những khi gia đình có người đi đâu xa, hoặc người thân từ các tỉnh về Hà Nội, đón hay đi tiễn, thường hay đến nhà ga đường sắt tên gọi Ga Hàng Cỏ. Bọn trẻ chúng tôi, nếu được may mắn cùng người lớn tới nhà ga này, thường dương mắt lên vì, sao mà thấy nó to, nó dài thế? Mà sao ở đây nhiều cửa ra vào thế ?

Người lớn lại bảo: Cái nhà ga Hàng Cỏ này, là do ‘bọn Tây’ nó làm hồi xưa đấy!

Phải đến khi trưởng thành, biết thêm một chút, đọc được một chút… mới hiểu, ồ đúng, những công trình to tướng kia… và nhiều thứ lắm, đều do bọn Tây nó làm khi đến Việt Nam từ hồi xưa, thời cái ông Tây Paul Doumer đấy.

Chúng tôi hay tự hỏi: ‘Ơ, thế cái nước mình hồi ấy, chẳng có gì à…?!’.

Ga Hàng Cỏ được khánh thành cùng năm với cây cầu Long Biên 1902. (Ảnh internet)

*****

Sau những tháng dài dịch bệnh, xã hội cách ly, Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace ở số 24 phố Tràng Tiền, Hà Nội, lại tiếp tục hoạt động.

Ngày 6/6/2020, tại hội trường chính, Trung tâm tổ chức buổi giới thiệu cuốn sách viết về cái ông Tây xây cầu Long Biên… Và tôi có mặt, cũng là sự tự nhiên.

Khán phòng gần 250 chỗ ngồi cứ đông dần, rồi gần như hội trường kín chỗ. Tôi tò mò, thấy có đến 2/3 số khách là lớp trẻ. Kinh nghiệm cá nhân, với nhiều lần tham dự những hoạt động tương tự, tôi luôn ấn tượng khi chứng kiến số đông khách tham dự là những người trẻ tuổi.

Có nhiều lý do làm tôi phấn khích khi nhìn thấy sự có mặt của họ, trong đó có lý do rất đơn giản, đó là việc, họ thường đặt ra các câu hỏi từ những góc nhìn rất khác so với các vị khách đầu bạc, kính dày. Đôi khi, đã có lần, họ đẩy diễn giả đến chỗ lúng túng, thậm chí tránh việc trả lời vào trọng tâm câu hỏi, lộ ra đôi ba khía cạnh mập mờ không dấu được của diễn giả, tạo ra không khí tương tác khôi hài, thú vị.

Khán phòng chính của Trung tâm văn hóa Pháp ở 24 phố Tràng Tiền Hà Nội,
với gần 250 chỗ ngồi. Ảnh trước giờ khai mạc buổi giới thiệu sách Paul Doumer ngày 6/6/2020. (Ảnh do BTC cung cấp)

Đáng tiếc, nhiều buổi tọa đàm về đề tài lịch sử, khoa học, xã hội, giới thiệu sách mới, hay những buổi vinh danh cho một số gương mặt đặc biệt trong các hoạt động cộng đồng, nhưng thời lượng dành cho việc giao lưu ý kiến của người tham dự thường ít ỏi, giới hạn, không biết có phải họ tránh, hay cố tình để đừng hỏi nhiều ?

Thậm chí, có lần, tôi thấy có những vị khách được ‘chỉ định’ phát biểu, được giới thiệu là người có học hàm học vị cao ngất, mà tôi và nhiều người tham dự, đã từng không dấu được sự thất vọng, vì sự nói dài, nói những điều lặp đi lặp lại… Có lẽ, những người ấy đã không quan tâm, rằng những khoảnh khắc quý hóa đó, nó ý nghĩa thế nào với những con người sẵn tính cầu thị, trân trọng kiến thức, mong học hỏi thêm đôi chút những điều hay, lẽ phải ở trường đời, vậy mà không ít ‘đại ca’ vẫn cứ thao thao chiếm hết.

Buổi giới thiệu cuốn sách “PAUL DOUMER – Toàn quyền Đông Dương 1897-1902”, với tôi thật bổ ích, hầu như không khí sôi động và cuốn hút đến cùng. Tôi biết ơn tác giả, người dịch, biết ơn Nhà Xuất bản Omega plus, và đặc biệt là các vị diễn giả, những người đã phúc đáp các chi tiết và tình huống của buổi sinh hoạt rất cụ thể, quan điểm logic, đúng với phong cách của người hiểu biết có tầm mức. Tôi trộm nghĩ, ở một cõi xa xăm nào đó, chắc vong ngài Paul Doumer biết…

Ba diễn giả chính của buổi giới thiệu cuốn sách Paul Doumer Toàn quyền Đông dương. (Ảnh do BTC cung cấp)

Tôi đã rất chăm chú nghe, và khâm phục khi nghĩ về những tính toán chiến lược, cùng với công sức của ngài P. Doumer trong việc làm thay đổi đất nước này, vào cái thủa mà người Việt còn đang mê mẩn với học thuyết Ngu si hưởng thái bình….

Với cá nhân, tôi biết ơn sự có mặt của ông ta trong lịch sử của một Việt Nam ngày ấy, ngày mà người Việt Nam chưa có khái niệm về, thế nào là quản lý hành chính, là quy hoạch kiến trúc đô thị, cơ sở hạ tầng để làm gì…?

Vậy nhưng, khi tôi ngồi ở một góc khán phòng, khái quát toàn bộ những gì nhận thức được, ngoài những điều đã nhìn và đọc được bằng mắt, nghe được bằng tai, trong óc tôi đã đột ngột hình thành một sự nghi ngại về một sự thật khác của quá khứ. Điều này, liên quan đến ý thức, tư tưởng, mà theo tôi là nghiêm trọng, là cay đắng, là chua chát, và nó xuất phát từ chính vai trò lịch sử của ngài Toàn quyền Paul Doumer.

Tôi tin ít ai để tâm đến khía cạnh này, thậm chí, chính ngài Paul Doumer có thể, cũng đã không hình dung ra cái mặt trái của một chính sách, có thể để lại một hậu quả nghiêm trọng, thậm chí nó đã sinh ra những nỗi đau âm ỷ, và sẽ còn kéo đến dài lâu đối với một dân tộc…

Không kìm nén được, tôi đã là kẻ giơ tay đầu tiên khi mở màn phần trao đổi ý kiến. Và ngay lập tức, tôi được các chủ tọa cho phép phát biểu.

Tôi tự giới thiệu họ tên, và nhấn mạnh, mình không phải người có chuyên môn về lĩnh vực lịch sử văn hóa, chính trị xã hội, mà chỉ là kẻ may mắn có chút cơ duyên với lĩnh vực này. Tôi muốn được nêu tại đây, một vài suy nghĩ để mọi người cùng quan tâm, suy ngẫm.

Ông Nguyễn Lân Bình phát biểu tại buổi ra mắt sách Paul Doumer. (Ảnh do BTC cung cấp)

Tôi mạnh dạn nêu hai khía cạnh trong nhận thức, về sự liên quan đến vai trò lịch sử chính trị, văn hóa của ngài Paul Doumer ở Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Để bài viết không quá dài, tôi xin không nhắc lại khía cạnh thứ nhất, và chỉ trình bày ở đây quan điểm chính trị của mình thông qua ý kiến thứ hai.

Tôi dùng cụm từ ‘quan điểm chính trị’, hình như, đã làm cho đôi ba người giật mình… Tôi hiểu, điều gì đã làm cho một bộ phận dân chúng luôn cảm thấy ái ngại, khi nhắc tới những suy nghĩ ‘chính trị’ nơi công cộng.

Thực tế, bản chất cuộc sống, dù muốn hay không, mỗi một cá thể khi tồn tại, là một chủ thể, và mặc nhiên là một sản phẩm mang màu sắc đậm nhạt khác nhau của môi sinh chính trị nơi mình tồn tại! Tôi cảm thấy, những người né tránh cái thực tế này, nó cứ hèn hèn làm sao…

*****

Tôi nhất trí với cách nhìn nhận của tác giả cuốn sách, cùng các ý kiến chứng minh của các diễn giả, về những giá trị hiện hữu mà ngài Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã để lại. Đặc biệt, cần coi đó là sự vĩ đại, mang tính bước ngoặt đối với Việt Nam trong lịch sử phát triển nền văn minh của mình, cho dù nó thông qua chính sách thuộc địa của Thực dân.

Nhưng di sản để lại của ngài Paul Doumer, không chỉ là những giá trị lịch sử vật chất, mà ý nghĩa hơn, khi những việc làm của ngài cùng với các chủ thuyết, đã gieo vào tiềm thức người dân An Nam những khái niệm hoàn toàn mới, ý thức về một xã hội hiện đại, về một nền kinh tế, về hệ thống giao thông, ngành bưu chính, về quản lý hành chính, về tính nhu cầu đối với xã hội trong lĩnh vực văn hóa tinh thần… Tóm lại, những thực tế đó, phải được gọi là một sự đổi thay tiến bộ.

Cây cầu đường sắt Hà Nội – Lào Cai xây dựng năm 1898. (Ảnh internet)

Có một thực tế, tôi muốn nhấn mạnh, đó là ảnh hưởng chính trị, tư tưởng mang tính gieo rắc do Paul Doumer đã tạo ra, đối với tầng lớp nhân sĩ yêu nước có học vấn người Việt!

Cuộc sống, phải nhờ thứ công cụ là thời gian, mới chứng minh được những ảnh hưởng tiêu cực của các học thuyết có tính tư tưởng, nó có mang trong mình những hậu quả mặt trái, tai hại hay không? Nếu có, nó có hi vọng thực sự được cải thiện vào một ngày nào đó không?!

Bên cạnh những nỗ lực với sự toàn quyền của ngài Paul Doumer, cùng với tài năng thao lược và ảnh hưởng bao quát của một người đứng đầu, cộng với tính cách mạnh mẽ, cần mẫn và quyết đoán khi tổ chức thực hiện, kiến thiết những dự án đồ sộ ở Việt Nam theo mẫu hình của một quốc gia văn minh, ngài P. Doumer đã đẩy thứ phong cách mang tính hiện đại, mới mẻ, lạ lùng này khi điều hành, thành một thứ hấp lực. Bởi nó khác hoàn toàn với tác phong truyền thống của các quan lại trong hệ thống cai trị một Việt Nam Phong kiến. Nó càng trở nên cuốn hút trong nhãn quan của nhiều người dân bản xứ, nhất là đối với những nhân sĩ có trình độ học vấn mang ý thức cầu thị.

Trên nữa, ngày ấy, ngài Toàn quyền đã gieo một thứ lòng tin vào tư tưởng các nhân sĩ yêu nước xuất chúng người Việt, hình ảnh của một nước Pháp vĩ đại có thật, một quốc gia văn minh tiến bộ với một tiềm năng quân sự hùng hậu, hệ quả của những cuộc chinh phạt nổi tiếng trong lịch sử, cùng uy danh của một vị tướng lẫy lừng là Napoleon. Vậy, làm sao để các ngài thực hiện những chính sách cai trị trái ngược với bản chất của nền văn minh, do chính ông cha các người xây đắp?

Ngài Paul Doumer là người nhấn mạnh một sách lược hoàn toàn mới, thay vì gọi là cuộc chiến bành trướng thuộc địa, nó đã được xướng danh là công cuộc khai hóa văn minh, được hiểu là nhiệm vụ cao cả của nước Pháp đối với dân tộc An Nam!

Ngài đã tạo ra một thứ niềm tin, rằng nước Pháp muốn giúp đất nước Annam thoát khỏi sự lạc hậu và đói nghèo, vươn lên trở thành một quốc gia phát triển trong khu vực, chấm dứt chuỗi dài năm tháng chịu ảnh hưởng tiêu cực, của chủ nghĩa Phong kiến Trung Hoa già nua, bế tắc và lạc hậu…

Những thực tế này, ngày ấy, hoàn toàn phù hợp với những khát vọng của những người Việt Nam yêu nước có nhận thức, do phải sống một cuộc đời quá tăm tối, thủ cựu, nhất là khi họ đang phôi thai những tư duy dân chủ, tự do, nhờ các tư tưởng cải cách được in trong các sách tiến bộ phương Tây tràn vào Việt Nam, qua các bản dịch ra tiếng Hán của hai nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, là Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi.

Cùng lúc, từ một đất nước nằm không quá xa là Nhật Bản, cũng đang hình thành tư tưởng thoát Á (Thực chất là rũ bỏ chế độ Phong kiến), với kỷ nguyên mới của Minh Trị Thiên Hoàng, hướng nước Nhật tiến theo một quỹ đạo mang tính Âu hóa, học cái hình mẫu phát triển của Chủ nghĩa Tư bản phương Tây và Hoa Kỳ.

Tính cộng hưởng của bầu không khí chính trị khu vực, đã tác động sâu sắc đến tâm lý và sự hiểu biết của các nhân sĩ yêu nước người Việt có học vấn.

Lịch sử mãi ghi nhận những gương mặt nổi danh trong giai đoạn bản lề này của đất nước như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Quang Chiêu, Ngô Đức Kế, Nguyễn Văn Vĩnh… Đều là những nhân vật đã đặt lòng tin theo cách này hay cách khác, vào những thời điểm khác nhau trong quá khứ, về một cuộc cách mạng khai sáng, về nền văn minh được mệnh danh là cái nôi của nhân loại, vào sự hợp tác Pháp-Nam, và một tương lai thoát Á.

Ngài Paul Doumer đã thể hiện, đã hành xử trước con mắt của những nhân sĩ này vừa bằng việc làm, vừa bằng tác phong, và vừa bằng cả những cam kết nghiêm túc.

Nhưng rồi, vô tình, khi nhiệm kỳ của ngài P. Doumer kết thúc, ngài đã để lại những nhân sĩ người Việt thực tâm đặt lòng tin ở chính sách khai hóa văn minh, hướng tới sự hợp tác Pháp-Nam, rơi vào sự hụt hẫng.

Đáng buồn hơn, những nhân sĩ này vì thực tin, đã sẵn sàng cho một cuộc đối đầu với một chiến lược kèm tinh thần lạc quan, rằng các bên sẽ cùng thắng nhờ chính sách hợp tác cùng phát triển, và tránh được sự xung đột máu chảy đầu rơi, điều mà lịch sử đất nước này đã quá sức chịu đựng, thì họ lại trở thành những kẻ tội đồ, khi sự nghiệp của họ không gặp may, với sự dang dở của con đường cách mạng mà họ đã chấp nhận cả sự hy sinh thân mình, (*).

Ngài Toàn quyền Paul Doumer đã không tính tới cái nguyên tắc kế thừa quan trọng, dành cho những người kế nhiệm. Lịch sử đã chứng minh, phàm một người tài, giỏi đến đâu, mà không tính được một tương lai theo khuynh hướng kế thừa đúng đắn, thì bao nhiêu những cố gắng bỏ ra trong sự nghiệp của mình, đôi khi lại trở thành sự phản tác dụng.

Để chia sẻ với quan điểm này, xin các quý vị vui lòng đọc lại các tư liệu lịch sử hiện có, viết về những yếu nhân, những nhà cách mạng lẫy lừng trong giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu 20 ở Việt Nam, trước viễn cảnh Pháp – Việt Đề huề, cùng với những nỗi đau vì sự thất bại khi họ thực lòng tin tưởng, nhưng lại gặp những biến thái trong đường lối chính trị của Chính phủ Thuộc địa, những kẻ đã không đồng thuận với người tiền nhiệm trong các sách lược xây dựng một An Nam tiến bộ.

Ngài Toàn quyền Paul Doumer không thể làm tất cả những gì mình muốn, kể cả vào thời điểm lịch sử đó ông ta thành tâm, muốn biến Việt Nam thành một đồng minh thực thụ, điều mà vào năm 1946, những người lãnh đạo giai cấp Vô sản Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau, cũng đã từng mong muốn và chấp nhận trở thành thành viên đứng trong Khối Liên hợp Pháp!

Vâng, đọc mới thấy, ngày ấy, ngài Paul Doumer đã rất mong Việt Nam trở thành một mẫu hình sáng chói, trong cái chiến lược phát triển liên minh thuộc địa, và trở thành cái ban công của nước Pháp nhìn ra Thái Bình Dương. Điều mà hôm nay, chúng ta cũng không ngạc nhiên, khi thấy ngài Bộ Trưởng Ngoại giao Hoa kỳ Mike Pompeo, không dấu giếm cái mong muốn trong sự nghiệp hợp tác với Việt Nam, để quan hệ Mỹ – Việt trở thành Hình mẫu Quốc tế ! (VnEx. 11/7/2020)

Vậy nhưng, ngài Toàn quyền Paul Doumer ngày ấy, đã ‘vô tình’ tạo ra một dấu ấn chính trị bất lợi, đó là sự chia rẽ về tư tưởng, giữa những nhân sĩ Việt Nam yêu nước nhưng thất thế do tin vào chủ trương Pháp – Việt Đề huề, trước những người yêu nước theo chủ thuyết Vô sản khi thắng thế nhờ chủ trương bạo lực, và họ đã kết án nhóm người cách mạng kia, là ‘Bọn Cải lương’, ‘Bọn ôm chân Đế quốc”!

Điều này, hôm nay, những người quan tâm khi nhìn lại, mới thấy nó mỉa mai, chua xót. Và thực tế, nó đã được ghi bằng giấy trắng mực đen, trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Đông Dương, giai đoạn 1930 – 1939.

Sự chụp mũ lịch sử thiếu khách quan này của các nhà chính trị thắng thế, dành cho những nhân sĩ yêu nước thất thế, nó đã như một cái hố sâu ngăn cách trong tiềm  thức về khái niệm yêu nước của người Việt ở thế kỷ 20. Điều xót xa, là nó tồn tại mãi theo thời gian, và đọng lại như một vết sẹo tinh thần đối với một dân tộc.

Cay đắng hơn, kể cả một vài gương mặt trong số các nhân sĩ của nhóm ‘Bọn Cải lương’, sau này được tin dùng vào vai trong bộ máy của những người Vô sản thắng thế, cũng chỉ nằm trong sự giới hạn có kiểm soát, và mang tính tượng trưng, phục vụ tính nhất thời của cuộc cách mạng. Họ đã không được tôn trọng thực sự.

Chính phủ Lâm thời VNDCCH năm 1946. (Ảnh internet)

Cái cách xử thế này trong lịch sử, mãi mãi để lại những hố sâu cách trở trong tâm lý các thế hệ đi sau, do bị quy kết là hậu duệ của tầng lớp các nhân sĩ cải lương, những kẻ không thực lòng yêu nước theo cách… quy định!

Đất nước lại điên đảo với hai cuộc chiến tranh tàn khốc từ 1946 đến 1975, càng làm cho vết thương ly tán về tư tưởng của dân tộc này thêm sự nặng nề. Tai hại nhất, là cách tư duy mang tính tư tưởng này, đã từng biến thành một thứ chủ nghĩa, Chủ nghĩa Lý lịch!

Để rồi, hôm nay, vì sao chúng ta thấy cái sự nghiệp hòa hợp, hòa giải dân tộc vẫn mù mịt khơi xa, làm đắc ý những kẻ thủ ác muốn chia rẽ dân tộc này mãi mãi, những kẻ không bao giờ muốn chúng ta là một khối thống nhất!

*****

Thưa các quý vị và các bạn!

Để chứng minh đề tài này được rõ ràng và cụ thể, bằng những tư liệu riêng, chúng tôi sẽ đăng tiếp loạt bài viết về những nhân sĩ có học vấn, yêu nước, nổi tiếng trong lịch sử phát triển nền văn minh dân tộc giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, những người từng có mặt trong nhóm ‘Bọn cải lương’, vào cái thời, khi mà dân tộc còn chưa có thứ chữ viết riêng, thứ chữ đóng vai trò quyết định đến tiến trình tiến hóa tư tưởng của người Việt, trước các học thuyết chính trị của nhân loại.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH. 

* Xin tham khảo nội dung văn bản ‘Đầu Pháp Chính phủ thư – Thư trước tác hậu bổ’ 1906 của Phan Châu Trinh, và cuốn ‘Pháp-Việt Đề huề luận’ 1918 của Phan Bội Châu.

One Response

  1. I like this website very much, Its a very nice office to read and incur information.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network