ẢNH HƯỞNG của PHAN CHÂU TRINH tới NGUYỄN VĂN VĨNH.
Năm 1906, khi Phan Châu Trinh đã 34 tuổi, người sinh ra và lớn lên trong môi trường được học hành, bố mẹ đều có chữ nghĩa. Vốn là kẻ có tư chất hướng thiện, để tìm cho mình con đường đi, ông đã bôn ba khắp miền Nam Bắc, sang tận Quảng Đông Trung Quốc, gặp những gương mặt gạo cội của khuynh hướng cách mạng dân chủ của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Ông có một đội ngũ bạn hữu, là những người khoa bảng, danh vị, trong lúc Nguyễn Văn Vĩnh còn là một cậu thanh niên mới lớn, 24 tuổi, cái tuổi còn đang lần mò xây đắp cơ đồ.
Nguồn cội
Khác hoàn toàn với Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, xuất thân của Nguyễn Văn Vĩnh từ một gia đình lao động ở nông thôn. Ông thấm cái cuộc đời ‘sống ngâm da, chết ngâm xương’ của người dân vùng chiêm trũng đồng bằng Bắc bộ, điều mà sau này khi trưởng thành, Nguyễn Văn Vĩnh luôn bị ám ảnh về sự nghèo và sự khổ.
Tuổi thơ Nguyễn Văn Vĩnh ngắn ngủi, đói kém, trong vai của một kẻ làm thuê, và làm các công việc chân tay hạ cấp, là chăn bò và ngồi kéo quạt mát cho người khác.
Có lẽ, số phận con người, ở mặt nào đó lại do chính thằng người tạo ra! Bởi lẽ, một cậu bé 8 tuổi, nhờ đi chăn bò thuê bên bờ sông Hồng, mới biết có một ngôi trường học dưới mái đình, do thầy giáo Tây dạy. Cái tâm trạng ngây ngất, khi cậu chứng kiến bầu không khí trang nghiêm của việc học hành, nó như luồng linh khí, cuốn cậu bé theo như một hấp lực.
Trong vai kẻ kéo quạt thuê, Nguyễn Văn Vĩnh với trí thông minh bẩm sinh, đã may mắn được cái lò giáo dục Tây học ấy, sau khi thử thách, đã cho học miễn phí, và cậu đỗ thủ khoa năm mới 14 tuổi (1896), đó là Trường Thông ngôn, hay còn gọi là Hậu bổ (Tốt nghiệp được bổ nhiệm đi làm ngay).
Số phận đã lái cậu bé 10 tuổi đầy tư chất này, thay vì theo đuổi nền giáo dục truyền thống Nho giáo bằng chữ hán, với chế độ khoa cử (học để làm quan) phục vụ nghiệp quan trường, cậu lại ‘nhẩy vào’ tiếp thu nền giáo dục Tân học bằng tiếng Tây. Và, cậu trở thành viên thông ngôn cho Tòa xứ Lào Cai năm mới 15 tuổi.
Sống trong cái môi sinh của kẻ làm thuê, Nguyễn Văn Vĩnh đã có cơ hội tiếp xúc với nền văn minh phương Tây thông qua các sản phẩm văn hóa in bằng tiếng Pháp, vốn có sẵn ở nơi cậu hành nghề.
Dấu ấn
Nguyễn Văn Vĩnh như bị thôi miên trước các tác phẩm văn học, triết học, chính trị kinh tế học mà cậu được tiếp cận. 18 tuổi, cậu đã rạo rực với các thuyết lý trong các tác phẩm kinh điển của của các nhân tài lỗi lạc của nhân loại như: Giăng Giắc Rutxô (Jean Jacques Rousseau. 1712-1778), lãnh tụ của phong trào khai sáng, ngọn đuốc của cuộc cách mạng động trời ở nước Pháp 1789, tác giả ‘The Social Contract’ (Khế Ước Xã Hội), còn gọi là Các Nguyên Tắc của Quyền Chính Trị. Rồi cuốn‘Traité de l’Esprit’ (Bàn về tinh thần pháp luật) của Claude AdrienHelvétius (1715-1771), rồi cả ‘Esprit dé lois’ (Tinh thần pháp luật) của Mông Técskiơ (Montesquieu 1689-1755)… (1)
‘Truyện ngụ ngôn của Giăng đờ La Phông-ten’ (Jean de La Fontaine) là một trong những tác động tâm lý sâu đậm đặc biệt với Nguyễn Văn Vĩnh, cậu đã nhận ra, thế nào là chuẩn mực của đạo đức, là tính nhân bản nguyên khai của loài người. Ý nguyện truyền thụ những tư tưởng tinh hoa đó đến với đồng bào của cậu, được khởi nguồn từ những trang sách kể trên (2).
Ông tâm sự: “Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu năm lắm rồi, khi còn ít tuổi, chưa làm văn vần bao giờ, mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm hứng, chấp chánh nên vần…” (3).
Nguyễn Văn Vĩnh tìm cách chuyển tải những tư tưởng đó bằng loại con chữ mà theo ông, đồng bào của ông dễ học nhất, học bằng những đồng tiền ít ỏi nhất, đỡ mất công sức nhất, so với những thứ chữ viết cùng thời là Hán và Pháp.
Cao hơn, ông đã tìm được phương thức để trình bày cái nội dung quý hóa ấy “Chữ quý hóa chưa? Cái hạnh – phúc ấy, cái điềm hay cho hậu vận nước Tổ – Việt ta ấy, là nhờ ở như chữ quốc – ngữ” (4), và được in trên một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ (quốc ngữ) đầu tiên ra đời ở Bắc kỳ năm 1907 (5).
Ông khẳng định, nếu in các tác phẩm hay, hấp dẫn bằng chữ Tây, chữ Tàu, sẽ có rất ít người hiểu được, đồng bào sẽ vẫn không biết nhân loại tài thế nào, và giỏi ra sao? Nói gì đến việc, nhận ra nó ý nghĩa, nó “ngấm ngía vào trong lòng, trong ruột” đến đâu để đánh thức lòng trắc ẩn sâu thẳm của mỗi thằng người!
Nguyễn Văn Vĩnh đã tự đặt mình vào cuộc chiến truyền bá sự tiến bộ, phổ biến kiến thức về cái đạo làm người, về cái quyền của thằng người khi sinh ra là phải được tự do, được đối xử công bằng, chứ không thể là một giống dân luôn bị kẻ khác rêu rao là ‘man di mọi rợ’!
Ông những muốn, giá trị của các thuyết lý kinh điển này, phải được thấm vào đầu mỗi người dân, những kẻ đã bị coi là ‘tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn hèn’ (6)như Phan Châu Trinh than thở, nhất là khi họ còn chưa có thứ ‘căn cước’ của một dân tộc, là chữ viết.
Từ năm 1905, Nguyễn Văn Vĩnh lần đầu tiên cảm nhận được cái ảnh hưởng mang tính phổ quát và tính tương tác của truyền thông qua phương tiện báo chí, do ông viết bài, và được đăng trên tờ báo tiếng Pháp“Courrier d’Haiphong”, phản bác lại thuyết ‘Biệt hóa và hiệp lực’ (politique d’association) của một người Pháp có tên là De Monpezat (7).
Năm 1906, số phận may mắn đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh đi tham dự Hội chợ Thuộc địa (Đấu xảo) ở thành phố cảng Mác Xây – Pháp.

Đi một ngày đàng học một sàng khôn, tại đây, ông đã học được cả một núi khôn, vì được chứng kiến, tiếp thu cái giá trị sôi động của truyền thông, của báo chí và xuất bản. Ông nảy sinh ý tưởng đến với quyền lực thứ tư, làm báo, và ông tin rằng, đó là cách tốt nhất, hiệu quả nhất để thực hiện mục tiêu truyền bá đối với đồng bào của ông. Lúc này, ông mới 24 tuổi (8).
Để chuẩn bị cho cơ đồ tráng lệ mà Nguyễn Văn Vĩnh tưởng tượng ra, bởi lẽ chưa có ai làm này, để học hỏi và nắm bắt cụ thể, ông đã xin ở lại nước Pháp thêm ba tháng, sau khi hội chợ kết thúc.
Được những người bạn Pháp thiện chí giúp đỡ như nhà báo Pierre Vierge, hay ông Lhermitte Đốc-học xứ Bourg Saint Andéol, tỉnh Ardèche,Nguyễn Văn Vĩnh đã dành toàn bộ thời gian còn lại để đi thăm, tiếp xúc với các cơ sở xuất bản như tòa báo: Le Petit Marseillais tại Mác Xây, Hachete ở Paris, và đặc biệt nhất, là Nhà Xuất bản Larousse (Nơi phát hành Bách khoa toàn thư) (9).
Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định khi viết các bức thư từ Marseillais cho một người bạn thân, rằng để có được khả năng chuyển tải, phổ biến những kiến thức căn bản về giáo dục, về xã hội, về khoa học thường thức, về tư duy logic… nhất thiết phải có chữ viết, và phải thông qua báo chí và sách in.
Đầu năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh trở lại Việt Nam trong một tâm thế hoàn toàn mới, và việc đầu tiên ông quyết định, là để chủ động và không bị ràng buộc, ông xin thôi việc ở Tòa Đốc lý Hà Nội.
Ơn Trời, cũng cái năm bản lề này, Nguyễn Văn Vĩnh đã gặp François-Henri Schneider, một người Đức quốc tịch Pháp, đến Nam kỳ từ năm 1882, theo một hợp đồng về xuất bản, in ấn, ban đầu chỉ là ba năm với Hải quân Pháp (10).
Người giới thiệu ông Chủ của Imprimerie typographique de F. H. Schneider (Công ty In ấn kiểu chữ typo) là Đỗ Thận, một nhà Nho làm công cho Công ty của Schneider (sau là đồng tác giả với Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc và Đặng Đình Phúc cuốn ‘Luân lý giáo khoa thư và Quốc văn giáo khoa thư’).
Việc kết nối với F. H. Schneider, là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh, bởi nó liên quan trực tiếp đến yêu cầu về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, và chuyên môn ngành in, một lĩnh vực mà ngày ấy, hầu như người Việt chưa có khái niệm gì.
Đến thời điểm lịch sử này, những bước chính trên con đường sự nghiệp mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi đã được hình thành. Tuy nhiên, động lực quan trọng bậc nhất của hành trình này đối với Nguyễn Văn Vĩnh, đó là vấn đề phổ biến chữ viết!
Dấn thân
Khi F. H. Schneider đến Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh mới ra đời. Ông trải qua nhiều thăng trầm trên con đường tạo dựng nghành xuất bản in ấn công nghiệp ở Nam kỳ, nơi thuận lợi hơn về mọi mặt so với Bắc và Trung kỳ. Xong để xây dựng được một nghành xuất bản đúng nghĩa, và phát triển được lâu dài, các ấn phẩm không thể chỉ in bằng Pháp văn và Hán văn, vì đó không phải là thứ chữ phổ thông của người dân An Nam, và không thể xuất bản đại trà được.


Sẽ không thể có được nền văn học chữ viết, nếu không có một thứ chữ phổ thông! Số lượng xuất bản phẩm sẽ không bao giờ đạt được con số cần thiết phục vụ cho yêu cầu doanh số, không có yếu tố kinh doanh, không thể thành một vòng tròn khép kín phục vụ cho sự tồn tại, phát triển của một nghành công nghiệp, F. H. Schneider hiểu điều này hơn bất kỳ ai ngày ấy.
F. H. Schneider gặp được Nguyễn Văn Vĩnh, một kẻ đang sục sôi lao vào cuộc chiến làm văn hóa, một kẻ vô tư lao lên phía trước trong cuộc cạnh tranh giành vị trí chủ soái của chữ viết, một kẻ đang khao khát tìm kiếm khả năng thay đổi tư duy của đồng bào mình bằng con đường tri thức, trí tuệ, con đường ấy nhất thiết phải có phương tiện để chuyển tải, và phương tiện đó phải là sự in ra các con chữ.
Nguyễn Văn Vĩnh xác định: “Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần” (11). Nhưng, ngày ấy, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ có khối óc và hai bàn tay trắng…
Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định chọn chữ Quốc ngữ để phục vụ cho sự nghiệp lịch sử này. Đồng thời kết hợp với F. H. Schneider, người có các yếu tố cần và đủ mà Nguyễn Văn Vĩnh không thể bỏ qua nếu muốn khởi nghiệp, đặc biệt là về pháp nhân.
Cơ duyên làm cách mạng
Người xưa dạy, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã! Trong bối cảnh một xã hội bế tắc toàn diện, với nền chính trị èo uột của Triều đình Nhà Nguyễn, với phương thức cai trị cực đoan của người Pháp Thực dân, cộng với một sắc dân mà cả kiếp sống trong đè nén, dọa nạt, thiếu lý trí vì không có kiến thức, là những nhân tố kích thích sự phản ứng theo cách bạo lực, say mê trả thù… Việc xuất hiện những yếu nhân, hướng đến nền chính trị cộng hòa và dân chủ như Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, là những hiện tượng đột biến.
Sự đột biến trong khoa học tự nhiên, thường đem lại những hình thái mới cho quá trình phát triển, thì với khoa học xã hội, cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, có cơ duyên trở thành đồng chí, cũng nhờ một chút bản ngã hướng thiện của ngài Toàn quyền Đông Dương Pôn Bô (Jean Baptiste Paul Beau – nhiệm kỳ 1902-1908). Pôn Bô, một con người học vấn, tốt nghiệp luật khoa, là Đại sứ Pháp ở Trung Quốc trước khi sang Việt Nam. Ông là con người có tinh thần cấp tiến, chủ trương khai hóa, phát triển giáo dục, cải tạo dân sinh, và hình như, ông cũng không muốn ‘làm thầy thằng dại’… cho dù cũng chính ông đã đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT).
Dựa vào một khoảnh khắc của lịch sử trong chủ trương khai hóa của Pôn Bô, Năm 1907, các nhân sĩ tiến bộ người Việt lập ĐKNT. Đành rằng, việc thành lập một phong trào cách mạng văn hóa, trong vỏ một ngôi trường với danh nghĩa tư thục từ thiện, làm sao qua được con mắt của kẻ già đời đi chinh phục?!
Bản chất của các thể chế cai trị độc đoán, không khi nào muốn thấy kẻ bị trị có hiểu biết, có kiến thức, những tố chất dẫn con dân tới khả năng đấu tranh, rồi cạnh tranh, xu hướng làm lung lay vị thế của kẻ thống trị.
Việc hai lần các nhân sĩ tiến bộ gửi đơn lên chính quyền (12), xin lập một sơ sở giáo dục tư thục công ích, đều không nhận được trả lời của cơ quan có thẩm quyền, đã khích lệ Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện vai trò của một viên chức có danh, từng làm đến Chánh Văn phòng Tòa xứ Bắc Giang – Bắc Ninh (1903), rồi Chánh thư ký Tòa Đốc lý Hà Nội (1906).
Thậm chí, máu dấn thân của Nguyễn Văn Vĩnh còn đẩy ông đến chỗ dám cam kết với các thành viên chủ chốt trong ĐKNT rằng: Ta cứ khai giảng đi, cụ cử Can cứ thực hiện đi, nhất định mình sẽ có giấy phép, tiền trảm hậu tấu mà! (13)
Với thái độ hiếu thắng nhưng có cơ sở, và cũng như nhờ cái uy có thật của Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh, con người dày dạn trong đường đời, nhân vật chính của phong trào, đã bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh. Mối nhân duyên đã giúp một Nhà Nho đàn anh và một cậu thanh niên Tân học đàn em, thầm phục lẫn nhau.
Sự kiện làm chấn động bộ máy cai trị, là bản kiến nghị Đầu Pháp Chính phủ thư viết bằng chữ Hán của Phan Châu Trinh năm 1906 gửi Toàn quyền Đông Dương.
Chỉ với thời gian ngắn ngủi, họ đã đủ nhạy bén để cảm nhận tính tư tưởng và tư chất của nhau, đặc biệt, khi Nguyễn Văn Vĩnh nhận dịch toàn bộ văn bản Đầu Pháp Chính phủ thư sang Pháp văn của Phan Châu Trinh.
Nhà sử học nổi tiếng Nguyễn Đình Đầu (1920), Giáo sư Sử học Chương Thâu (1935), nhà sử học Nguyễn Huệ Chi (1938), đều xác định khi được phỏng vấn về Nguyễn Văn Vĩnh rằng: Việc một người dịch một văn bản quan trọng của một người khác, nhất thiết người dịch phải thấm nhuần cái tư tưởng, cái hồn cốt và cái quan điểm có tính chính kiến của tác giả!
Nguyễn Văn Vĩnh không vô cớ nhận chuyển ngữ từ Hán văn ra Pháp văn văn bản lịch sử này, bởi lẽ, đây là văn kiện có tính chính trị, cáo buộc Triều đình Nhà Nguyễn là kẻ vô dụng, lên án sự thiếu lương tâm của Chính phủ Thuộc địa trước những lầm than của một dân tộc. Những ai quan tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ và ngoại ngữ, cũng sẽ đều đồng ý rằng, công việc đó không chỉ là dịch thuật!
Thể hiện sự tán thành, nhiệt tâm ủng hộ những giá trị tư tưởng của bản kiến nghị Đầu Pháp Chính phủ thư, Nguyễn Văn Vĩnh còn là người đưa lên mặt tờ báo in tiếng Pháp “Tribune Indochinoise” (Diễn đàn Đông Dương) 1907, là tờ báo song hành với ‘Đăng Cổ Tùng báo’ do ông làm Chủ bút, toàn bộ nội dung văn bản kiến nghị này. Đầu những năm 30, Nguyễn Văn Vĩnh đã không vô cớ đăng lại bản dịch Đầu Pháp Chính phủ thư trên tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới của mình, và do mình làm Chủ nhiệm.

Cần phải nhận thấy, sự hòa nhập, sự trân trọng và cả sự thỏa lòng từ cả hai phía, hai con người có chung ý tưởng, thực sự đã như cây hạn gặp mưa, và phải nhiều chục năm sau, Nguyễn Văn Vĩnh mới dám ‘khoe’ với một đồng nghiệp ít tuổi, thời ông dịch Đầu Pháp Chính phủ thư rằng:“…Ông Trinh ngầm đến thăm tôi ở 39 phố Mã-mây, và ca-tụng tôi hết sức” (14).
Người ta sẽ không phải mất quá nhiều nghiên cứu để xác định sự thật này, khi bắt gặp trong Trung Tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM), tại thành phố Aix en Provence, một bức công thư của một quan chức Pháp, cảnh báo các vị quan cai trị ở Đông Dương, về mối nguy hiểm của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, về sự gắn kết chính trị không thể xem thường của hai nhân vật ‘nguy hiểm’ này. Công thư đề ngày 3/10/1911 viết tại Paris có đoạn:
“…Tại Hà nội, tôi đã nói chuyện với ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhân vật thân tín của Phan Chu Trinh (chính ông này thừa nhận như vậy)…
Ấn tượng của tôi vào năm 1911 vẫn nguyên vẹn như của năm 1908. Những nhân vật Bắc kỳ này là những người theo chủ nghĩa dân tộc. Họ chấp nhận sự cai trị của nước Pháp, nhưng với điều kiện là sự cai trị này phải phục vụ việc đào tạo nên một lớp người tinh hoa, những người có khả năng rất nhanh chóng thay thế chúng ta điều hành đất nước và nếu có thể, họ sẽ tự hoàn thiện mình thông qua sách báo được dịch ra tiếng quốc ngữ và thoát khỏi ảnh hưởng của các tư tưởng của người Pháp…”. (Người dịch: Nguyễn Như Phong)
Cũng tại văn bản này, người ta còn thấy, người Pháp Thực dân tỏ ra vô cùng cảnh giác, trước ý thức hệ tư tưởng mang tính cách mạng của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, được thể hiện trong một đoạn khác, chứng minh tư duy chiến lược của hai con người này, tiềm ẩn những ý đồ chính trị sâu xa đến mức:
“Không phải ngẫu nhiên mà Phan Chu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đã viết vào năm 1907 “câu chuyện Aguinaldo ?” trong các ấn phẩm do Đông Kinh Nghĩa Thục phát hành…”.

Vậy Aguinaldo là ai? Vì sao người Pháp lúc đó lại quá lo lắng khi Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đưa tấm gương này lên các ấn phẩm của ĐKNT? (Chi tiết này không thấy ghi chép ở bất kỳ đâu, trong các tư liệu viết về ĐKNT của những nhà làm sử Việt Nam trong mọi thời kỳ).
Vâng, đó là Emilio Aguinaldo y Famy nhà cách mạng nổi tiếng Philippine, sinh năm 1869, người đã trở thành Tổng thống đầu tiên của đất nước Philippine năm 1899. Vì phản đối và chống lại người Mỹ, nên Emilio Aguinaldo đã bị bắt năm 1901, và kết thúc sự nghiệp chính trị của mình cũng vào thời điểm đó.
Hệ lụy
ĐKNT bị đóng cửa chỉ sau chín tháng hoạt động. Chính quyền Thực dân đã khủng bố dữ dội, nhưng cả Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đều không bị bắt, cho dù họ là những nhân tố nguy hiểm có hạng, dưới con mắt của Nhà Cầm quyền.
Việc Nguyễn Văn Vĩnh không những không bị bắt, mà còn trực tiếp gửi văn bản phản đối gay gắt tới ngài Đốc lý Hà Nội Hauser, ngay sau khi ĐKNT bị đóng cửa tháng 11/1907 (15), cũng là sự kiện chính trị động trời, mà hầu hết các đồng đảng và cả những kẻ thù ghét ông, đều không hay biết. Xác định là sự kiện chính trị, vì ngay sau đó, Nguyễn Văn Vĩnh nhận được ‘trát miệng’ của quan trên, rằng:“Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy…!”.
Bối cảnh phức tạp này, đã để lại một sự hiểu lầm nghiêm trọng liên quan đến danh dự của Nguyễn Văn Vĩnh, do sự thiển cận của các nhân sĩ cùng thời, đặc biệt là một vài nhà Nho học, những người vốn chẳng ưa gì Nguyễn Văn Vĩnh do thường xuyên bị chỉ trích là những kẻ ngụy Nho vì ăn lộc của hệ thống. Họ còn suy diễn rằng, vì Nguyễn Văn Vĩnh từng là kẻ thuộc hạ của người Pháp… nên không bị bắt! Thậm chí, nhiều chục năm sau, Phan Khôi (1887-1959) còn nhận thức việc Nguyễn Văn Vĩnh không bị bắt trong ĐKNT, như một ‘con chuột’ thoát được khỏi đám cháy…!
Ngày ấy, không mấy ai quan tâm và biết, rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên ra nhập ‘Hội Nhân quyền Pháp’. Ông được kết nạp khi còn đang ở thăm Paris, sau thời gian tham dự Đấu xảo Mác Xây 1906.
Tháng Ba năm 1908, Chính quyền Thực dân bắt Phan Châu Trinh vì lý do, can dự việc tổ chức phong trào chống thuế ở Trung kỳ, chứ không phải, vì là người gửi kiến nghị Đầu Pháp Chính phủ thư, hay là người cầm đầu Phong trào ĐKNT…!
Sự ngụy biện kém cỏi của Chính quyền bao gồm cả Triều đình Huế và Chính phủ Bảo hộ, vốn đã thâm thù Phan Châu Trinh từ lâu, và họ phải trả thù vì từng bị ông kết án một cách ô nhục trong nội dung bản kiến nghị Đầu Pháp Chính phủ thư.
Triều đình và Chính phủ thù ghét Phan Châu Trinh là có lý, vì Đầu Pháp Chính phủ thư, là bản án chính trị trong lịch sử thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương!
Chẳng dễ dàng gì, để cái Triều đình Huế bù nhìn, và cái Chính phủ thuộc địa nhẫn tâm, đồng ý phóng thích Phan Châu Trinh. Nguyên nhân sâu xa của sự kiện chính trị này, các nhà viết sử Việt Nam đã rất hời hợt khi đề cập, và họ đã không dám vinh danh cái công lao của hội Nhân quyền Pháp trước sự việc này.
Ảnh hưởng và giá trị của Hội Nhân quyền Pháp, nhân tố có sức nặng trong vụ việc phóng thích Phan Châu Trinh khỏi vòng lao lý và sự trả thù, là giá trị mặc định của một quốc gia có nền dân chủ và cộng hòa, kết quả của cuộc Đại Cách mạng Tư sản 1789.
Mãi là sự đáng tiếc, vì tính công bằng của một nước Pháp nhân văn và tiến bộ, hình ảnh mà cả Phan Châu Trinh lẫn Nguyễn Văn Vĩnh đều trân trọng và thần tượng, đã không được ‘xuất khẩu’ đến Đông Dương cùng chính sách thuộc địa của họ.
Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất, có sự can dự bằng giấy trắng mực đen tới sự kiện phóng thích Phan Châu Trinh khỏi án tử hình của Triều đình Nhà Nguyễn, và nhà tù Côn Đảo của Chính quyền Thực dân.
Các ghi chép của những người cùng thời khẳng định, trong năm người ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương Paul Beau, đòi trả tự do cho Phan Châu Trinh vì vô tội, chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt, và họ đều là thành viên Hội Nhân quyền Pháp (16).
Lịch sử Việt Nam cũng đã chứng kiến một sự việc tương tự, đó là năm 1925, khi Phan Bội Châu bị bắt, các tầng lớp nhân dân, các nhân vật có danh trong xã hội, đã làm đơn gửi Nhà Cầm quyền xin ân xá cho Phan Bội Châu, trong đó có Chủ bút báo Nam Phong là Phạm Quỳnh, song trường hợp đó là xin ân xá!
Trường hợp Phan Châu Trinh bị bắt năm 1908, những người ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương khẳng định: Yêu cầu thả Phan Châu Trinh vì vô tội!
Đến đây, việc đặt vấn đề về mối quan hệ Phan Châu Trinh – Nguyễn Văn Vĩnh, thiết nghĩ, đã tạm đủ cơ sở để các bạn hiểu thêm hai con người này là ai, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Các mối liên hệ, cũng như những phát triển tư tưởng về việc đấu tranh giành quyền làm chủ đất nước, những tác động qua lại giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh còn kéo dài, và còn thăng trầm ở những năm sau đó khi Phan Châu Trinh cùng Phan Văn Trường, chủ trì nhóm người Việt Nam yêu nước, được gọi là Tổ chức Ái quốc ở Paris, sẽ được đề cập trong những bài viết tiếp theo.
Chú thích:
- “Một giờ với Nguyễn Văn Vĩnh”, Tin Văn, Hà Nội 28/7/1935.
- “Đăng cổ tùng báo, No 821, Jeudi, 10 Octobre 1907”, TRUYỆN: CON CHÓ-SÓI VÀ CON CHIÊN CON. Dịch ở tập thơ Dĩ-vật-giáo-nhân của ông La Fontaine làm ra, TNT.
- Lời tựa ‘Thơ ngụ ngôn La Fontaine’ Trung tâm Âu Tây tư tưởng, xuất bản 1926 HN – Cảo Thơm SG tái bản 1951.
- Lời tựa ‘Tam Quốc Chí diễn nghĩa’, do Phan Kế Bính và Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Hán văn ra Quốc ngữ, xuất bản năm 1909 tại Hà Nội.
- Đăng Cổ Tùng Báo, ra số đầu 28/3/1907 tại Hà Nội.
- Thư Trước tác Hậu bổ – Phan Châu Trinh 1906.
- (Chú thích 1).
- Thư Nguyễn Văn Vĩnh viết từ MARSEILLAIS gửi cho Phạm Duy Tốn ngày 27/6/1906 – Người yêu tiếng Việt trọn đời – NXB Trí Thức- 2017.
- Thư Nguyễn Văn Vĩnh gửi Phạm Duy Tốn và lời kể của nhà báo Phạm Huy Lục (Bản lưu gia đình).
- François-Henri Schneider (1851-1929), chuyên mục Văn hóa RFI, 7/8/2015 Thu Hằng.
- Diễn văn của Nguyễn Văn Vĩnh tại buổi thành lập Hội dịch sách, tại Hội Quán Trí Tri ở 59 (nay là 47) phố Hàng Quạt, ngày 4/8/1907. Bài đăng trên Đăng Cổ Tùng Báo số ra ngày 15 và 22/8/1907.
- Quan điểm của Nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc, chuyên gia sử học về Hà Nội, trong bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” 2007.
- Thư Nguyễn Văn Vĩnh gửi ngài Đốc lý Hà Nội Hauser 11/12/1907. CAOM
- (Xem Chú thích 1).
- (Xem chú thích 12)
- Nhất Tâm – NXB Khoa học Xã hội, trang 73.
Hết bài thứ hai trong chủ đề:
Mối quan hệ lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu.
Các bài viết liên quan:
Ông ‘CẦU LONG BIÊN’ – PAUL DOUMER
LỊCH SỬ đã NÓI GÌ, và SẼ NÓI GÌ về NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU?
2 Responses
Tuyệt vời! Cảm ơn tác giả đã thông qua bài viết để nhắc nhớ cho thế hệ trẻ phải biết ơn và lưu giữ những gì mà cha ông ta đã phải đánh đổi bằng xương máu, trí tuệ để có được VN hôm nay.
Excellent post. I am facing some of these issues as well.. Jenilee Ernst Tsui