MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU – Bài 1

Bài thứ nhất

SỰ KHÁC BIỆT CĂN BẢN TRONG PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC và ĐỘNG VIÊN CÁCH MẠNG giữa PHAN BỘI CHÂU và PHAN CHÂU TRINH

PHAN BỘI CHÂU

Phan Bội Châu sinh năm 1867 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Theo ghi chép lịch sử, ông là người thông minh. Năm 1897, khi 30 tuổi, ông học và thi vào đến trường Nhì, song sự cố sảy ra do vô tình khi đi thi, để lẫn tài liệu cùng với một người bạn, giám thị kết ông tội mang tài liệu vào phòng thi (hoài hiệp văn tự), ông bị chung thân không bao giờ được dự thi (chung thân bất đắc ứng thí).

Năm 1902, trong bối cảnh một đất nước chưa được định hình, các vùng miền chia cắt với nhiều dạng thức chế độ chính trị, quân chủ, thuộc địa, bảo hộ… Xã hội bề bộn với những bế tắc ở mọi lĩnh vực, người dân sống lạc hậu, cùng cực, không nền kinh tế, không giao thương, không cả nền văn hóa văn học, tương lai mờ mịt, Phan Bội Châu thực sự thất vọng.

Năm 1903, vốn là mẫu người căm ghét sự bất công, sự hà hiếp, trong cuốn sách ‘Lưu Cầu huyết lệ thư’, Phan Bội Châu đã thể hiện sự bất mãn cao độ trước tình cảnh khốn cùng của người dân An Nam. Đây là tư liệu, giúp chứng minh cho đời sau hiểu, việc vì sao Phan Bội Châu phẫn uất, quyết tâm thành lập tổ chức chống Pháp theo phương thức vũ trang.

Ông bôn ba khắp miền Nam, Bắc, tầm sư học đạo, mong để nhìn nhận tận mắt thế thái nhân tình, rồi ông gặp Phan Châu Trinh cùng nhiều nhân sĩ tiến bộ khác.

Năm 1904, Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội. Đặc biệt, ông liên kết với Hoàng thân Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (là hậu duệ của vua Gia Long), sinh năm 1882, và tôn Cường Để làm minh chủ. Ông nêu tôn chỉ của Hội như sau:

“Chuyên đánh đổ chính phủ Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến thiết quân chủ lập hiến quốc”. 

(Trong tập “Tự Phán – Phan Bội Châu niên biểu”)

Phan Bội Châu và Cường Để

Tóm lại, mục đích tổ chức cách mạng của của Phan Bội Châu, là dùng vũ lực lật đổ vai trò của người Pháp, và hỗ trợ xây dựng nền quân chủ của Vương triều Nguyễn.

Từ năm 1905, Hội Duy Tân đã lần lượt gửi các thành viên của mình sang Nhật Bản và Trung Hoa du học, đồng thời tìm kiếm sự hậu thuẫn của nước ngoài, cả về đường lối sách lược, và cả tài chính, vật chất, phục vụ cho chủ trương cách mạng chống Pháp, mà người dẫn dắt là Phan Bội Châu.

PHAN CHÂU TRINH

Phan Châu Trinh sinh năm 1872, tại Tiên Phước tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình công chức (Quản cơ sơn phòng), cả bố và mẹ đều là người được học hành. Mẹ mất khi ông mới 6 tuổi, ông đi theo cha từ năm 12 tuổi. Cha ông tham gia và chết trong phong trào Cần Vương chống Pháp do Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế là Tôn Thất Thuyết dẫn đầu (1884) (1).

Phan Châu Trinh về lại quê sống với người anh trai. Nhờ học giỏi, năm 1900, khi 28 tuổi, ông đỗ cử nhân tại Thừa Thiên. Năm 1901, ông đỗ phó bảng (Tiến sĩ). Do người anh trai qua đời, ông trở lại về quê làm nghề dạy học. Năm 1903, ông được bổ nhiệm làm Thừa biện Bộ Lễ của Triều đình (2).

Năm 1905, ông từ quan, cùng hai người bạn học là Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng đều mới đỗ tiến sĩ, quyết định vào Nam cũng với mục đích tầm sư học đạo. Khi tới Bình Định, cả ba người đã trà trộn vào một khóa thi khảo hạch (Khoa thi kiểm tra trình độ). Họ làm bài thi với bút danh Đào Mộng Giác, chủ động kêu gọi các sĩ tử hãy tỉnh ngộ, rời bỏ mộng danh lợi, quay lưng với nghiệp quan trường, vì sự tiến bộ của đất nước, và hãy tham gia các hoạt động giải phóng dân tộc, giúp dân chúng thoát khỏi cảnh bần cùng khốn khổ.

Sau cuộc Nam du này, Phan Châu Trinh đi ngược ra Hà Nội, mục đích vẫn là đi tầm nã những người cùng lý tưởng. Ông đã tìm lên tận Yên Thế, căn cứ của nghĩa quân Đề Thám (3). Ông tỏ ra không tin tưởng với phương thức tổ chức kháng chiến của Đề Thám. Ông đã bí mật sang tận Quảng Đông Trung Quốc để gặp Phan Bội Châu, khi Phan Bội Châu đang trong quá trình bôn ba vận động, tổ chức lực lượng, sang Nhật cầu viện… Đó là đầu năm 1906. Trong các cuộc hội kiến của ông, có mặt cả nhà cách mạng dân chủ nổi tiếng người Trung Quốc là Lương Khải Siêu (4).

Chuyến đi Quảng Đông đã tác động mạnh đến nhận thức và tâm lý của Phan Châu Trinh. Từ đây, ông thể hiện một nhận thức khác về khuynh hướng và phương thức động viên cách mạng. Sau này, trong cuốn ‘Đạo đức và luân lý Đông – Tây’ xuất bản năm 1925, ông đã trách cứ Phan Bội Châu, vốn là người mà ông đặt hi vọng sẽ đồng tâm trong việc lựa chọn con đường làm cách mạng.

“Tôi rất lấy làm lạ cho những người đã qua Nhật về, không đem cái hay cái tốt về cho dân nhờ mà chỉ làm giàu thêm tính nô lệ!

Hay là người mình như kẻ đã hư phổi rồi cho nên một nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng?”

Vào thập niên đầu của thế kỷ 20, khi thời gian vừa tạm đủ để một người 39 tuổi như Phan Bội Châu, và một người 34 tuổi như Phan Châu Trinh, với vốn kiến thức thu nhận được nhờ được học, cùng những trải nhiệm cuộc sống, đủ để họ định hướng, cũng như cách thức tiến hành cách mạng, xem ra là điều bình thường.

Nỗi bất bình của Phan Châu Trinh, không phải chỉ với chính sách cai trị thiếu thực tế và đầy quan liêu của Chính phủ Thuộc địa, mà gần hơn, ông thất vọng với chính đồng bào mình, mà theo ông, là một giống dân chây ì, thụ động trong suy nghĩ và thích an phận. Ông than thở:

“Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng đạo, đồng văn với Nhật Bản, thấy họ tiến thì nức nở khen, chứ khi nào chịu xét vì sao họ được tiến như thế? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh hay họ còn trau dồi đạo đức, sửa đổi luân lý mới được như ngày nay?” (sách đã dẫn).

Nhờ sự quan sát, học hỏi, với lòng hướng thiện, Phan Châu Trinh đặt lòng tin vào một nước Pháp giàu tính nhân văn, thông qua nền lịch sử phong phú và những tiến bộ đạt được trong việc xây dựng một quốc gia phát triển, mà vào thời điểm đó, nhân loại đặt tên là Cái nôi văn minh. Phan Châu Trinh tự ái:

“Lấy lịch sử mà nói thì dân tộc Việt Nam không phải là không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm nay mà vẫn còn mê mê muội muội bịt mắt vít tai không chịu xem xét không chịu học hỏi lấy cái hay cái khéo của người. (Sách đ/d).

Chính vì tin vào Cái nôi văn minh, nên khi bất mãn đến mức lo lắng, Phan Châu Trinh đã mạnh dạn đặt thẳng vấn đề với người Pháp, bằng thư kiến nghị, giấy trắng mực đen, gửi trực tiếp tới Toàn quyền Đông Dương, về sự cấp bách phải cải cách xã hội An Nam, cứu lấy đất nước An Nam, đó là bản “Đầu Pháp Chính phủ thư” hay còn gọi là “Thư trước tác hậu bổ” (Lettre de Phan Chu Trinh au gouverneur général en 1906), viết bằng chữ Hán, ngày 1/10/1906.

Xong, sự thực đã không diễn ra như Phan Châu Trinh và các nhân sĩ tiến bộ người bản xứ mong đợi! Đặc biệt, qua nội dung kiến nghị này, nhìn lại, lịch sử mới thấy hết cái vô lý của một dân tộc, cái vô tích sự của một Triều đình, và cái vô tiền khoáng hậu về tương lai của một đất nước.

Phan Châu Trinh không ngần ngại nói toạc sự thật, những điều mà những kẻ cơ hội, những kẻ được hưởng lộc lá từ cái chính thể bù nhìn mà họ đang núp bóng, đã cao giọng mà rằng, ông phê phán người Pháp, vâng, nhưng vì sao ông lại ‘nói xấu’ chính cả người dân nước mình đến mức tệ hại như thế…?!

Vậy, Phan Châu Trinh đã viết thế nào về thực trạng tâm lý người An Nam, về sự hủ lậu, điều mà ông xác định là sự xấu xa trong lối sống, sự vô nhân tính trong quan hệ con người, nguyên nhân dẫn đến một giống nòi hủ bại.

“Trong khoảng vài mươi năm nay, các bậc đại thần ăn dầm nằm đìa ở chốn triều đình, chỉ biết chiếu lệ cho xong việc; quan lại ở các tỉnh, thì chỉ lo cho vững thần thế mà hà hiếp bóp nặn ở chốn hương thôn, đám sĩ phu thì ganh đua nhau vào con đường luồn cúi hót nịnh, không biết liêm sỉ là gì !” (Sách đ/d).

Phan Châu Trinh kết án luôn cái thảm trạng nhỡn tiền:

“Bọn cùng dân bị bóp nặn mãi mà máu mủ ngày một khô, không còn đường sinh kế nữa. Đến bây giờ thì sự thế hư hỏng, nhân dân lìa tan, phong tục suy đồi, lễ nghĩa bại hoại, một khu đất hơn 4 triệu thước vuông, một dân tộc hơn 20 triệu người lại sắp sửa ở cái địa vị bán khai mà quay về cái địa vị dã man” (Sách đ/d).

Vâng, rõ ràng, cái sự thật tăm tối ấy có phải đã bưng bít cả cái giòng giống này không? Ông lột trần toàn bộ:

“Chao ôi ! một dân tộc đến 20 triệu người, kẻ có học thức cũng đến vài mươi vạn, mà tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn hèn, không đủ sức bênh vực được nhau, để liệu cách sinh tồn, lại ù ù cạc cạc, không biết rằng mình ở vào thế giới cường quyền thịnh hành, “hơn được kém thua” này, mà còn có cái mơ tưởng hão huyền như thế, dân trí thực cũng đáng thương vậy!” (Sách đ/d).

Sự tha hóa của một xã hội bệnh hoạn, sự thiếu vắng một nền giáo dục vì con người, vì sự tiến bộ xã hội, đã đẩy người dân đến lối sống ăn xổi, tham lam, không cần biết thế nào là đạo lý, là sự công bằng và công lý là gì, miễn là được lợi.

Phan Châu Trinh xác định, rằng nguyên nhân sâu xa của thảm trạng này đối với một dân tộc, là bắt nguồn từ việc không được học hành.

Năm 1907, kết hợp với các nhân sĩ tiến bộ người Việt, Phan Châu Trinh thắp lên ngọn lửa Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) tại Thăng Long – Hà Nội, và lời hiệu triệu máu thịt của ông đối với cuộc cách mạng này rất giản dị, dễ hiểu, là: Chi Bằng Học…!

Ông dứt khoát, rằng việc học sẽ đem lại sự hiểu biết, kiến thức, đem lại sự giác ngộ xã hội. Ông tin, con người có kiến thức sẽ biết so sánh thiệt hơn, lợi hay hại, công bằng hay bất công… Từ đó, nuôi dưỡng một tinh thần văn hóa, phát triển trí tuệ, giúp con người có khả năng sáng tạo, sống nhân văn, biết đấu tranh đòi cho mình quyền bình đẳng với kẻ khác, và phấn đấu tiến tới sự tiến bộ.

Tóm lại, mục đích cách mạng của Phan Châu Trinh là: Khai dân trí, vì có dân trí mới chấn được dân khí, có được dân khí, mới tiến tới phát triển dân sinh. Đây là tôn chỉ của Phong trào ĐKNT: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Phan Châu Trinh

Với bản chất Thực dân, với kinh nghiệm của một kẻ đã đi một chặng đường dài trong việc tạo dựng vị thế làm chủ, người Pháp ở Đông Dương không thể bình tĩnh nhìn kẻ mình đô hộ tổ chức cuộc cách mạng mở mang dân trí, phát triển trí tuệ hướng tới sự giải phóng và đòi bình quyền.

Sự tiến bộ về tri thức đối với người An Nam, là mối đe dọa đáng lo ngại nhất, nguy hiểm nhất, và sớm muộn cũng sẽ làm lung lay vị thế của kẻ cai trị, vì vậy, việc dẹp bỏ ĐKNT, cũng như việc phải triệt hạ vai trò cá nhân của Phan Châu Trinh là điều mặc nhiên.

Nhìn ở khía cạnh chính trị, xét về lâu về dài, người Pháp Thực dân lo lắng và cảnh giác về vai trò Phan Châu Trinh nghiêm trọng hơn Phan Bội Châu rất nhiều!

Chú thích theo Wikipedia:

Tại triều đình Huế, sau khi vua Tự Đức mất (7/1883), sự phân hóa trong nội bộ đình thần, quan lại nhà Nguyễn càng trở nên sâu sắc, Triều đình chia thành hai phe rõ rệt – phe Chủ chiến và phe Chủ hòa.

Phe Chủ chiến kiên quyết không khuất phục thực dân Pháp, muốn cứu lấy sự tồn tại của đất nước, của Triều đình. Đứng đầu phe Chủ chiến là Tôn Thất Thuyết (1839-1913).

Phe Chủ hòa sẵn sàng quy thuận, hợp tác với Pháp để bảo vệ quyền lợi giai cấp.

Tôn Thất Thuyết là Thượng thư Bộ binh, nắm giữ quân đội trong tay và là nhân vật quan trọng nhất trong Hội đồng Phụ chính.

  • Bộ Lễ là cơ quan hành chính, được thiết lập từ thời kỳ nhà Bắc Chu (thế kỷ thứ VI), giai đoạn Nam-Bắc triều tại Trung Quốc, tương đương với Bộ Thông tin – truyền thông, Bộ Văn hoá, Bộ Ngoại giao ngày nay.
  • Hoàng Hoa Thám (1858 – Có tài liệu là 1846 – Mất 1913), còn gọi là Đề Dương, Đề Thám, là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp (1885 – 1913).
  • Lương Khải Siêu (1873-1929). Nhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, một trong những người Trung Quốc đầu tiên, dịch các tác phẩm triết học chính trị phương Tây ra chữ Hán.

Hết bài thứ nhất trong chủ đề: MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU

Trong báo cáo về chính quốc, Toàn quyền Đông Dương Luis Bonhoure đã viết: ” Phan Châu Trinh không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu nhưng nguy hiểm hơn cho sự thống trị của người Pháp tại Việt nam”

Các bài liên quan:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network