MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU – Bài 5

Thưa các quý vị và các bạn!

Trong bài viết  ‘Lịch sử đã nói gì và sẽ nói gì về mối quan hệ về Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu’ đăng ngày 11/9/2020, chúng tôi đã trình bày dự kiến sẽ có 07 bài về chủ đề này.Sau khi xem xét nội dung và tổng hợp lại, chúng tôi xin được điều chỉ lại như sau:Do tính diễn biến liên đới của sự việc, bài thứ Năm và bài thứ Sáu sẽ được gộp lại chỉ là một bài và chia làm 3 phần A, B và C.

Như vậy, khi chúng tôi trình bày hết phần C của bài thứ Năm, sẽ chỉ còn lại bài thứ Sáu là kết thúc chuyên mục MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU.

Vậy xin kính báo với các quý vị và các bạn để biết và tiện theo dõi!

Trân trọng!

Nguyễn Lân Bình.

5 A.

GÓC MÂU THUẪN về LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM, TRONG CHỦ TRƯƠNG HỢP TÁC PHÁP – VIỆT giữa NGUYỄN VĂN VĨNH và PHAN BỘI CHÂU

Khái quát nguyên nhân dẫn đến sự bộc lộ mâu thuẫn.

Trần Tuấn Khải (1895-1983)*, nhân sĩ yêu nước khá nổi danh những năm 10 và 20 thế kỷ 20. Ông là nhà báo, nhà văn, nhà thơ có nhiều sáng tác ẩn chứa tinh thần chống Pháp mang tính hệ thống. Năm 1932, ông viết cuốn sách có nhan đề ẩn dụ “Sách chơi Xuân Nhâm Thân’, nội dung nói về cuộc khởi nghĩa chống Pháp diễn ra tại Yên Bái năm 1930 của Nguyễn Thái Học (1902-1930) và Phó Đức Chính (1907-1930), Nhà Cầm quyền đã ra lệnh bắt giam Trần Tuấn Khải, cùng với Trịnh Văn Bích là Giám đốc Nhà Xuất bản (NXB), nơi phát hành (1).

Đoạn văn trên số báo 115 được hai người con của Nguyễn Văn Vĩnh là Nguyễn Phổ (1917-1997) và Nguyễn Kỳ (1918-2009) dùng máy ảnh phim chụp lại từ tờ báo cũ cách đây hơn 30 năm

Sự việc có tính chính trị này, đã tác động mạnh đến Nguyễn Văn Vĩnh, lúc này đang là Chủ nhiệm tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau (Nước Nam Mới) ở Hà Nội. Bản chất Nước Nam Mới, là diễn đàn chính trị, đối lập với Nhà Cầm quyền Thực dân và Vương triều Huế, là cơ quan ngôn luận độc lập núp dưới danh nghĩa công ty, nhằm tránh việc Chính phủ không cho phép thành lập các tổ chức, hội đoàn, và cấm Nguyễn Văn Vĩnh phổ biến văn hóa tư tưởng bằng chữ viết tiếng Việt (Quốc ngữ).

Thực tế, Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phan Châu Trinh, vốn là những người có nhãn quan chính trị theo chủ thuyết chống bạo động (Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu) (2), vì vậy, khi đọc tác phẩm của Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy ẩn chứa đầy tính kích động bạo lực đối với dân chúng, và ông không đồng tình với cách làm này vì sẽ đẩy dân chúng đến sự đổ máu.

Tuy nhiên, việc bắt giữ và giam cầm một cách tùy tiện một nhân sĩ yêu nước, không thông qua các thủ tục tố tụng pháp lý, điều mà theo Nguyễn Văn Vĩnh là tệ hại. Đồng thời việc bắt cả Giám đốc NXB, cơ sở phát hành ấn phẩm đó, là sự xâm phạm thô bạo các quy định của chính Nhà Cầm quyền ban hành, vi phạm luật quản lý về văn hóa xuất bản đương thời, nghiêm trọng hơn, đó là sự vi phạm quyền con người, là điều không thể chấp nhận được.

Phản đối quyết định này của Chính phủ Bảo hộ, ngày 6/3/1932, trên số báo 115 của tờ L’Annam NouveauNước Nam Mới, ông đã viết bài ‘ECRITS TENDANCIEUX ET ARRESTATION ARBITRAIRES’ (Viết với ý định không tốt và việc bắt giam người vô lý), lên án thẳng thắn cách hành xử sai trái này của Nhà Cầm quyền. ông gay gắt nêu:

“Nhà nước đã có những quy định và luật pháp quản lý nhà in, NXB. Những người hành nghề trong lĩnh vực này, họ phải được biết, rằng họ đang sống dưới một chế độ được điều hành bằng luật pháp, hay dưới một chế độ hành xử theo ý thích của những kẻ có quyền lực?”.

Nghiêm trọng hơn, với tính cách thẳng thắn đến mức trần trụi, ngay số báo tiếp theo của Nước Nam Mới số 116, ra ngày 10/3/1932, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết tiếp bài ‘LITTÉRATURE SÉDITIEUSE’ (Văn chương kích động) thể hiện sự bất bình sâu sắc với Nhà Cầm quyền, vì đã hình sự hóa vụ việc đối với nhà thơ Trần Tuấn Khải.

Vậy là, với bản chất và tính khí bộc trực, Nguyễn Văn Vĩnh lên án trực tiếp cách hành xử của Nhà Cầm quyền đối với các nhân sĩ yêu nước, mặt khác, ông cũng không chấp nhận cách động viên cách mạng của Á Nam Trần Tuấn Khải, điều mà theo ông Vĩnh là sự bất lợi:

“Công việc của các Nhà Nho rãnh rỗi, họ không tìm được con đường nào khác ngoài việc, đơn giản, họ chỉ muốn kích động tính nhạy cảm của quần chúng bằng những giai thoại cũ, an ủi những vong hồn chống lại những cái mới mà họ rất chậm chạp trong cách thích nghi. Cách làm này không phải là sự từ bỏ, mà nó sẽ làm cho nòi giống bị tiêu diệt…”.

Tại bài viết khá gay gắt này, Nguyễn Văn Vĩnh đã lấy hình ảnh của chính người ông hằng kính trọng, minh chứng cho quan điểm của mình về phương thức động viên cách mạng của nhiều nhân sĩ yêu nước, là có tính nửa mùa, mà cụ thể là Nhà cách mạng nổi tiếng Phan Bội Châu (3).

Trong bài viết đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã bộc lộ lối nhận thức thô ráp đến rùng mình về Phan Bội Châu, một con người mà trong bối cảnh lịch sử đương thời, là hình tượng biểu trưng của phong trào yêu nước, ở một đất nước đang còn hỗn mênh hỗn mang trong việc lựa chọn và đi tìm con đường cách mạng giải phóng, ông viết:

“Ông Phan Bội Châu, một nhân sĩ tuyệt vời! Khi ông phải chạy trốn vì bị bọn mật thám săn đuổi ở nước Tàu, ông trở nên nổi tiếng, làm cho dân chúng càng hy vọng ở ông những động thái của một người anh hùng…!”. Cách đặt vấn đề ‘trơn tuột’ của Nguyễn Văn Vĩnh về trường hợp Á Nam Trần Tuấn Khải, lại liên hệ tới Phan Bội Châu qua mặt báo, thậm chí so sánh vai trò của Phan Bội Châu với hành vi của một cảnh sát, đã làm mếch lòng một nhân sĩ vang danh của Cách mạng Việt Nam là chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) (4)

Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng nằm bên đường quốc lộ 40 B, thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, phía Tây thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. (Ảnh VNExpres)

Căng thẳng nhưng ôn hòa, giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc Kháng.

Bài (Văn chương kích động) trên số báo 116 của tờ Nước Nam Mới,với việc dẫn chứng vai trò lịch sử của Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh còn kết án ông là kẻ ‘tiền hậu bất nhất’… Điều này đã kích động tâm trí và làm tổn thương lòng sùng kính của Huỳnh Thúc Kháng với Phan Bội Châu, dẫn tới sự can dự của ông Kháng.

Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ một bậc nhân sĩ đàn anh, với tâm lý truyền thống thừa kế những luân lý của thời đại mà ông trưởng thành, trong tâm thế sùng kính những gương mặt gạo cội, Huỳnh Thúc Kháng, một con người nổi tiếng khảng khái, học rộng, đức độ và chí khí vang lừng, là sản phẩm của nền giáo dục Khổng giáo, thứ đạo coi: “Lòng ổn định rồi, suy nghĩ sự việc mới có thể chu toàn. Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết công việc được thỏa đáng”, đã không thể thỏa hiệp với cách tư duy của Nguyễn Văn Vĩnh. 

Huỳnh Thúc Kháng hiểu rõ Nguyễn Văn Vĩnh, là kẻ có thiên mệnh khác thiên hạ, nhập môn tư tưởng Âu Tây từ lúc còn là đứa trẻ, lại có lối tư duy Do Thái giáo, thấy bất kỳ điều gì bất thường, cũng đòi đi tới cùng trong việc truy vấn, thậm chí đến mức quyết liệt, chỉ vì thấm đẫm học thuyết ‘mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng’, mà đã động chạm tới danh phận của một ‘đấng’ tinh thần của số đông, bằng một tư duy thô ráp như nội dung nêu trong bài Văn chương kích động, ông Kháng coi đây là một sự thái quá trong quan hệ giữa những bậc danh sĩ.

Đặc biệt Việt Nam ngày ấy, là một xã hội quen với nếp nghĩ sùng bái, các ‘Đấng’ bề trên là bất khả xâm phạm như cách nói của Phan Châu Trinh về Phan Bội Châu ‘là người đại biểu cho thói quen trên lịch sử ngàn năm của dân tộc nước Nam’(5).

Ông Kháng coi cách đặt vấn đề của Nguyễn Văn Vĩnh về Phan Bội Châu là trái với thuần phong, là một sự xúc phạm, nhất là khi Nguyễn Văn Vĩnh cũng là một người bạn, một đồng nghiệp gần gũi với Huỳnh Thúc Kháng (6) .

Vậy là, với tính cách trần trụi của mình, Nguyễn Văn Vĩnh, thay vì sự tế nhị cần có khi trao đổi với Huỳnh Thúc Kháng trước một nội dung nhạy cảm, ông lại trình bày toàn bộ bài viết phản hồi của ông Kháng ‘EN LISANT L’ARTICLE “LITTÉRATURE SÉDITIEUSE” de M. Nguyen Van Vinh. Paru dans L’Annam Nouveau NO 116 du 10 Mars 1932’ (Nhân đọc bài ‘Văn chương kích động’ của ông Nguyễn Văn Vĩnh trên Nước Nam Mới số 116 ra ngày 10/3/1932), ngay trên số báo 129 và 130 của L’Annam Nouveau ra ngày 24 và 28/4/1932. Bài viết được Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp với lời thưa trước.

Từ một góc nhìn khác, hôm nay chúng ta cần cảm ơn cách thức hành xử này của các nhân sĩ, các nhà cách mạng chân chính, đã thẳng thắn đến mức sòng phẳng với sự thật ở thời đoạn lịch sử đó, điều đã giúp cho hậu thế hiểu được thế nào là sự trung thực trong tư duy, và tính cách của những con người ngay thẳng.

Thực tế này là cơ sở để lý giải, vì sao luôn có những suy nghĩ méo mó cùng sự cực đoan trong quan điểm, và cách nhìn của những kẻ cơ hội ở mọi thời đại, khi phán xét những diễn biến tư tưởng của các bậc hào kiệt trong quá khứ.

Cuốn sách có nhiều nội dung phủ nhận vai trò của Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh… trong lịch sử văn hóa Việt Nam, do NXB Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp phát hành năm 1968 tại Hà Nội.

Những kẻ cơ hội đó đã không hề đọc, và cũng chẳng cần biết, rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã tâm đắc và học theo lối tư duy của Thomas Jeffeson (1743-1826) Tổng thống thứ ba của Hợp Chủng Quốc Hoa kỳ, rằng: “Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt, là cho họ tri thức và sự thật!”.

Có đáng tiếc không, khi Nguyễn Văn Vĩnh minh chứng theo cách trần tục về phương thức động viên cách mạng của Trần Tuấn Khải và Phan Bội Châu trong bài“Văn chương kích động”, điều mà ông đã không tán thành:

“Vậy đó, ông Trần Tuấn Khải cũng là một thi sĩ, một nhà văn có tầm cỡ và dễ trở thành một Phan Bội Châu tiếp theo. Ông Khải chỉ còn thiếu bị đàn áp. Nếu được thả ngay, ông sẽ làm chúng ta hoang mang khi đọc lại những vần thơ, và những bài viết lạ lùng của ông, để rồi sẽ lại kết thúc bằng sự thất vọng của những người hâm mộ, khi ông cứ nhắc đi nhắc lại lời hô hào giống nhau, và đòi mọi người phải theo gương các vị anh hùng như Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Mút sô li ni, Giăng Đi, Mút stapha Ke Mal….hoặc Tưởng Giới Thạch”.

Cách thức xử lý mâu thuẫn tư tưởng này của Nguyễn Văn Vĩnh, đã càng làm dấy lên những phản ứng gay gắt của Huỳnh Thúc Kháng. Vậy nhưng, khi vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn, Nguyễn Văn Vĩnh lại càng muốn thể hiện công khai, toàn bộ những gì liên quan đến bản chất tư tưởng giữa những người trong cuộc.

Theo chúng tôi, nếu không công khai những va đập tư tưởng này trên mặt báo, hậu thế thật khó có cơ hội để hiểu đến tận sâu thẳm, lịch sử đấu tranh xây dựng nền văn minh nước Việt của các bậc tiền nhân, giai đoạn khi bắt đầu phôi thai nền văn học chữ viết mới (Quốc ngữ), và sự cạnh tranh gay gắt giữa các khuynh hướng cách mạng ở Việt Nam, vào thập niên 30 của thế kỷ 20.

Song, cách lập luận của ông Vĩnh không thể không làm cho Huỳnh Thúc Kháng giận dữ, và ông Kháng đã đáp lại trong bài viết ở số báo 129 như sau:

“Bản thân ông Phan Bội Châu, cũng đành phải công nhận sự yếu kém của mình ngoài thực tế, so với khả năng hợp tác của một viên cảnh sát ngoài đời thường. Tôi tin tưởng, không một người An Nam hay một người Pháp nào, lại muốn ông Phan tìm cách ghanh đua với một một viên cảnh sát trong cái bối cảnh thực này.

Vậy mà một nhà báo nổi danh, lại táo tợn nghĩ ra sự so sánh (mà không thể so sánh được) giữa hai con người khác biệt đến tuyệt đối này. Sự việc này đã làm cho mọi người dân Annam phải ngạc nhiên…”.

Huỳnh Thúc Kháng một mặt hiểu rất rõ năng lực, tầm mức ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh trong các hoạt động xã hội, nhưng mặt khác, việc lập luận có tính chê trách Phan Bội Châu là điều không thể, đành rằng ông Kháng không phủ nhận cách đặt vấn đề của ông Vĩnh ở mặt nào đó là có lý, nhưng… và ông tiếp tục chứng minh:

“Sau đoạn văn chứng minh mang đầu óc thực tiễn với nhiều nét đúng đắn, người đọc ngạc nhiên vì ngòi bút nhạy cảm với đầy tính chủ động, đã bị lôi kéo vào một sự suy xét điên rồ, dẫn tới sự phán xử vô lý…”.

Rõ ràng, theo Huỳnh Thúc Kháng, cái sự thật trần trụi này không thể bị phơi bày một cách thô thiển… bởi Phan Bội Châu một bậc hiền tài, Nguyễn Văn Vĩnh một bậc thức giả danh tiếng, lại trở nên xấu xí trước con mắt của người đời, là điều hết sức bất lợi. Huỳnh Thúc Kháng cảnh cáo:

“Các vị đã đọc kỹ, cụ thể và rõ ràng, không thêm bớt, không hề nhầm lẫn. Ông Phan Bội Châu đã bị đặt ngang hàng với một nhân viên cảnh sát hạng bét. Nếu những lời lẽ đó phát ra từ một tên đày tớ, vô liêm xỉ, rình rập thời cơ thuận lợi để làm hại người khác… thì điều đó cũng dễ hiểu, và mọi người sẽ bỏ qua, khinh rẻ không cần phải quan tâm.

Nhưng đây lại do ngòi bút của một trí thức giàu kinh nghiệm, được mọi người kính trọng về mặt xã hội và chính trị, lại là một Chủ nhiệm của tờ báo nổi danh “Nước Nam Mới” viết ra, thì dân chúng không thể coi nhẹ như cơn gió thoảng, và không cảm thấy có điều gì đó nghiêm trọng”.

Huỳnh Thúc Kháng tỏ ra nhức nhối vì sự thiếu ‘thận trọng’ của một tài năng như Nguyễn Văn Vĩnh trong cái nhãn quan về xã hội, về cuộc sống… người mà đáng ra, theo ông Kháng, có thể giúp thiên hạ độ lượng và nhân ái hơn mới đúng. Ông Kháng giận dữ:

“Trong cuộc đời này, mỗi người đều có những khả năng riêng và tìm được một chỗ đứng cho bản thân. Người có khả năng làm một việc mà người khác không làm được, trong khi người kia lại có những năng lực mà người này không thể có. Cũng như thế, trường hợp của những con cáo, hay những con chó sói nhảy nhót, chạy tưng bừng xuyên rừng và bụi rậm, mà nơi đó, những con ngựa được gọi là ‘Thiên lý mã’… lại không thể qua được”.

Suy nghĩ hôm nay.

Đến đây, chúng ta đã có cơ hội để thấy rõ ở mức nào đó, sự thẳng thắn đến mức lạ lùng của các bậc nhân sĩ xuất chúng có nhân cách, một ưu điểm, xong lại chính là một nhược điểm dưới góc nhìn của những người làm chính trị, bởi lẽ:

Thứ nhất: Sự chính trực thường dễ bị tấn công, đặc biệt khi nhắm đến mặt trái của một con người, một sự việc, trong khi thử hỏi: Trên đời này có ai không có khiếm khuyết?!

Thứ hai: Nó tạo ra cơ hội cho kẻ muốn lạm dụng lòng ngay thẳng của người khác, biến thành lợi thế. Nó giúp hạ thấp uy tín của những gương mặt mà theo họ, đó là những đối tượng cạnh tranh, tiềm ẩn khả năng cản trở ý đồ độc chiếm vị thế độc tôn, trong một xã hội đang hình thành những thiết chế cai trị mới.

Khi viết bài ‘Văn Chương Kích Động’, Nguyễn Văn Vĩnh đã thật sự nghĩ đơn giản và dứt khoát, rằng hỡi những nhà cầm bút, nếu thật sự yêu quý đồng bào mình, hãy đừng kích động vào cái phần nhạy cảm của tinh thần trong số đông quần chúng, khi trong cơn quẫn bách, họ sẽ sẵn sàng lao ra chiến tuyến, bắt chấp lửa khói, chấp nhận hi sinh, mà không cần xét đến hậu sự, nhất là khi do bất cân xứng về thế và lực trong các cuộc đối đầu. Khi phải nhận thất bại, họ sẽ ân hận, coi đó là hệ quả của một sự mù quáng, tạo ra những vết thương khó lành, thậm chí kéo lùi sự nghiệp cách mạng.

Còn khi nếu may mắn giành được thắng lợi, thì những kẻ chủ trương, có chắc chắn rằng cái thắng lợi đó, sẽ đem lại niềm hạnh phúc thật sự và bền lâu cho giống nòi?

Chưa nói tới việc, tấm huân chương nào cũng sẽ có hai mặt!

Tư tưởng xuyên suốt của Nguyễn Văn Vĩnh là, xã hội sẽ có tiến lên được không, nếu chỉ có sức mạnh cơ bắp? Theo ông, cái cốt lõi để thay đổi và xây dựng sự phồn vinh bền vững cho một dân tộc, cho một đất nước, vẫn phải phụ thuộc vào cái đầu, cái óc, những phần quan trọng của cơ thể nằm trên đôi vai cơ bắp! Và ông chứng minh trong bài ‘Văn chương kích động’:

“Chúng ta, hoặc phải theo những trường phái tư duy Âu châu như Nhật Bản đã làm, hoặc phải ngoảnh mặt lại với nó như Găng Đi. Găng Đi có tự cho mình cái lòng tin mù quáng vào đa số lớp quần chúng mù chữ, suốt đời ăn chay?”.

Nhận thức và cách hành xử của Nguyễn Văn Vĩnh ngày ấy, là một loại tư duy khó để số đông chấp nhận, vì để thấm được cái giá trị là thành quả của trí tuệ, nhân tố tạo nên sự bền vững, sẽ phải cần nhiều thời gian tích lũy kiến thức, kiên nhẫn dựa trên nền tàng của tư duy khoa học, mà khoa học luôn phải dựa vào sự học tập và sáng tạo, trong khi đấu tranh bạo lực luôn cần sự gấp gáp, nhanh chóng. Thực tế này đã được chứng minh, là sự thức tỉnh đắt giá mà Phan Bội Châu phải mất hàng chục năm trời để xác nhận (7).

Cuốn ‘Tự Phán’ hay còn được gọi là Phan Bội Châu niên biểu, hoặc có thể hiểu là hồi ký của Phan Bội Châu. (Ảnh trên internet)

Huỳnh Thúc Kháng biết hơn ai hết, vào cái bối cảnh lịch sử ngày ấy, rằng Nguyễn Văn Vĩnh là ai…? Song vốn tính khí nghiêm khắc, ông vẫn không giấu được sự tiếc nuối khi phải chứng kiến, chính các đồng minh của mình, lại phê phán nhau nặng nề đến mức nguy hại. Và trong bài viết phản ứng lại Nguyễn Văn Vĩnh, trên số báo 137 ra ngày 22/5/1932 của Nước Nam Mới, ông than:

“Thật khó có thể chấp nhận được, một bộ óc thông minh, tỉnh táo như ông Vĩnh, lại không phân biệt được những tình thế và năng lực khác nhau đến như vậy…”.

Thật tuyệt vời, khi Huỳnh Thúc Kháng xuống giọng trong bài viết lên án Nguyễn Văn Vĩnh, điều thể hiện sự độ lượng, bao dung và nhân cách của những con người nhờ có học mà thành những kẻ có đạo, ông nhẹ nhàng ở đoạn cuối, về cách so sánh các vĩ nhân trong lịch sử của Nguyễn Văn Vĩnh:

“…Thời gian là sự khác nhau, những phương thức để chúng ta đấu tranh hôm nay, nó phải khác với cách mà tổ tiên chúng ta từng xử dụng. Nhưng lòng yêu nước, thương nòi, đức hi sinh, là những giá trị đạo đức cao cả, cùng với lòng quyết tâm, kiên trì được nêu gương bởi chính những vị anh hùng của quá khứ so với những người anh hùng hôm nay, không nhất thiết phải có những khác biệt.

Các dân tộc ở phương Tây, đã thực hiện thành công trong các cuộc đấu tranh để tồn tại, và đạt được biết bao nhiêu là tiến bộ? Dù như thế, người dân Pháp có bỏ việc tôn sùng tướng Napoleone? Người dân Hoa Kỳ, đâu có bỏ việc tôn vinh những Washington, Linconl…?”.

Rõ ràng, những lời lẽ này đã thể hiện tầm hiểu biết, tầm nhìn và tầm tư duy của một bậc đàn anh đích thực, mẫu người mà ngay từ đầu lời dẫn của bài giới thiệu khi dịch từ Hán văn sang Pháp văn, Nguyễn Văn Vĩnh đã xác định cùng người đọc:

“Dưới đây là bài viết của ông Huỳnh Thúc Kháng, được gửi đến cho chúng tôi hơi chậm để đăng trên số báo trước.

Xin các quý vị và các bạn lưu ý: Bài viết đăng trên báo của chúng tôi được dịch ra tiếng Pháp, những suy nghĩ của người bạn, và cũng là đồng nghiệp nổi tiếng của chúng tôi ở Huế…”.

Nguyễn Văn Vĩnh, một con người có mê man kiến thức, với những điều học được từ năm châu bốn biển thông qua khả năng tiếp cận và nhận thức nhờ đọc, càng không thể không để tâm đến sự đồng cảm, sự chia sẻ từ gan ruột của một người đàn anh là Huỳnh Thúc Kháng, khi đọc những lời nhắc nhở trong bài viết của ông Kháng, về trách nhiệm và vai trò của những kẻ có ảnh hưởng trước lịch sử và người dân:

“Với một dân tộc mà số phận chưa ổn định, tâm lý về hình ảnh của một quốc gia còn trong cảnh hỗn loạn, người ta dễ dàng nhận thấy, quần chúng nhân dân không biết định hướng tư tưởng của mình về phía nào, đi về đâu? Và như vậy, rất dễ bị cuốn vào những cuộc phiêu lưu điên cuồng. Vậy, tình trạng đất nước ta hiện đang ra làm sao?”.

Thật hay, vì những kẻ hậu sinh hôm nay, được chứng kiến sự điềm đạm nhưng dứt khoát, sự khác biệt về quan điểm, nhưng vẫn giữ lòng tôn trọng lẫn nhau khi tranh luận giữa hai con người, là Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Văn Vĩnh.

Trên nữa, tất cả những va đập chính trị này, lại được công khai trên mặt sáu số báo liên tục của tờ ‘Nước Nam Mới’, một lối hành xử mà các nhà chính trị hiện đại hôm nay không dễ gì chấp nhận, nếu không nói là họ luôn tìm cách tránh né.

Để hiểu rõ hơn phản ứng cụ thể của Nguyễn Văn Vĩnh ra sao trước thái độ của Huỳnh Thúc Kháng, xin mời các quý vị và các bạn xem tiếp phần 5 B của bài 5.

Chú thích:

Á Nam Trần Tuấn Khải là tác giả bài thơ ‘Anh Khóa ơi’ ra đời năm 1921. Không gian văn hóa “Á Nam lưu niệm đường” 58/4, khu phố 5, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.

1. L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới số 115, ngày 6/3/1932.

2. Câu nói kinh điển của Phan Châu Trinh năm 1905.

3. http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=29 (Bài của Phan Đăng Thanh đăng trên trang Tư liệu Quốc hội năm 2002. Nội dung đánh giá về quan điểm lập hiến của PBC).

Chủ nghĩa phục thù cực đoan mà Phan Bội Châu chủ trương thật là hết sức sai lầm, chỉ hãm quốc dân vào chỗ chết, không hợp thời thế, không sát với lý luận… Bởi vì ông ấy là người đại biểu cho thói quen trên lịch sử ngàn năm của dân tộc nước Nam. (Tập 3, trang 66-68, Phan Châu Trinh toàn tập, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005).

4. Khi Huỳnh Thúc Kháng là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ, thì Nguyễn Văn Vĩnh là thành viên dân biểu Bắc Kỳ (Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin).

Năm 1918, Nguyễn Văn Vĩnh nhận lại cơ sở in và phát hành báo Trung Bắc Tân Văn (TBTV) nằm ở góc phố Hàng Bông và Phùng Hưng ở Hà Nội, từ François Henry Schneider (1851-1930).

Toàn bộ cơ sở vật chất và công nghệ in ấn của TBTV đều do F. H. Schneider đưa từ Pháp sang từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu 20, vì vậy đã trở nên rất lạc hậu và khó khăn khi in ấn chữ Quốc ngữ, do là loại chữ có nhiều dấu.

Năm 1922 Nguyễn Văn Vĩnh sang Đức cùng Phan Văn Trường (1876-1933) thăm thủ phủ ngành in và xuất bản ở Gutenberg. Chuyến đi này đã kích thích Nguyễn Văn Vĩnh tìm đến giải pháp thay thế toàn bộ thiết bị và dây chuyền in ấn ở Hà Nội, để phù hợp với những thuộc tính của chữ viết tiếng Việt dùng ký tự Latin, và nâng cao năng xuất cũng như chất lượng của sản phẩm.

5. Lịch sử đã nói gì… https://tannamtu.id.vn/?p=4886).

6. Người nhận mua lại toàn bộ số máy móc thiết bị cũ của TBTV là Huỳnh Thúc Kháng. Đồng thời số thiết bị này được chuyển thẳng vào Huế, và là cơ sở để tờ báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng ra đời năm 1926, là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Trung kỳ.

7. Phan Bội Châu ‘Tự phán’ hay còn gọi là ‘Phan Bội Châu niên biểu’.

Hết phần A bài thứ năm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network