Thưa các quý vị và các bạn!
Trong bài viết ‘Lịch sử đã nói gì và sẽ nói gì về mối quan hệ về Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu’ đăng ngày 11/9/2020, chúng tôi đã trình bày dự kiến sẽ có 07 bài về chủ đề này.Sau khi xem xét nội dung và tổng hợp lại, chúng tôi xin được điều chỉ lại như sau: Do tính diễn biến liên đới của sự việc, bài thứ Năm và bài thứ Sáu sẽ được gộp lại chỉ là một bài và chia làm 3 phần A, B và C.
Như vậy, khi chúng tôi trình bày hết phần C của bài thứ Năm, sẽ chỉ còn lại bài thứ Sáu là kết thúc chuyên mục MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH – PHAN BỘI CHÂU.
Vậy xin kính báo với các quý vị và các bạn để biết và tiện theo dõi!
Trân trọng!
Nguyễn Lân Bình.
5 C.
HUỲNH THÚC KHÁNG – NGUYỄN VĂN VĨNH,
CÓ KẾT THÚC TRANH LUẬN BẰNG SỰ THỎA HIỆP?
Nhà Nho Huỳnh Thúc Kháng, chứng kiến những quan điểm, tư duy và bản chất chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, một người theo chủ thuyết Tân học, luôn đề cao lối tư duy minh bạch, tin tưởng ở Chủ nghĩa Duy vật, ông Kháng nhận thấy khó để có được sự đồng thuận với Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, không vì vậy mà ông phản bác hay kết án điều gì, ông chỉ phân tích cách suy nghĩ và thái độ của Nguyễn Văn Vĩnh, nhắm đến mục tiêu, chứng minh quan điểm đó có hợp lý hay không mà thôi.
Giãi bày mang phong cách chỉ giáo.
Trong bài viết trên số báo 137, ra ngày 22/5/1932 của tờ Nước Nam Mới, Huỳnh Thúc Kháng tiết lộ một phát hiện, đó là tâm lý chủ quan của Nguyễn Văn Vĩnh, khi đánh giá Phan Bội Châu:
“Ông Vĩnh tranh biện, nhìn lại các chứng cớ và muốn xét xử theo cách thức của những thầy kiện chuyên nghiệp. Nhưng ngược lại, các thầy kiện khi xét xử mọi việc đều dựa theo pháp luật hiện hành. Trong khi ông Vĩnh dựa trên những quan điểm mà ông tin rằng, đó là sự khám phá ra những suy nghĩ có trong đầu của bị cáo, dựa theo những luật lệ của nền luân lý cổ xưa…”.
Huỳnh Thúc Kháng, người có lối sống bao dung, đôi khi là chiết trung do ảnh hưởng từ nền giáo dục Nho học, vì lẽ đó, ông không chấp nhận sự phán xét được gọi là nghiêm khắc do lối nghĩ sòng phẳng, mà theo ông Kháng là gay gắt của Nguyễn văn Vĩnh, đối với một người vốn là thần tượng không phải chỉ của ông:
“Sự nghiêm khắc của ông Vĩnh, đã không tha cho cả ngay các vị Thánh. Tôi thiết nghĩ, chúng ta không nên quên việc nhìn bao quát cả một sự nghiệp đẹp đẽ. Không nên đánh giá tiêu cực khi phát hiện, hay tìm thấy một vài chi tiết không hay. Đó chính là điều mà tôi phải viết ra ở đây”.
Thật thú vị, khi Huỳnh Thúc Kháng nhận ra sự rành mạch đến trần trụi của Nguyễn Văn Vĩnh, mà theo ông, ở một mặt nào đó, ông Vĩnh là người vẫn bị giới hạn sự nhận biết của mình, do thiếu một góc nhìn lịch sử bao quát về Phan Bội Châu. Huỳnh Thúc Kháng không quên, rằng Nguyễn Văn Vĩnh là một người tài, giàu năng lực, thực lòng vì nền tiến bộ xã hội, nhưng thiếu nhãn quan chính trị sắc bén, và thường có lối tư duy minh bạch đến mức thuần túy.
Thực tế, sự gắn bó giữa Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu, sự theo sát những biến động tư tưởng và hoạt động của cụ Phan, đã giúp Huỳnh Thúc Kháng hiểu biết về Phan Bội Châu, vượt xa Nguyễn Văn Vĩnh.
Có thể, vào hoàn cảnh lịch sử ngày ấy, không có nhiều người nhận ra những tư duy chính trị được hình thành theo những dạng thức khác nhau, hệ quả của cục diện phức tạp ở một đất nước năm bè, bẩy mối, đang thiếu vắng một chủ thuyết chính trị nền móng, và vẫn trong giai đoạn lần mò tìm đến ánh sáng của một cuộc cách mạng toàn diện, nên ông Kháng đã biện giải khá cụ thể về Phan Bội Châu, nhìn từ góc độ chiến lược chính trị:
“Theo tôi, ông Phan Bội Châu có một quan điểm về Chủ nghĩa Hợp tác, mà chính là cái Chủ nghĩa ông đã nêu ra từ năm 1918, nghĩa là trước khi ông bị bắt vào năm 1925, khoảng 6 hay 7 năm, điều này đã được một vài tờ báo ở An Nam đăng, có thể là theo bản chính (chữ Nho), hoặc bản dịch ra Quốc ngữ.
Là Nhà Cách mạng phải sống lưu vong, ông Phan đã thấy rõ những mối hiểm nguy đe dọa đất nước mình, xuất phát từ lòng tham của những quốc gia láng giềng, và để tránh cái hiểm họa đó, ông đã tìm đến một phương thức để loại bỏ cái nguy cơ đó bằng giải pháp khi ông viết cuốn sách “Chủ nghĩa Hợp tác Pháp – Nam”. Trong tập “Pháp – Việt Đề huề”, ông Phan đã nói rất nhiều đến Chủ nghĩa Đế quốc Nhật, đồng thời chỉ rõ những mối nguy hiểm có thể đất nước ta sẽ gặp phải trong tương lai”.
Huỳnh Thúc Kháng đã nhân cuộc tranh luận này, cảnh báo Nguyễn Văn Vĩnh về nhận thức thiếu toàn diện, thậm chí có tính đơn điệu khi xét đoán ý đồ chiến lược của Phan Bội Châu, cùng với chủ thuyết yêu nước của ông. Ngoài ra, đó cũng là lời cảnh tỉnh cho những nhà cách mạng khác cùng thời, trước những mối hiểm nguy đang được thai nghén từ các lực lượng ngoại bang tiềm ẩn khác, và ông tiếp tục biện minh cho cụ Phan:
“Là một Nhà Cách mạng, ông Phan chỉ có một mục đích, đó là: Nền độc lập cho đất nước mình. Cần phải chấp nhận một chủ thuyết hợp tác với Pháp, đúng ra, ông chỉ thay đổi phương thức đấu tranh mà thôi. Việc áp dụng phương thức mới này, là cực kỳ cần thiết vào thời điểm đó, cũng có thể, đây là kết quả của một cuộc vận động, mà trong đó, vì lòng thành, nên nó đã không cho phép ông được biết tới đối phương thực chất là như thế nào?!
Tất cả những sự việc trên đây, đã sảy ra trước khi ông bị bắt. Điều này có nghĩa là, cái Chủ nghĩa Hợp tác của ông Phan, không phải để đổi lấy cuộc đời bị giam lỏng hiện nay”.
Rõ ràng, khi can dự vào đời sống chính trị, người ta không thể không ‘tế nhị’ trong giao tiếp, đối thoại, đặc biệt trong các cuộc trao đổi chính kiến, liên quan đến những đối tượng nguy hiểm tiềm năng, một đòi hỏi khi hành xử cần có tính chiến thuật, chứ không thể ‘chân thành’ nói toạc như cách thể hiện của Nguyễn Văn Vĩnh.
Huỳnh Thúc Kháng cho rằng, có sự mâu thuẫn trong nhận thức của ông Vĩnh, và ông Vĩnh thiếu khả năng nhận biết về sự khác nhau giữa chiến lược và chiến thuật, mà một người, khi không có lối sống theo khuynh hướng chinh phục, hay chủ trương giành giật, chiếm đoạt, sẽ khó có khả năng nhận ra.
Hơn nữa, ông Vĩnh đã quá khắt khe, quá sòng phẳng, nhất là khi bàn về một lĩnh vực quá phức tạp trong bối cảnh một xã hội đang có những diễn biến căng thẳng, ẩn chứa nhiều khía cạnh nhạy cảm của một nền chính trị hỗn mang, rất khó có thể bao quát trong con mắt một người, nếu thiếu tinh ranh và mềm mỏng, ông giảng giải:
“Vâng, nhưng tại sao, trong bài viết của mình, ông lại chỉ muốn, chỉ các nhà Nho là phải giữ cho các hành vi của mình theo nguyên tắc ‘Bất sự nhị chủ’? Một người có kinh nghiệm như ông Vĩnh, cần biết rằng, những vấn đề hiện nay về tình hình của một quốc gia, một dân tộc, phức tạp hơn rất nhiều, so với cái nghĩa vụ phải trung thành của một bầy tôi với một vị vua ở thời xa xưa…”
… Tôi chưa thể khẳng định, mà chỉ nhận thấy có sự mâu thuẫn đáng kể trong ý kiến của ông Vĩnh”.
Còn quá nhiều những chi tiết mà Huỳnh Thúc Kháng không muốn mở rộng hơn nữa cuộc tranh luận với Nguyễn Văn Vĩnh, hình như, ông nhận ra hai người là hai đường thẳng song song, và cuộc tranh luận này sẽ không có kẻ thua hay, hay thắng, hoặc ai đúng, ai sai, ông dừng bút với ý kiến chốt hạ:
“Ông Vĩnh lại so sánh ông Phan Bội Châu với những nhà yêu nước khác như Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền… Điều này không nằm trong phạm vi chúng ta tranh luận, nên không bàn đến”.
Huỳnh Thúc Kháng kết luận vừa biện chứng, vừa tinh tế:
“Hơn nữa, lẽ phải của kỷ nguyên này bao giờ cũng sẽ được lịch sử phán xét, như nó xứng đáng phải được phán xét!”.
Vậy là, chúng ta, những kẻ hậu sinh, nếu nhận thấy cái trách nhiệm về danh dự là cần thiết, khi tiếp cận để hiểu về các bậc tiền nhân đáng kính, chúng ta đã có thêm cơ sở để làm cái nhiệm vụ thiêng liêng là phán xét, đúng như quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng. Qua đây, chúng ta nhận thấy một nhà Nho như Huỳnh Thúc Kháng, đã mang cả tư duy của một người theo thuyết duy vật và triết học, thứ nhãn quan thường chỉ thấy ở những người theo phái Tân học.
Tất nhiên, để cho thấu đáo, chúng ta cần đọc tiếp Nguyễn Văn Vĩnh đã phản hồi Huỳnh Thúc Kháng ra sao, trong bài viết mà ông đã cố tình đăng ngay trên số báo 137 cùng ngày….
Giãi bày với âm hưởng của nỗi lòng và tâm sự.
Vẫn cái tính cách quen thuộc, vẫn với tư duy trần trụi, Nguyễn Văn Vĩnh nhắc lại câu chuyện phủ nhận Phan Bội Châu, kèm cả thái độ giải thích khá thô ráp:
“Trong bài viết của tôi, tôi nhìn nhận cái Chủ nghĩa đó của ông Phan, mới chỉ là lời kêu gọi, thì công việc ấy, một nhân viên cảnh sát hạng xoàng vẫn thực hiện hàng ngày.
Ông Huỳnh Thúc Kháng trao đổi với chúng tôi, rằng hai trường hợp đó không hề có gì giống nhau, giữa cái Chủ nghĩa Hợp tác của một người cách mạng lâu năm, và cái cách hô hào của một nhân viên cảnh sát…”.
Ở đây xuất hiện một thực tế, đó là sự chê trách của Nguyễn Văn Vĩnh đối với tất cả những ai, những kẻ dấn thân vào sự nghiệp vận động cách mạng, nhất là những cuộc cách mạng tác động tới sự thay đổi toàn diện một xã hội, mà thiếu những hành động cụ thể và ít tính thiết thực. Nguyễn Văn Vĩnh một mẫu người thực nghiệp, với tác phong nói là làm, trong một hoàn cảnh lịch sử đầy tính cấp thiết. Ông nghĩ, nói, viết ra và tìm mọi cách để thực hiện điều mình xác định sẽ vươn tới, suốt từ năm 1907 với sự khởi đầu là ‘sàn diễn’ Đông Kinh Nghĩa Thục.
Ở một mặt nào đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã tỏ ra sáng suốt trong việc tiếp thu một vài khía cạnh tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, đồng thời, ông cũng muốn chứng minh những kinh nghiệm của chính mình trong quan hệ với những người Pháp, điều đã đem lại những hệ quả tích cực trông thấy trong sự nghiệp hợp tác, phát triển văn hóa và tinh thần tiến bộ của người dân An Nam.
Nguyễn Văn Vĩnh luôn tin rằng, văn hóa là cái cốt lõi, nuôi sống sự phát triển trí tuệ con người, nhân tố thiết yếu để thay đổi xã hội, để xây dựng một quốc gia vững bền. Nguyễn Văn Vĩnh đã vật lộn, thực hiện cái sự nghiệp đó ngay trên đất nước khốn khó này, thay vì phải phiêu bạt nơi đất khách để tìm thấy giải pháp và nguồn lực:
“Chúng tôi vui lòng đồng ý với sự thỏa thuận này. Nhưng vẫn là sự nực cười trước tính cách của một người biệt ly, giờ quay về đây dạy chúng ta cách hợp tác với người Pháp, một điều ngược lại với 20 năm trước trong cuộc đời mình, nhất là với chúng tôi, những kẻ luôn luôn tìm được hiệu quả trong việc hợp tác với nước Pháp”.
Trong bài phản hồi của mình, Nguyễn Văn Vĩnh tuy không phản bác được sự biện minh của Huỳnh Thúc Kháng giành cho Phan Bội Châu, nhưng ông vẫn bị ám ảnh bởi tính lương thiện, những tiêu chuẩn đạo lý của Khổng giáo và Nho giáo, nên ông đào sâu hơn:
“Tôi đã nói đến phương ngôn dân gian cổ ‘Bất sự nhị chủ’ (Không phục vụ hai chủ), và tôi hiểu chữ ‘Chủ’ theo nghĩa rộng hơn, chứ không chỉ là một thứ đạo lý, và cũng không theo nghĩa hẹp là ông ‘Chủ’…”.
Nguyễn Văn Vĩnh một mặt rất quý trọng Huỳnh Thúc Kháng, nhưng mặt khác, hình như ông chưa thật sự tâm phục cách biện minh của Huỳnh Thúc Kháng, vì ông cho rằng, đó là sự biện hộ mang hơi thở của chủ nghĩa sùng bái, điều mà Nguyễn Văn Vĩnh luôn chống lại, đúng như nhận xét của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu (1920) khi phát biểu trong bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, nên ông Vĩnh tiếp tục:
“… Ông đồng nghiệp đáng kính của tôi, ông Huỳnh Thúc Kháng đã lên lớp với tôi bằng một mớ lý luận của chủ nghĩa cơ hội, điều mà tôi không muốn tranh luận, bởi lẽ, khi tranh luận theo kiểu chơi chữ, thì khó mà rút ra được một kết luận nào”.
Nguyễn Văn Vĩnh đã tỏ ra thực lòng với ý định giải thích những quan điểm của mình, hơn là để thuyết phục, hoặc tìm đến sự đúng sai, hay được thua trong sự đối mặt với người mình hằng quý trọng.

KẾT
Những cuộc xung đột gay gắt giữa các hệ tư tưởng khác nhau, khi xâm nhập vào quá trình hình thành ý thức hệ chính trị của người Việt Nam trong ba thập niên đầu ở thế kỷ 20, dù đã là quá khứ, nhưng diễn biến cuộc tranh luận giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc Kháng đã đọng lại như một dấu ấn lịch sử. Đó là sự đóng góp chính trị của các nhân sĩ yêu nước dành cho giới tinh hoa bản địa. Nó đã tạo ra sự va đập và lộ ra bản tính, bản chất và tư tưởng của những người trong cuộc, mà lịch sử mặc nhiên phải gọi, đó là những nhà cách mạng tiến bộ có học người Việt.
Cuộc ‘bút chiến’ của Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc Kháng, là minh chứng sinh động của giới tinh hoa người Việt, đã tìm cách thoát thai khỏi sự kìm hãm cả ngàn năm của hệ tư tưởng phong kiến Trung Hoa như thế nào? Đặc biệt khi nó chịu sự tác động mạnh bởi sự có mặt áp đảo của Chủ nghĩa Thực dân, mang theo những phát kiến mới của khoa học kỹ thuật phương Tây, tạo ra sự giằng co với Chủ nghĩa Dân tộc được hậu thuẫn bởi thuyết lý của cách mạng bạo lực.
Sự kiện chấn động này, là một phần của bức tranh lịch sử xã hội chính trị Việt Nam những thập niên 20 và 30 ở thế kỷ 20, nó được tạo thành bởi các nhân sĩ tiến bộ ở cả hai dòng văn hóa Nho học và Tân học.
Bắt đầu từ thập niên ba mươi, hệ tư tưởng Vô sản xuất hiện và giành được ưu thế trên đất nước An Nam, là nhờ có nền tảng văn hóa chữ Quốc ngữ non trẻ của dân tộc, vừa được hình thành từ những sự dâng hiến trí tuệ của các nhà cách mạng xuất chúng, giàu tài năng, trong đó có các vĩ nhân như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh….
Chỉ một chi tiết để chứng minh cho đánh giá nêu trên là có cơ sở, xin các quý vị và các bạn hình dung lại thời điểm 30 năm đầu thế kỷ 20, nếu không xuất hiện vai trò của chữ Quốc ngữ, liệu các cuộc vận động tư tưởng cách mạng với người dân An Nam bằng Hán văn và Pháp văn, sẽ có đạt tới những thay đổi như lịch sử đã chứng kiến?
Trong các ghi chép được coi là chính sử ở Việt Nam, những diễn biến mang tính tư tưởng và văn hóa của giai đoạn lịch sử vừa nêu, đã bộc lộ rất nhiều lỗ hổng. Họ đã cố tình quay lưng, hoặc làm méo mó những thực tế khách quan trong các hoạt động mang tính tạo dựng một thứ nền móng tinh thần, tư duy văn hóa, những giá trị đã tạo nên những trang sử không thể phủ nhận đối với một dân tộc.
Việc làm của các nhà sử học cận đại, phần nào đã thể hiện lối nghĩ thiển cận, là sự thiếu thiện chí mang tính đố kị, do lo sợ ảnh hưởng đến chiến lược giành vai trò độc tôn của họ. Vậy làm sao được gọi là những giá trị truyền thống?
Các nhân sĩ tiến bộ có học người Việt vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đặc biệt là những gương mặt xuất chúng, đều rất giản dị trong lý tưởng, chân thành trong tính cách, luôn nung nấu một mục đích duy nhất, là xây dựng một đất nước hòa bình, sống dân chủ, giáo dưỡng dân trí, tích lũy trí tuệ, làm giàu chính đáng, nhằm chống lại những thế lực luôn tìm cách nô dịch, thôn tính và đồng hóa dân tộc này.
Bản chất, tư tưởng và nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh về lý tưởng, thứ lý tưởng mang lại ích lợi cho cộng đồng, đã được bộc lộ trong đoạn kết của chuỗi bài tranh luận với Huỳnh Thúc Kháng. Lối tư duy chất phác, tư tưởng giản dị của đoạn văn này, đã gây chấn động tâm lý, làm xao xuyến những người có may mắn khi tiếp cận với các tư liệu về học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Với tâm tư đầy chất tâm sự, cùng cách nghĩ thành thật nhưng mang tính triết lý, ông Vĩnh kết thúc loạt bài tranh luận với Huỳnh Thúc Kháng sinh động thế này:
“Tôi chỉ giải thích thôi, chứ thực sự, không phải là để chứng minh mình có lý hơn người bạn đồng nghiệp của tôi ở Huế. Bởi lẽ, giữa ông với tôi vẫn có một cái hố nhỏ, mà không người nào vào lúc này, có đủ lý lẽ để vượt được qua.
Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới.
Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng… chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”.
Nguyễn Văn Vĩnh đã đúng và mãi mãi đúng, dù xét từ nhãn quan chính trị hay góc nhìn lịch sử nào đi nữa!
LUẬN
Thật khôi hài, vì chúng tôi được biết đến đoạn văn rung động này, nhờ qua một người Mỹ, ông là giáo sư đại học tại Montreal – Canada, ông Christopher Goscha. Ông đã dùng lời thú nhận này làm phần kết, cho một tiểu luận dài 30 trang viết năm 2001, khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi nói là ‘khôi hài’ còn bởi lẽ, khi bài tiểu luận này được hai nhân vật có danh trong làng chính trị xã hội ở Việt Nam dịch ra từ tiếng Pháp, tôi đã đề nghị cả hai người làm ơn ký dưới bản dịch để minh chứng cho đời sau … Nhưng cả hai đều đã từ chối, từ chối đến quá một lần!
Toàn bộ những diễn biến chính trị được phơi bày trong cuộc tranh luận giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc Kháng, là nhờ cá tính của Nguyễn Văn Vĩnh, cũng như nhân cách trong sáng của những gương mặt cùng thời được công khai trên truyền thông đại chúng. Điều này, đã tạo ra cơ hội để Chính phủ Thuộc địa, Triều đình Nhà Nguyễn và các thế lực chính trị khác… đắc ý, vì họ đã nắm được sự khác biệt trong tư tưởng của các nhân vật có ảnh hưởng lớn, gần như là lớn nhất trong đời sống chính trị An Nam 30 năm đầu ở thế kỷ 20, những nhân vật được gọi là những đối thủ tiềm tàng!
Tất cả các thế lực chính trị ngày đó đã yên tâm, chủ động vạch ra những phương thức đối phó, tìm cách loại dần ảnh hưởng, thậm chí triệt hạ lực lượng tinh hoa người Việt này, vì họ coi đó là những đối thủ chính trị.
Cũng qua sự việc chính trị gây ‘hoảng hốt’ về tâm lý này, chúng ta càng hiểu hơn sự hèn mạt của người Pháp Thực dân, đã run sợ đến mức nào trước vai trò và tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, để phải quyết định cấm ông viết bằng chữ Quốc ngữ vào đầu thập niên 30 ở thế kỷ trước.
Thêm nữa, người Việt Nam hôm nay, đã không thể không nhận ra sự khôi hài, khi các nhân sĩ ưu tú ngày ấy, đã phải giãi bày những suy nghĩ chân thực của mình về lòng yêu nước, yêu dân, phải thông qua chữ Hán (các bài viết của Huỳnh Thúc Kháng gửi tới Tòa soạn báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới đều viết bằng chữ Hán), còn Nguyễn Văn Vĩnh đã phải thông qua chữ Pháp. Thực tế này đã hạn chế được đáng kể sự nhận thức chính trị nói chung đối với dân chúng. ‘Họ’ đã thành công phần nào trong việc bịt tai, bịt mắt và cả bịt miệng đồng bào An Nam.
Và để hậu thế hôm nay hiểu được, thấm thía được tính tư tưởng rộng lớn của giới tinh hoa người Việt, chúng ta đã nhờ có chữ Quốc ngữ, phương tiện mà chúng tôi đã thành công trong việc chứng minh và chuyển tải đến các quý vị và các bạn những tư liệu liên quan đến một phần quá khứ lịch sử dân tộc.
Thưa các quý vị và các bạn!
Những nội dung trong loạt bài viết của tôi về mối quan hệ Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc kháng, là kết quả nghiên cứu riêng, thông qua các tài liệu hiện có, với sự giúp đỡ dịch thuật từ các văn bản tiếng Pháp sang tiếng Việt của những người:
- Nguyễn Kỳ (1918-2013), con trai thứ sáu của Nguyễn Văn Vĩnh.
- Nhà sử học Đào Hùng (1932-2013).
- Nhà giáo Phạm Toàn (1932-2019).
- Nhà giáo Đỗ Ca Sơn (1936)
- Nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh (1947).
- Chuyên viên phiên dịch Nguyễn Như Phong (1958).
Xin được hẹn các quý vị và các bạn, bài cuối cùng trong chủ đề Phan Bội Châu – Nguyễn Văn Vĩnh, với đầu đề: “Thấy gì qua đám tang Nguyễn Văn Vĩnh?”.
NGUYỄN LÂN BÌNH
Trích dẫn chứng tham khảo:
Một vài mẩu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng. https://danang.gov.vn/gioi-thieu/chi-tiet?id=1688&_c=46.
‘Tiếng Cười xem thường danh lợi’:
“Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng ra tù. Thực dân Pháp và Nam triều nghĩ rằng, với 13 năm tù đày gian khổ đã làm nhụt chí nhà nho yêu nước Huỳnh Thúc Kháng. Nhưng chúng đã lầm.
Năm 1923, Khải Định dùng ngón, khôi phục hàm tiến sĩ hàn lâm viện biên tu cho Huỳnh Thúc Kháng, đồng thời sai Nguyễn Bá Trác và Phạm Quỳnh làm trung gian đem thư của khâm sứ Pasquire đến mời ông ra soạn bộ Hán Việt từ điển. Huỳnh Thúc Kháng đến Kinh gặp khâm sứ Pasquire để nói rõ nội tình ngoại thể Đông Dương và chính sách bảo hộ của thực dân Pháp.
Nhưng khi Pasquire đem chức quan ra nhử, cụ liền nghiêm sắc mặt nói:“Tôi là một quốc dân Việt Nam, đã thăm dò rõ việc dân, nên phải nói rõ, còn việc làm quan chẳng phải là điều sở nguyện!”. Sau bốn tiếng đồng hồ ngồi nói chuyện, Huỳnh Thúc Kháng ‘cười một cái, cáo biệt’…”.
Giới tinh hoa An-nam,https://tannamtu.id.vn/?p=1645.
L’Annam nouveau-Nước Nam mới, số 178, 179 và 180 – 13, 16 và 20/10/1932)
“…Để lớp người ưu tú này có thể hình thành và tự khẳng định mình, chỉ có thể lựa chọn và đưa vào các chủ thể đã thấm nhuần các tư tưởng lớn, tư tưởng tạo ra tâm hồn châu Á của chúng ta. Lớp người này cũng cần phải đối nghịch lại với các tham vọng của lớp tinh hoa giả hiệu, đối nghịch trong cả các quan điểm, các biến tướng nhằm thích ứng với cuộc sống đương đại và để đạt được điều này, họ phải có khả năng phản bác và bẻ gãy các luận điệu ngu dốt, cơ hội mà thường khi những người phương Tây nông cạn đã nhận định là các quan điểm chính thống của giới tinh hoa bản xứ”.
Hết bài 5.
One Response
Em cảm ơn anh đã chia sẻ các bài viết của/về học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Em tin các giá trị đích thực sớm hay muộn sẽ được trả về đúng vị trí vốn có của nó.
Chúc anh một ngày tốt lành!
Đ.T