HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH NGƯỜI DẮT TÔI ĐẾN VỚI NHÀ GIÁO PHẠM TOÀN – Phần kết

Phần thứ ba và hết

Phần 1

Phần 2

Ngây ngô và liều lĩnh

Thống kê khái quát những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã để lại trong sự nghiệp lao động của ông, kể cả với những kẻ tìm cách phủ nhận, họ cũng không phản bác được việc, ông là người đã khai sinh nhiều loại hình mới trong văn hoá, nghệ thuật, văn chương, in ấn, phát hành, và khoa học xã hội ở Việt Nam. Mục đích: Ông muốn chứng minh năng lực, trí tuệ của một giống nòi, đủ quyết tâm đưa chủng tộc này vươn lên sánh vai với các dân tộc khác trên địa cầu, nhằm chống lại sự miệt thị, coi thường người bản xứ trong tư duy của một nhóm những người Pháp Thực dân (1).

Những cống hiến trí tuệ của Nguyễn Văn Vĩnh thực sự hiện hữu, để đời, không trừu tượng, hay thuần tuý lý thuyết giống như nhiều bậc nhân sĩ nổi danh cùng thời. Vào thập niên đầu của thế kỷ 21, tôi thấy bị ám ảnh, vậy vì sao hậu thế hiểu quá ít, thậm chí không hiểu gì về con người này?

Tôi nhận ra, đó là hậu quả của tâm lý đố kị và phương thức tuyên truyền một chiều của các chính thể chuyên chế, nhất là ở Việt Nam, khi cuộc sống truyền thông còn xa lạ, nghèo nàn, kéo dài đến cuối thế kỷ 20. Thực tế, do mặt bằng quan trí cực kỳ thấp nhìn ở khía cạnh năng lực tiếp thu, đã tác động đến nền dân trí vốn đã thấp càng trở nên yếu kém, cộng với hoàn cảnh xung đột kéo dài, sinh ra những bộ máy cai trị quan liêu, chỉ nhắm đến sức mạnh võ công để giành thắng lợi, mà không quan tâm đến văn trị, không thiện chí với tầng lớp tri thức, dẫn đến duy ý chí trong nhận thức và hành xử.

Thu thập những dẫn chứng về quan điểm, kiến thức của những nhân vật liên quan đến chủ trương hạ thấp vai trò lịch sử chính trị và văn hoá của Nguyễn Văn Vĩnh, người ta nhận ra, họ đã hiểu về mối quan hệ đặc thù giữa ông với người Pháp chỉ bằng cách nhìn bề ngoài, và dễ dàng bị mặc cảm, dẫn đến đố kị, cộng với sự chi phối bởi tư tưởng chính trị giai cấp, nhất là việc, vì sao ông có người vợ ba là người mang quốc tịch Pháp, mà không hề hiểu rằng, đó thực chất là hệ quả của thuyết âm mưu!

Đằng sau thực tế này của Nguyễn Văn Vĩnh, đối với người có ý thức tìm hiểu, chúng ta sẽ thấy cơ man những điều đáng trọng trong cái bản năng tự vệ, tính tự tôn dân tộc hiếm thấy của một người dân xứ thuộc địa, khi sống đối mặt trực diện với bộ máy thống trị.

Nhà sử học người Pháp Philippe Le Failler (2), thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội đã đánh giá con người Nguyễn Văn Vĩnh như sau:

“Về nhân cách của Nguyễn Văn Vĩnh, về hoạt động chính trị của ông, chúng ta nên nhớ rằng, tính cách của Nguyễn Văn Vĩnh đã tạo cho ông thành một nhân vật lạc quan. Người ta, và chính người Pháp đã chỉ trích ông, rằng ông đã không có sự mặc cảm, tự ti của người dân nước thuộc địa!

Có thể hiểu qua các bài ông viết, rằng: Người Pháp chỉ là những người ngang hàng với mình, ít nhất cũng chẳng trí thức hơn. Ông tranh luận với họ trên mặt báo. Ở ông, ông không có ý tự phụ, với người Việt Nam ông cũng coi như ngang bằng… Ông chỉ đơn giản cảnh báo: Để ta khỏi bị yếm thế, cần phải có khả năng tranh cãi, và cần phải học. Chính quyền Thực dân mạnh, chẳng qua là vì ta yếu”.

Đây là một khía cạnh nhạy cảm, mà khi được bạch hoá, những kẻ vốn nuôi sự đố kị với Nguyễn Văn Vĩnh (kể cả với một số người Pháp) sẽ nhận ra tính phiến diện, nông cạn của mình, và liệu đó có phải là sự ‘vô tình’ đến mức đồng loã, với những thế lực luôn nuôi mục đích kìm hãm, tìm cách triệt tiêu những giá trị nhân bản của một giống dân?

Để bù đắp một mức nào đó cho những khiếm khuyết nói trên, tôi trộm nghĩ tới việc đề nghị ông Phạm Toàn dịch ngược cuốn Truyện Kiều tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh ra tiếng Việt, điều sẽ giúp những lớp hậu sinh thêm cơ hội tiếp cận với những tinh hoa kiến thức của tiền nhân, nó không hề cũ dù đó là vốn hiểu biết từ ngày xưa, và càng không hề khác lạ khi so sánh với những gì đang diễn ra trong đời sống văn hoá hôm nay của người Việt Nam.

Tôi điện thoại xin được gặp Nhà giáo Phạm Toàn (lúc này ông đang sống ở căn hộ nhà cao tầng tại khu Ciputra-Nhật Tân), ông vui vẻ mời tôi đến.

Tôi thuê sao chụp hai tập Truyện Kiều tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh từ bản gốc để mang tới ông với niềm tin, rằng mình đã có ý nguyện đúng. Thế nhưng, phải mất cả năm sau tôi mới biết, rằng mình đã quá ngây thơ, đơn giản trong nhận thức, bản tính của một kẻ ngoại đạo!

Tác phong, tính cách của ông Phạm Toàn là mẫu người không cầu kỳ, không xã giao hình thức, như chúng ta vẫn thấy trong sinh hoạt của nhiều người khi có được danh tiếng. Khi ông tiếp tôi, ông không mất thời gian trà nước, chuyện thăm hỏi rông dài… Ông đi thẳng vào câu chuyện, tính cách của con người vì công việc:

“Tại sao cậu lại muốn tôi dịch ngược cuốn sách này của cụ Vĩnh? Tôi mà làm việc này thì tôi phải bỏ tất cả các việc khác. Tôi đang dồn sức làm bộ sách giáo khoa cho học sinh tiểu học, bộ sách chúng tôi gọi tên là ‘Cánh Buồm’ ấy. Mà làm xong cho cấp tiểu học, tôi đã và đang làm tiếp cho cấp hai, rồi cả cấp ba nữa nếu còn sức… Không đủ sức đâu cậu Bình ơi! Mà tôi cũng không biết, nếu mình dịch bộ sách này của cụ Vĩnh, liệu tôi có sống được đến lúc dịch xong không nữa…?”

Nhà giáo Phạm Toàn chỉ vào bộ Truyện Kiều tiếng Pháp của cụ Vĩnh và hất hàm bảo tôi như biết rõ, rằng tôi là một đứa ngây ngô đến mức ngớ ngẩn:

“Cậu có biết, cụ Vĩnh dịch xong bộ Kiều này mất bao nhiêu năm không? Các cậu là con là cháu của cụ thật đấy, nhưng làm sao biết được…? Hàng chục năm, hàng chục năm, cậu hiểu không?!”

Ông nhìn tôi bằng ánh mắt tinh nghịch như đùa cợt, và ông còn trêu:

“Mà cậu làm sao đủ tiền để trả tiền dịch cơ chứ, tôi cũng phải có tiền để sống, để tái sinh sức sản xuất chứ. Cậu có đồng nào thì đã dốc hết vào bộ phim rồi còn gì. Thôi, không bàn chuyện này nữa, không làm được đâu, mà không ai làm được đâu!!! Cậu uống bia với tôi nhé, hay uống vang…?”

Nghe ông Phạm Toàn nói một hồi, tôi như thất thần. Không phải tôi thất vọng, mà vì tôi nhận ra cái nông cạn của mình khi chỉ thuần tuý nghĩ rằng, cần phải quảng bá những cái siêu việt trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, mà không tính rộng ra những điều kiện cần, và có liên quan đến ý nguyện này… Một lần nữa, rõ ràng tôi đích thực là kẻ ngoại đạo!

Sâu sắc

Thời gian trôi đi, năm tháng, tuổi tác lấy dần mất sự năng động của từng con người, nhưng tôi ngạc nhiên khi chứng kiến sự kiên nhẫn, say sưa và bền bỉ trong lao động của Nhà giáo Phạm Toàn. Có lẽ, ông được khích lệ bởi những thành công trong sự nghiệp sáng tạo với những kết quả giành được, khi bộ sách giáo khoa “Cánh Buồm” do ông chủ trương ra đời từng phần, và nó nhận được sự tán thưởng của dư luận. Ông từng tâm sự với tôi trong một lần trò chuyện như thế này:

“Mình thấy tiếc, vì ‘Họ’ đã cố tình, không muốn nhận thấy một thực tế, là con người sinh ra cần phải được phát triển tự nhiên, trách nhiệm của người lớn, là làm sao giúp con trẻ nó phát huy được bản năng sáng tạo, mà muốn sáng tạo, nó phải được tự do… Mình làm sách theo nguyên tắc, khích lệ những cách tư duy tự nhiên của trẻ con, hướng nó đến khả năng làm chủ được suy nghĩ, từ đó nó sẽ tự định ra được hướng đi và dần hình thành nhân cách tốt, giúp cho sự tiến bộ của một xã hội. Tuyệt đối đừng áp đặt, đặc biệt với trẻ con, vì như vậy sẽ làm hỏng nó!”

Sách tham khảo cho học sinh lớp 4 và lớp 5 do Nhóm Cánh Buồm biên soạn

Tôi dần thấy ‘thương’ ông, vì sự mẫn cán đến bất tận của ông trong công việc. Tôi thấy lạ, là ông không hề tỏ ra phiền muộn về chuyện dăm tháng ở nơi này, rồi vài tháng lại chuyển chỗ kia, vì trong quá trình quen biết ông, tôi đã chứng kiến có đến bốn lần ông chuyển nhà…

Hình như ông Phạm Toàn luôn thấy được an ủi, được chia sẻ nhờ một đội quân tình nguyện lúc nào cũng gắn bó, cũng náo nức, mà đa phần là các cháu thanh niên hoặc đang theo học đại học, hoặc đều đã tốt nghiệp đại học đang làm việc trong các tổ chức khác nhau ngoài xã hội.

Ông Phạm Toàn sống bình đẳng, tuyệt nhiên không câu nệ về chuyện lễ tiết. Tôi thích cách xưng hô của ông khi gọi những người trẻ tuổi chung quanh mình là ‘em’ và xưng ‘tôi’. Ông như tránh cái lối thưa gửi khách khí, ảnh hưởng của nền giáo dục phong kiến, coi việc xưng hô như sự phân vai thứ bậc với những đối tượng không phải ruột thịt là ‘con’, là ‘cháu’, ‘chú’ hay ‘bác’ không phải để thể hiện tính liên đới dòng máu, hay tôn trọng, mà chỉ để dễ bề áp chế nhờ tính uy quyền bản năng, tự cho mình là…‘bề trên’, còn ‘bề dưới’ mặc nhiên tự thấy mình là kẻ nô bộc, chỉ có quyền thi hành, làm mất đi tính bình đẳng thông qua cái đại từ nhân xưng được dùng như một ‘tập quán’.

Những lúc ông phận ý về điều gì đó, với ai đó, ông không cáu kỉnh, kể cả có lúc ông trợn mắt vì trái ý ông, nhưng cách ông phản ứng nó mang âm hưởng của nghề sư phạm, thoáng qua ngỡ tưởng như bị quở trách, nhưng không, nó có hơi thở của sự dạy bảo, mà ngay sau đó là thái độ ân cần, an ủi, cùng với nụ cười ấm áp, kèm ánh mắt tinh nghịch, với đôi câu cắt nghĩa ngắn gọn có tính lý giải.

Tôi từng được làm quen với một số gương mặt trong Nhóm “Cánh Buồm”, tôi thán phục sự hiểu biết cùng khối lượng kiến thức và sự tận tâm của họ. Nhưng cái tôi cảm nhận và ấn tượng hơn hết, đó là sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi tôi biết họ không nhận lương trong việc ‘hợp tác’ và hỗ trợ Nhà giáo Phạm Toàn, bất chấp các công việc phức tạp, kéo dài trong việc soạn thảo, biên tập kèm theo nhiều sự vụ rắm rối. Đã có người ngoài khi quan sát và ngỡ tưởng, rằng chúng toàn là con cháu họ hàng nhà ông Toàn nên chúng mới ‘ngoan’ thế chứ..!

Vậy điều gì đã giúp Nhà giáo Phạm Toàn có được sự hậu thuẫn và chia sẻ của một lực lượng lao động tri thức đông đảo và tận tâm như vậy?

 Nhóm ‘Cánh buồm’ dưới sự dẫn dắt của Nhà giáo Phạm Toàn, được nhận giải thưởng văn hoá năm 2015 của Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh, do bà Nguyễn Thị Bình làm Chủ tịch.

Những ai quan tâm đến chương trình sách giáo dục “Cánh Buồm” đều biết, rằng đây là một hiện tượng xã hội cá biệt trong một thể chế chính trị đặc thù như ở Việt Nam. Ông Phạm Toàn biết rất rõ, rằng ‘cuộc chơi’ này của ông là một thiên mệnh! Ông biết mọi thách thức luôn ‘rình mò’ ông trong từng ngõ ngách, ông biết sự đi về đâu của một đề án đẫm màu tự chủ do mình chủ trương? Ông biết, tất cả những nỗ lực của mình rồi sẽ để làm gì, nếu không được hệ thống quyền lực ‘chấp nhận’!

Nhưng ông vẫn chiến đấu, vẫn miệt mài lao động. Tôi hiểu điều gì đã thôi thúc ông chấp nhận ‘đau thương’ nếu có?! Tôi đồ như ông là người không quan tâm đến nỗi đau ở cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, ông là kẻ khoáng đạt trong cách nhìn đời.

Tôi thiển nghĩ, liệu đó có phải là nghĩa khí của một sĩ phu, một trang quân tử mà tôi mường tượng hiểu rằng, là hình ảnh của một kẻ được gọi là hào kiệt, không biết có cường điệu quá không?!

Nói cho gần gũi hơn với suy nghĩ đời thường, thì sự lao động đến mức dốc lòng dành cho dự án “Cánh Buồm” của Nhà giáo Phạm Toàn là một sự dâng hiến, mà ông biết hơn ai hết, rằng đã là ‘Dâng’ và ‘Hiến’ thì khỏi ghi danh, bởi một lẽ đơn giản rằng, bạn đã… Hiến!

Hình như, trong sâu thẳm cõi lòng, ông tin điều mình làm là một thứ lễ vật cho đời, rồi một ngày nào đó, ai đó ‘đủ sức’ nâng cái lễ vật ấy đặt vào lòng người dân, đưa vào óc đồng bào. Nhà giáo Phạm Toàn bình tâm tin sẽ có một ngày như thế, bởi nếu không như thế, ông đã không lao tâm khổ tứ đến như vậy.

Tôi ý thức được một chút về ông bởi lẽ, một ngày, khi tôi chuyển một bài viết dài của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên sáu số báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới bằng tiếng Pháp in năm 1931 (lúc này Nguyễn Văn Vĩnh chính thức bị Nhà Cầm quyền cấm viết bằng Quốc ngữ) có nhan đề Enseignement indigène – Giáo dục cho người bản xứ,viết theo tinh thần đề cương giáo dục áp dụng cho người dân An Nam, để ông Phạm Toàn dịch sang tiếng Việt.

Khi ông dịch xong, nội dung bài viết đã quện vào tâm khảm của ông, làm ông càng tin tưởng vào con đường mình đang đi, ông đã xúc động viết cho tôi như thế này:

Lời người dịch.

Đây là một bài báo dài viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, đã in trên các số báo L’Annam Nouveau năm 1931. Bài viết như một đề cương nghiên cứu về việc cần có một nền giáo dục phù hợp cho người dân nước Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20. Những điều nêu trong bài viết không chỉ dành cho các nhân sĩ Nho học thành đạt, hoặc Nhà Cầm quyền, mà là sự học của toàn dân Việt Nam, một hệ thống học tập đơn giản nhưng hiệu quả.

Từ quan sát kinh nghiệm của hệ thống giáo dục trong quá khứ, một cách sâu sắc mà giản dị, Nguyễn Văn Vĩnh kiến nghị cách thức người Pháp cần quan tâm, tổ chức Hệ thống Giáo dục cho người Việt Nam thời thuộc Pháp một cách thực tiễn.

Trong bài viết, tác giả nêu ba quan điểm để cân nhắc, xem xét việc tổ chức một nền giáo dục phù hợp đó là : Quan điểm của nhà cầm quyền, của toàn dân, và của các bậc hiền triết.

Tháng ngày ít ỏi còn lại

Đầu Hè năm 2018, tôi điện thoại cho ông Phạm Toàn ngỏ ý muốn đến thăm, ông nói: Bình ơi, tôi lại chuyển chỗ ở rồi…

Tôi không hề quan tâm đến lý do, vì sao ông Phạm Toàn cứ phải di chuyển nơi ở ? Tôi chỉ đơn giản nghĩ thấy thương ông bởi lẽ, một người đã trên tám chục tuổi rồi, mà vì sao vẫn không được ở yên một chỗ ?!

Tôi quyết định đến với ông cho dù ông đã lưu ý tôi rằng, chỗ mình ở mới xa lắm, mãi tận gần cầu Đuống cơ…

Tôi tìm được đến nơi, một căn hộ nhỏ xinh chỉ khoảng năm chục mét vuông, trong một toà nhà cao tầng mới xây, không gian bốn bề trống trải. Nơi đây, mùa Hè, gió và nắng của cái đồng bằng Sông Hồng lúc nào cũng dư thừa, làm cho vị trí của toà nhà càng như rất xa chốn đô hội.

Khi gặp, tôi thấy ông đã yếu nhiều so với lần gặp trước, nhưng quanh ông vẫn ngập sách vở, tài liệu, bản thảo… Tôi mang tới một chút hoa quả, ông bảo tôi, vẽ chuyện! Ông thì thầm với chất giọng buồn buồn về lý do ông dọn đến ở nơi này:

‘‘Bình ơi, tôi quyết định mua căn hộ này đấy, bây giờ tôi có nhà rồi Bình ạ, nó là nhà của mình. Ở đây không khí thích lắm, đầy nắng và gió, mà chẳng biết tôi ở đây sẽ được bao lâu, dạo này tôi thấy mình cũng yếu thật rồi, mà tôi cũng phải được chết ở nhà của mình chứ, không lẽ đời tôi lại phải chết ở nhà người ta …?!’’

Tôi nghe ông thều thào, lòng dạ tôi như nghẹn lại. Tôi có thể làm gì được cho ông, an ủi ông thế nào cho phải đạo?! Tôi móc túi đưa ông tiền, ông hỏi: Tiền gì đây mà nhiều thế? Tôi đáp: Thầy ơi, mấy chục trang dịch còn gì ạ… Ông lại bảo: Ừ, tôi cảm ơn Bình, mà thôi, cứ để đây, chẳng biết rồi tôi có tiêu đến không nữa… ?

Tôi ra về trên con đường vắng đầy nắng và gió, không biết định đi tắt kiểu gì mà tôi lượn vòng vèo trên chiếc xe máy, đột nhiên thấy mình đang đi trên bờ đê sông Đuống. Tôi nhìn dòng nước cuồn cuộn, đỏ ngầu, và chợt nghĩ… Bao nhiêu phù sa của dòng sông rồi cũng trôi ra biển lớn… Nhưng rồi tôi lại thấy như được an ủi khi  ngẫm ra, rằng chính biển lớn mới là nhân tố quyết định sự sống trên trái đất này, hỡi ôi, ai đó phải thấy hãnh diện nếu mình được là một con suối nhỏ chứ!

Cũng năm 2018, tại Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace đã tổ chức buổi ra mắt cuốn sách “Người yêu tiếng Việt trọn đời”, gồm một số bài viết trên báo chí của học giả Nguyễn Văn Vĩnh về chữ Quốc ngữ, thầy Phạm Toàn cũng có mặt. Khi buổi lễ kết thúc, ông đến trước mặt tôi và hỏi:

“Này Bình ơi, thế cuốn sách tiếp theo của cụ Vĩnh cậu dự định sẽ là cuốn gì?”

 Tôi khẳng định:

“Thưa thầy, sẽ là một cuốn có chuyên đề về giáo dục. Em đã xếp sẵn khoảng 30 bài viết của cụ, có thể hơn, nhưng toàn là tiếng Pháp thôi thầy ạ!”

Thầy Phạm Toàn:

“Này, tôi bảo: Cậu dành cho tôi đi. Cậu chuyển dần những bài cần dịch cho tôi. Tôi đang cố gắng hoàn thành nốt cam kết với cái trường mà cậu đã đến rồi đấy, rồi tôi sẽ tập trung vào việc dịch.

Bình ơi, cậu nhớ nhé, để tôi làm nhé. Tôi muốn đây sẽ là cuốn sách cuối cùng của cuộc đời mình. Được làm việc này, tôi có ra đi cũng thấy mãn nguyện. Mà cụ Vĩnh viết hay, mặc dù văn tiếng Tây của cụ ghê gớm lắm.

Mà này, cậu phải cho tôi cả cái vinh dự được viết lời nói đầu của cuốn sách nữa đấy, phải để tôi nhé, tôi mong được làm việc này, cậu nhất trí không?”

Ảnh buổi ra mắt cuốn sách ‘Người yêu tiếng Việt trọn đời’ tại Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace ở Hà Nội. Đây là lần cuối cùng Nhà giáo Phạm Toàn có mặt trong các hoạt động văn hoá xã hội, liên quan đến đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Vâng, vậy là tôi với thầy Toàn đã có một giao kèo miệng thật thiêng liêng, thiêng liêng bởi, khi Nhà giáo Phạm Toàn đang dịch một số bài viết về giáo dục bằng tiếng Pháp này của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, thì ngày 26/6/2019 Tạo hoá đã mang ông đi đến chốn suối vàng, nơi có hồn thiêng của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi loáng thoáng nhận ra những nguồn cơn tạo ra sự nỗ lực của thầy Phạm Toàn trong sự nghiệp làm giáo dục, và chạnh nghĩ đến một diễn biến chính trị quan trọng trong cuộc đời học giả Nguyễn Văn Vĩnh, dù tôi không muốn thần thánh hoá ông.

Năm 1907, khi Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) bị khủng bố, Nguyễn văn Vĩnh đã cay đắng và bất bình trước sự nhẫn tâm của những người Pháp Thực dân, đã hèn nhát, run sợ trước sự ‘thèm’ được học của người dân An Nam, điều mà họ cho rằng, khi cái sự học nó lớn mạnh, nó sẽ giúp cái trí tuệ của người dân bản xứ phát triển, và điều đó sẽ đe doạ cái vị thế cai trị của họ.

Bị nghi ngờ là kẻ đã ‘xúi bẩy’ các nhân sĩ yêu nước tổ chức phong trào ĐKNT, ngày 11/12/1907, trong cơn phẫn nộ, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết bức thư gửi tới ngài Hause – Đốc lý Hà Nội, trong đó có đoạn :

“… Lần đầu tiên tôi xuất hiện ở nhà trường ĐKNT là 15/3 Âm lịch… phần hai của lời phát biểu của tôi, là dành cho chữ Quốc ngữ, tôi đề nghị lấy nó làm chữ viết dân tộc và là cơ sở cho nền giáo dục bản xứ… Đó, đó là tất cả tội của tôi. Tôi nhắc lại, là vì tôi đã muốn cải cách giáo dục mà không nhờ đến Chính quyền…!” (TT.Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp CAOM- Người dịch Nguyễn Cung).

Liệu có phải, cái lối động viên công cuộc cải cách giáo dục này của Nguyễn Văn Vĩnh đã vận vào cái mệnh của Nhà giáo Phạm Toàn? Ông Phạm Toàn đã lăn lộn với công việc nghiên cứu giáo dục tiểu học từ năm 1967, với kỳ vọng đóng góp vào việc tìm ra phương hướng giải quyết các vấn đề của giáo dục Việt Nam (VNN 26/6/2019), và kéo dài hơn sáu mươi năm trời, cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời…!

Tang lễ Nhà giáo Phạm Toàn ngày 28/6/2019. Những người tham dự dùng khăn tang đa phần là các thành viên của Nhóm ‘Cánh Buồm’ tự nguyện để tang ông.

Cầu cho vong linh người tài đã mất được mát mẻ và linh thiêng

Rõ ràng, Nhà giáo Phạm Toàn là mẫu người đặc biệt, như nhà báo Kim Dung nổi tiếng một thời gần đây của chuyên mục Tuần Việt Nam đã nhận xét về ông:

“Một trí thức đầy nhiệt huyết với Đất nước, với Con trẻ. Lúc nào cũng vội vã làm việc chỉ sợ không đủ thời gian. Một tâm hồn trong sáng, yêu Đời, hồn nhiên và thiện lương như… con trẻ…”

Tang lễ ông Phạm Toàn đã được thực hiện theo một thể thức đặc biệt trang trọng, khác với thông lệ nặng tính thủ tục, khuôn mẫu. Tang của thầy Phạm Toàn là một buổi lễ ấm áp của những kẻ yêu quý ông, trân trọng và biết ơn ông. Vô vàn tiếng thút thít cùng nước mắt, nhưng không phải là những tiếng khóc than vãn vì mất mát, vì chia ly, mà nó mang nặng không khí của sự tôn vinh và nỗi lòng tha thiết vì nhớ thương một con người đã sống với một tâm hồn trong sáng, đầy tính cống hiến, đúng như nhận xét của nhà báo Kim Dung.

Chúng ta hãy nghiêng mình một lần nữa bằng lời từ biệt Nhà giáo Phạm Toàn của Đài Truyền Hình VTC vào ngày 28/6/2019 như thế này: “Nhà giáo Phạm Toàn là một người truyền cảm hứng cho rất nhiều độc giả và các bạn trẻ. Sự ra đi của ông là một sự tiếc nuối trong lòng độc giả, các cộng sự, giới trí thức, và đặc biệt là giới nghiên cứu giáo dục”.

Còn với tôi, kẻ viết những dòng này, một kẻ biết mình là ngoại đạo không phải vì khiêm tốn, nhưng dám viết bởi lẽ, tôi đã ơn nhờ cái công việc phục dựng chân dung thực của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, mà may mắn được tiếp cận và quen biết với rất nhiều người tài, người giỏi, người tử tế ở trên cõi đời này, trong đó có Nhà giáo Phạm Toàn, tôi hãnh diện về sự thật này!

Tôi cũng đã nhận ra, sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh với Nhà giáo Phạm Toàn, tâm nguyện và lý tưởng của hai con người này trong lĩnh vực giáo dục, chắc chắn đều có cùng một điểm xuất phát, đó là khuynh hướng nâng cao dân trí, tạo dựng sự tiến bộ cho một giống nòi tìm, cách thoát ra khỏi thân phận của những kẻ suốt đời sống trong cảnh bán lưng cho trời, bán mặt cho đất mà vẫn chỉ được bữa sáng lo bữa tối.

Cầu cho vong linh Nhà giáo Phạm Toàn lúc nào cũng linh thiêng và mát mẻ! Cầu cho những thành quả của ông trong bộ sách “Cánh Buồm” sớm có một ngày đến được với tất cả trẻ em ở mọi miền đất nước!

Ghi chú :

1. Ngày 4/8/1907, tại Hội Quán Trí Tri ở 59 phố Hàng Quạt (nay là số 47) Nguyễn Văn Vĩnh đã đứng ra cùng các đồng sự chính thức thành lập ‘Hội Dịch sách’ đầu tiên ở Việt Nam, phục vụ việc mở mang kiến thức cho người dân. Sự kiện này đã bị một nhà báo rất nổi tiếng người Pháp có tên là Ernets Babut (1878-1962) viết bài châm biếm rằng, người Annam làm sao có được khả năng trí tuệ để dịch tiếng Tây triết học?!

2. Philippe Le Failler phát biểu trong bộ phim tài liệu lịch sử “Mạn đàm về Người Man di Hiện đại” hoàn thành năm 2007. Hiện nay ông là Giám đốc Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội-Ecole française d’Extrême-Orient. 

HẾT

NGUYỄN LÂN BÌNH

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network