HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH – NGƯỜI DẮT TÔI ĐẾN VỚI NHÀ GIÁO PHẠM TOÀN – Phần 2

Phần hai

Phần một

Quả chín

Rồi lại thêm một tháng nữa trôi đi, khi tôi tin chắc ông Phạm Toàn đã dịch xong bài của Nguyễn Văn Tố, tôi lại nhấc điện thoại gọi tới ông. Dù chỉ qua điện thoại, nhưng lần này tôi cảm nhận được ngay sự vui vẻ với chất giọng hồ hởi, ông nói:

“Bình ơi, xong rồi nhé! Khiếp, khó quá cậu ạ. Mà này, tôi không giỏi tiếng Việt đâu, cho nên tôi cứ phải đọc đi đọc lại bản dịch, chữa lên chữa xuống mà vẫn chưa yên tâm, cậu nên tìm ai giỏi ngữ văn, nhờ họ rà soát lại, bài này quan trọng lắm. Gớm mà sao ngày xưa các cụ ấy giỏi thế chứ, cụ Tố là người giỏi lắm đấy, thế mà vẫn thán phục cụ Vĩnh ghê gớm… Thôi để tôi chuyển cho cậu, nhưng cậu nhớ tìm người giỏi tiếng Việt, nhờ họ hiệu đính cho cẩn thận nhé!”

Đương nhiên là tôi mừng, tôi vui, nhưng ngay sau cái giây phút vui và mừng đó, tôi lại thấy lo, thậm chí rất lo khi nghĩ đến sự lưu ý, rằng phải đi tìm người nào giỏi văn, giỏi tiếng Việt, nhờ họ hiệu chỉnh cho văn phong thật trôi chảy, thật tốt… Tôi cũng không dám chắc, rằng ông Phạm Toàn nhận mình bị hạn chế trong trình độ tiếng Việt của ông là thật, hay ông nói chỉ để thể hiện sự khiêm nhường? Đúng là một sự đánh đố một đứa ‘nhà quê’ trong làng văn hoá, văn học như tôi.

Tôi ngẫm ra, để tìm được người giúp chỉnh sửa bản dịch của ông Phạm Toàn, làm sao người đó chỉ giỏi ngữ văn tiếng Việt thôi được, nhất thiết người đó phải giỏi cả tiếng Pháp nữa. Ông Phạm Toàn giỏi thế, ông ấy còn đang làm cả sách giáo khoa môn ngữ văn cho học sinh, mà bây giờ tôi phải đi tìm người nếu không giỏi hơn ông ấy môn tiếng Việt, thì cũng phải ngang bằng… Vậy nếu đó không phải là sự đánh đố, thì… cũng là sự thách đố!

Ơn Giời, vậy mà rồi tôi cũng tìm được giải pháp. Có rất nhiều sự việc gay cấn đã từng sảy ra trong tiến trình phục dựng chân dung thực của Nguyễn Văn Vĩnh, tôi nghiệm thấy, cứ vào lúc bế tắc, khó khăn, đôi khi tưởng phải bỏ cuộc, phải đầu hàng, bỗng lại thấy xuất hiện điều gì đó, gương mặt nào đó đã giúp tôi vượt qua và đi tiếp. Tôi mãi biết ơn thiện tâm của những con người đó cho đến ngày nhắm mắt.

Sục sạo trong suy nghĩ, và tôi lần mò tìm ra nhà văn Nguyên Ngọc!

Cho đến thời điểm đó, tôi thật sự không hiểu bao nhiêu về Nhà văn Nguyên Ngọc, ngoài cái dấu ấn kiến thức thời cuộc khi còn là học sinh phổ thông, cũng như bao nhiêu người cùng thế hệ khi nói đến tác phẩm “Đất nước đứng lên”.

Tôi hỏi thăm, tra cứu và ngạc nhiên khi được biết, Nhà văn Nguyên Ngọc là người dịch tác phẩm Độ không của lối viết, sách lý luận văn học của triết gia người Pháp Rolland Barthes (1915-1980), rồi Nghệ thuật tiểu thuyết (Milan Kundera – 1929), của nhà văn Tiệp Khắc, cùng một vài tác phẩm của Nhà Chính trị người Pháp Jean-Paul Sartre (1905-1980)…

Tôi đã thấy yên tâm với phát hiện của mình, nhưng liệu Nhà văn có đồng ý giúp tôi không, là một câu chuyện khác, bởi lẽ tôi đã từng phải chứng kiến sự mặc cảm về nhau giữa các nhân vật danh tiếng ‘cùng làng’, đôi khi nó biến thành ‘chợ búa’, nên tôi lo, tôi ngập ngừng.

Tôi mạnh dạn điện thoại xưng danh xin gặp ông, tôi dè dặt trình bày (cho đến giây phút đó, tôi hoàn toàn không biết hai ông có quan hệ thế nào với nhau?!), và tôi nêu nguyện vọng mong được ông quan tâm giúp. Nhà văn Nguyên Ngọc bảo tôi:

“Cậu Bình ơi, mình bận lắm, mà ngày mai mình lại phải vào Tây Nguyên, vả lại ông Phạm Toàn dịch là yên tâm rồi, làm sao mà cậu phải lo…?”

A, vậy là ông Nguyên Ngọc hình như cũng có ý khâm phục ông Phạm Toàn… Ôi hay thế?! Tôi đã thấy đỡ lo hơn, nhưng tôi vẫn giở giọng nải nỉ, thỉnh cầu. Cuối cùng, Nhà văn Nguyên Ngọc hạ giọng, ông tỏ ra ân cần với tôi:

“Thôi thế này nhé, Bình đem đến nhà cho tôi, gặp cô cứ nói gửi cho tôi, cô ở nhà mà, cứ để đó, tôi cũng chỉ đi ba bốn ngày rồi quay về. Tôi sẽ xem giúp, mà ông Toàn dịch không phải lo đâu… Thế nhé!”

Như trút được gánh nặng, tôi thấy râm ran trong lòng, và tự thưởng ngay cho mình một cốc bia lạnh toát.

Sau khi tôi có được bản dịch hoàn chỉnh, tôi quyết định in ra và đưa đến biếu giáo sư Phan Huy Lê (1934-2018), Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, vừa có ý thông báo, vừa để chứng minh với người đứng đầu ngành Lịch sử ở Việt Nam một tư liệu quan trọng, và cũng để chia vui với người rất kính trọng Nguyễn Văn Vĩnh.

Chỉ ba ngày sau, giáo sư Phan Huy Lê điện thoại lại cho tôi, ông nói lịch sự:

“Anh Bình ơi, tôi đọc rồi, bài viết hay quá, quý lắm. Nhưng tôi là người nghiên cứu về cụ Nguyễn Văn Tố, mà chưa bao giờ biết có cái tạp chí này, thậm chí chưa khi nào thấy nói đến tờ báo đó. Tôi đề nghị anh liên hệ với chỗ ‘Xưa và Nay’, chỗ cậu Dương Trung Quốc ấy, để cho đăng trên báo vì nó rất bổ ích và cần cho sự hiểu biết của các nhà nghiên cứu văn hoá!”

Ý kiến của giáo sư Phan Huy Lê đã giúp tôi yên tâm hơn về nội dung và chất lượng bản dịch của Nhà giáo Phạm Toàn, bởi danh chính, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử đã có thái độ tiếp nhận tư liệu chuyên sâu về Nguyễn Văn Vĩnh một cách hào hứng như vậy, đâu phải chuyện xã giao, tôi thấy thực sự được khích lệ.

Sau này, khi hiểu hơn những góc khuất trong cuộc đời, tôi nhận thấy, hình như, giữa những gương mặt danh giá cùng một thời, chẳng mấy dễ giữa họ có sự nể trọng lẫn nhau… Tôi trộm nghĩ, liệu đó có phải là một thuộc tính khác thường của người Việt Nam ta?!

Nói về cái sự giỏi của ông Phạm Toàn, cũng lại vô tình tôi được nghe từ một người cùng thế hệ với ông, nhà giáo Đỗ Ca Sơn (1932), người là chiến sĩ Đồi A 1 trong chiến dịch Điện Biên năm nào, ông từng là giảng viên bộ môn tiếng Nga ở Đại học Sư phạm Hà Nội, là hạt nhân trong nhóm tác giả sách giáo khoa tiếng Nga phổ thông ở Việt Nam, thập niên 70 và 80 ở thế kỷ trước.

Nhà giáo Đỗ Ca Sơn, phát biểu trong buổi lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh học giả Nguyễn Văn Vĩnh, do Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh tổ chức tại Hà Nội.

Chuyện là thế này, cũng vào năm 2008, nhờ tấm lòng ngưỡng mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một nhà sưu tầm về lịch sử Việt Nam ở Paris, đã sao chép được trong lưu trữ của Bộ Thuộc địa cũ của Nhà nước Pháp, những trang biên bản của Cơ quan An ninh Phủ Toàn quyền Đông Dương (CQANPTQ ĐD) thực hiện năm 1926, ghi chép những lời khai của Nguyễn Văn Vĩnh khi bị Nhà Cầm quyền câu lưu, thẩm vấn về tội: Vào Huế gặp Nhà cách mạng Phan Bội Châu với mục đích gì? Hai người đã có âm mưu và bàn bạc với nhau những nội dung gì…?

Để đảm bảo sự toàn vẹn của tư liệu, và chứng minh lòng ngưỡng mộ học giả Nguyễn Văn Vĩnh,  Nhà sưu tập lịch sử đó đã quyết định, mua vé máy bay mời tôi sang Paris để trao tận tay tài liệu quý này.

Ở một vài bài viết của mình, khi nói đến việc dịch tài liệu, tôi từng than thở về sự phức tạp, khó khăn và cả phiền toái đến mức đôi khi phải ‘vật lộn’ trong việc tìm người dịch, đặc biệt với các di cảo của Nguyễn Văn Vĩnh, hoặc liên quan đến Nguyễn Văn Vĩnh.

Thực tế cho thấy, ngoài việc người dịch giỏi tiếng Pháp, người đó buộc phải giỏi cả tiếng Việt, và chí ít cũng biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai trong lịch sử văn hoá, chính trị xã hội Việt Nam ở thế kỷ 20.

Điều này sẽ giúp người dịch hiểu lối tư duy cũng như văn phong tiếng Pháp của ông, khi dịch mới thấy ‘bị’ hấp dẫn và mang tinh thần, tư tưởng nội dung của di cảo, từ đó hi vọng để có được phần nào bản sắc Nguyễn Văn Vĩnh. Được như thế, người dịch mới đủ nhiệt tình, ‘dám chịu trách nhiệm’, và ‘quyết tâm’ để nhận dịch.

Tôi đã có những bài học, khi đưa dịch các di cảo viết tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh và liên quan đến Nguyễn Văn Vĩnh tới những địa chỉ khác nhau, nhưng chất lượng dịch không đáp ứng yêu cầu, cho dù có trường hợp qua đến hai ba người, và cũng thanh toán đến hai, ba lần… Chưa hết, đã từng sảy ra một vài ‘sự cố’ chua chát, như việc sử dụng tư liệu tuỳ tiện, thậm chí, có ‘cao nhân’ dịch xong, bất chấp việc tôi nài nỉ, cũng không dám cả ký vào bản dịch của mình với lý do… ‘Tế nhị’!

Tóm lại, người nhận dịch các tư liệu về Nguyễn Văn Vĩnh cần có chút ‘dũng khí’, một chút tố chất không phải là sự suy diễn, hay một sự nhận thức thái quá của tôi.

Tôi biết ông Đỗ Ca Sơn từ gần hai chục năm trước đó, qua một người bạn chuyên tổ chức tua du lịch cho khách Pháp đi thăm quan chiến trường Điện Biên Phủ, do ông làm phiên dịch kiêm hướng dẫn. Thú vị, là khi gặp, tôi đã nhận ra ông là bố của một cô bạn thân với tôi từ thủa tôi còn trong quân ngũ, nên những khi được hàn huyên với ông, tôi như người thân.

Tuy nhiên, tôi vẫn dè dặt trong việc nhờ ông Sơn dịch tư liệu của CQANPTQ ĐD mà tôi kể ở trên. Tôi mong ông Sơn giúp vì thấy ông là mẫu người điềm đạm, khiêm nhường trong tính cách. Ông Đỗ Ca Sơn đã chậm rãi nói như tâm sự, sau khi nghe tôi trình bày nguyện vọng:

“Anh Bình ạ, trước tiên tôi phải xin được cảm ơn lòng tin của anh đối với tôi. Tôi thấy vinh dự vì được dịch những gì liên quan đến cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cụ không đơn thuần là một người tài, mà đó là một bậc đại tài, người đã khai sáng cho thế hệ chúng tôi. Chỉ có điều, gần đây mắt tôi ngày càng kém, tôi chỉ đọc được năm hoặc mười phút là nước mắt nó chảy ra và không nhìn được nữa…

Bên cạnh đó, tôi không còn đọc được màn hình máy tính, vì thế nên không đánh máy được, nhưng tôi vẫn xin được nhận dịch. Anh cứ in ra giấy và mang cho tôi, tôi sẽ cố gắng dịch thật tốt. Lưu ý anh, tôi sẽ viết tay, nhưng vì mắt kém nên khả năng sẽ viết không được đều, và không có được hàng lối nghiêm chỉnh đâu…”

Tôi mừng khôn tả, bởi lẽ với mẫu người thận trọng như ông Sơn, tôi sẽ không phải lo lắng về chất lượng, không phải áy náy về sự bảo mật đối với một loại tư liệu quý, nghĩ vậy nên lúc đó, lòng dạ tôi trở nên nhẹ nhõm, yêu đời.

Một tuần sau khi tôi chuyển văn bản để nhà giáo Đỗ Ca Sơn dịch, ông mời tôi đến nhà nhận kết quả. Ông vừa rót nước vừa nức nở:

“Anh Bình biết không, tôi vừa dịch vừa thấy xúc động khi nghĩ đến cụ Vĩnh… Ừ thì cụ Vĩnh giỏi ai cũng biết, nhưng ở đâu ra một con người khảng khái và khí tiết đến thế kia chứ?! Tôi đọc nội dung, mới hiểu vì sao cụ Phan Bội Châu lại phải khóc khi cụ Vĩnh mất?! Tôi vinh dự quá vì được dịch cái tài liệu này, nó là tư liệu lịch sử không ai có thể nói khác được về Nguyễn Văn Vĩnh đâu nhá!

Tôi rất xin lỗi anh vì tôi viết nó hơi nghuệc ngoạc, mắt tôi nó hỏng mất rồi, anh thứ lỗi nhé. Anh chịu khó đọc và đánh máy lại cho nó được rõ ràng”

Cầm bản dịch ông Sơn đưa, tôi đọc lướt nhanh… Tôi đã lặng người khi nhìn những dòng chữ uốn lượn, chữ to chữ bé, chỗ đậm chỗ nhạt. Rồi tôi lâng lâng vì hạnh phúc khi đọc kỹ nội dung, bởi đã từ rất lâu, tôi mò mẫm, hi vọng, mong làm sao để hiểu được rõ mối quan hệ Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu? Tôi muốn biết những gì đã diễn ra giữa họ, để đến khi nghe tin Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu đã phải ‘đau cảm quá’ và coi Nguyễn Văn Vĩnh là ‘viên ngọc báu của năm châu’?

Và tôi phải hiểu được, vì sao dưới con mắt của một số nhân vật làm chính trị cùng thời, thì mối quan hệ với Phan Bội Châu lại biến thành ‘vết đen’ chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh…?

Nhờ có tư liệu này, tôi đã cởi phăng được cái nút thắt lịch sử kéo dài hàng chục năm trời, cái nút thắt đã giày vò tôi mỗi khi đọc trong lưu trữ của những cơ quan chuyên môn, về cái góc nhìn giới hạn và nặng định kiến của thể chế cầm quyền trước một Nguyễn Văn Vĩnh.

Đọc tư liệu này, tôi mới biết, tính nhất quán trong lý tưởng giải phóng dân tộc của hai con người đó là sự đồng điệu. Họ đã thống nhất với nhau chủ trương đấu tranh theo cách: Vận dụng trí tuệ, trên cơ sở luật pháp của chính kẻ cai trị và sự minh bạch, để có một Nhà nước Cộng hoà cho người dân An Nam. Đặc biệt, cả hai người kiên quyết lên án cái thối nát của Vương triều, rồi sự bế tắc dẫn đến những hành xử hèn hạ và cực đoan trong chính sách cai trị của Chính quyền Thực dân.

Tôi đã nhìn thấy lý do mà những kẻ đố kị đã ‘lợi dụng’ cái sự khảng khái, tính bộc trực của Nguyễn Văn Vĩnh khi nói một cách trần trụi về Phan Bội Châu, trong cuộc tranh luận công khai trên mặt báo với Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)(1) (nay người ta gọi là phê bình), về một vài cách tư duy và phương thức động viên cách mạng không phù hợp của ông, nhất là khi hoàn cảnh lịch sử đã trở nên ngặt nghèo, và điều đó trái với những quan điểm mà hai người đã từng thống nhất, đặc biệt là trong khi Phan Bội Châu đang phải chịu sự quản thúc của Nhà cầm quyền.

Liệu những kẻ cơ hội, đặt điều gọi đó là ‘mâu thuẫn’ giữa hai con người này, có phải là một chiêu thức chính trị? Sự việc này ẩn chứa rất nhiều lý do phức tạp mà họ đã giấu kín, rồi coi đây là cái cớ để kết tội Nguyễn Văn Vĩnh là: Phê phán người yêu nước là không yêu nước! Chưa kể đến việc có giai đoạn, họ còn rêu rao gọi ông là: Bồi bút!

Thậm chí trước đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã từng bị phủ nhận vai trò lịch sử chính trị đặc biệt quan trọng của ông trong ĐKNT 1907(2), họ (bao gồm một vài nhân vật trong Vương Triều, đặc biệt là giới quan lại và số nhà Nho cố chấp, hẹp hòi, những kẻ hưởng lộc của thể chế, đã luôn coi ông là kẻ ‘ngáng đường’) đã suy diễn hồ đồ và thoá mạ ông, tạo thành mối nghi ngại về nhân cách, về sự ngay thẳng, chính trực của một nhân vật lịch sử.

Nút thắt chính trị nhìn thấy bằng mắt thường, liên quan đến danh tiếng của Nguyễn Văn Vĩnh, chính là những sự việc nêu trên! Đành rằng còn một nút thắt cực kỳ quan trọng khác mà tôi sẽ trình bày khi có cơ hội.

Tôi may mắn được chứng kiến sự vô tư đến cảm động của Nhà giáo Đỗ Ca Sơn qua việc dịch cái tư liệu đặc biệt này. Vâng, ông Sơn có quyền hãnh diện vì mình đã can dự vào việc làm rõ tính tường minh của một nhân vật ‘gai góc’ bậc nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại.

Ở đây, nhìn thoáng qua, người đời sẽ nghĩ, ông Sơn thuần tuý chỉ thực hiện cái chức phận của một người biết ngoại ngữ… Mà không bận lòng, rằng đây là chứng cứ lịch sử trọng đại đến mức:

Ngoài giá trị là bằng cứ trên cơ sở là tư liệu lịch sử có nguồn gốc pháp lý, nó còn mang cả phần hồn thiêng của hai danh sĩ nổi tiếng, hai vì sao sáng đã khuất trong lịch sử chính trị Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20, những kẻ đã từng làm rung chuyển dư luận xã hội nhờ tài năng xuất chúng của mình, những kẻ đã từng là niềm tin của dân chúng, khi họ đều mong muốn đi tìm con đường đưa dân tộc mình thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, và người dân Annam này phải được sống trong một quốc gia độc lập, và đó là Phan Bội Châu và Nguyễn Văn Vĩnh! 

Sự va đập xã hội gay cấn không dễ nhận thức này trên báo chí năm 1932, đã buộc Nguyễn Văn Vĩnh phải rút ruột nói với chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng một cách trân trọng và biện chứng, theo cách công khai qua con chữ trên tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới phát hành ở Hà Nội tháng 4/1932 rằng:

Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng… chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!” (Người dịch Đào Thế Hùng, tức Đào Hùng 1932-2013).

Cần chấm dứt sự xuyên tạc và suy luận đầy ác ý của nhóm người bảo hoàng, thiển cận, bao năm vẫn cứ lặp lại cái luận điệu một chiều mang tính đố kị. Khôi hài hơn, là ‘Họ’ còn không muốn ‘xác nhận’ Nguyễn Văn Vĩnh là Nhà yêu nước (3), điều mà chỉ có nhân dân và lịch sử mới đủ quyền để kết luận!

Ảnh buổi toạ đàm 2002, nơi nhà báo Nguyễn Thành phát biểu.

Những lúc được lân la bên Nhà giáo Đỗ Ca Sơn, tôi cảm động vì được biết, rằng mỗi lần tụ hội hàn huyên về thế thái nhân tình giữa những người bạn tâm giao, các vị đã từng nhắc đến tên tôi. Họ so sánh tôi với một vài trường hợp khác trong bối cảnh tương tự, họ tán thành cách hành xử thận trọng và minh bạch của tôi trước đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, mà không đơn thuần chỉ là bổn nghĩa của một hậu duệ.

Tôi từng lựa lời tò mò hỏi Nhà giáo Đỗ Ca Sơn, rằng những người bạn tâm giao ấy của ông là những ai? Chú có biết và có quan hệ gì với ông Phạm Toàn không?

Nghe tôi nhắc đến tên Phạm Toàn, ông nở nụ cười đôn hậu và vô tư tâm sự:

“Chúng tôi cùng lứa, nhưng ông Phạm Toàn giỏi hơn bọn tôi đấy. Hầu hết lứa chúng tôi ngày xưa đều được học trường Pháp – Việt, ngày ấy họ dạy cẩn thận lắm, trong chúng tôi có nhiều anh sau này cũng trở nên nổi tiếng, nhưng khó so được với ông Phạm Toàn, vì ông Phạm Toàn được học trong Trường Dòng, anh Bình có hiểu Trường Dòng nó khác các trường Pháp – Việt chúng tôi học như thế nào không? Ở đó, họ dạy dỗ rất cẩn mực, phương pháp cũng toàn diện hơn, sâu hơn, vì vậy nên học sinh của họ có nhiều người giỏi hơn bọn tôi đấy anh Bình ạ!”

Vậy là, có thêm sự ‘xác nhận’ của ông Đỗ Ca Sơn về Nhà giáo Phạm Toàn, tôi ngày càng yên tâm, tin tưởng vào trình độ và danh tiếng của các bậc nhân sĩ mình quen. Tôi không lệ thuộc vào các danh xưng mà người đời nay thường hay nghiêng ngả khi nhấn mạnh, là Ưu tú, Nhân dân…Vì nếu lệ thuộc vào điều đó, những người lao động trí não chân chính, cùng với tài năng trí tuệ rạng ngời, và sự dâng hiến một cách tự nguyện cho lợi ích cộng đồng, họ phải được gọi là gì?

Năm tháng trôi đi, tôi đã trở thành người gần gũi với Nhà giáo Phạm Toàn.

Thử thách

Quay lại câu chuyện liên quan đến dược sĩ Lương Tấn Thành và cuốn Kiều dịch sang tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đắm đuối mỗi khi nhớ đến cái giai thoại giữa ông Thành và tôi về cụm từ ‘gót sen’.

Tôi liên hệ tới tâm tư của một nhân vật mà tôi chỉ biết chứ không được quen, người được mệnh danh là sừng sỏ về tiếng Pháp, là người tốt nghiệp tiến sĩ ở Paris, từng giữ nhiều trọng trách trong Bộ Ngoại giao Việt Nam vào những thập niên cuối thế kỷ 20 vắt sang thế kỷ 21.

Trong một lần, khi ông ấy ngồi với các bạn thân của mình bên ấm trà, họ chia sẻ với nhau về những ảnh hưởng của tiếng Pháp, của văn hoá Pháp đã tác động thế nào đến tầng lớp trí thức Việt Nam sống trong thời kỳ Pháp thuộc, lớp người đã từng sản sinh ra không biết bao nhiêu các nhà khoa học, nhà chính trị làm nền tảng cho việc thành lập một Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á, và ông ta đã thốt lên một cách ngắn gọn khi nói về phạm trù này như sau:

“Khỏi phải bàn đến những công trình lớn nhỏ của những gương mặt nổi danh, cùng những tài năng và trình độ nhận thức siêu việt, cũng như tiếng Tây của các cụ, chỉ riêng ‘Truyện Kiều’ của Nguyễn Du mà cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp, nó trọn vẹn, nó tuyệt hảo đến thế nào, cũng đã đủ để cụ Vĩnh xứng đáng nhận giải Nobel văn học rồi…!”

Được nghe những lời bàn như thế, tôi càng cảm thấy bất công bởi, vì sao một khối lượng kiến thức đồ xộ và phong phú đa dạng như của Nguyễn Văn Vĩnh, đặc biệt khi được thể hiện trong cuốn Kiều dịch sang tiếng Pháp, nhưng với những người Việt Nam bình thường, họ lại không tiếp cận được những giá trị tinh hoa đó? Thực tế ai cũng hiểu, Truyện Kiều sinh ra đâu phải để phục vụ cho người Pháp?!

Tôi ngộ ra việc vì sao, từ thập niên đầu của thế kỷ 20 (1907-1908), Nguyễn Văn Vĩnh đã say mê đến lạ lùng khi nói đến Nguyễn Du, và ông đã nhìn thấy cái giá trị trường tồn của Kim Vân Kiều Truyện từ ngày đó?!

Nhân đây, cần phải khẳng định, nhờ trình độ chữ Nôm đạt đến mức đỉnh cao của Nguyễn Văn Vĩnh, cộng với khả năng cảm thụ được ở mức toàn diện một tác phẩm giàu cảm xúc, đa tính cách, bao hàm những sắc thái văn hoá đa dạng của một giống dân, đã trở thành động cơ thúc đẩy ông tìm cách phổ biến nó đến với dân chúng, bằng việc chuyển câu chuyện từ chữ Nôm sang Quốc ngữ, thứ chữ mà ngày đó nó còn đang ‘len lỏi’ tìm chỗ đứng trong số kiếp của một loại chữ viết.

Từ ngày ấy, Nguyễn Văn Vĩnh đã tin tưởng sắt đá, rằng chữ quốc ngữ là loại chữ dễ học nhất đối với một dân tộc nghèo về vật chất và đói về tinh thần. Ông dám chắc, Kim Vân Kiều Truyện khi đọc bằng quốc ngữ, sẽ lan toả được rộng khắp và lưu lại cho muôn đời, như một bài học kinh điển cho việc làm người.

Chúng ta hãy đọc những tâm sự cực kỳ mộc mạc của ông, được giãi bày trong lời tựa cuốn Kiều in bằng chữ Quốc ngữ do ông thực hiện, và xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1913, khi Việt Nam còn chưa có nền văn học chữ quốc ngữ, và xã hội chưa hề có khái niệm về nghề xuất bản:

“Cả nước Annam duy có truyện Kim-Vân-Kiều là truyện hay.

Văn-chương thế mới thực là Văn-chương!

Ngâm đi, ngâm lại, mà không bao giờ biết chán, ấy mới là cái thần-tình của văn.

Nguyễn Văn Vĩnh còn nói sâu hơn đến cái vô giá của lòng nhân ái hàm chứa trong câu chuyện được thể hiện qua con chữ, thứ mà ông tin nó sẽ là hấp lực giúp dân chúng trở nên quan tâm hơn đến thế nào là: Văn? Để rồi, họ sẽ sống nhân hậu hơn khi họ được tiếp thu, được đắm mình trong văn học:

Kể các chuyện Nôm của ta thì bao nhiêu là truyện, nhưng mà không có truyện nào, cốt tầm-thường như thế, mà nên những câu tuyệt-diệu, tả được những cảnh não-nùng, tính tình con người ta giãi bày ra một cách rất sâu sắc.

Nhưng mà, ai là người hiểu cho hết những cái sâu sắc ấy! Hiểu được tất phải đã:

Trải qua một cuộc bể dâu.

Phải đã biết.

Đau đớn lòng vì những điều trông thấy.

Mà hiểu được câu truyện, cái lòng thương nhân-loại nó lại càng lai láng ra bao nhiêu?

Ví trong nước Nam ta, mà bao nhiêu người ngâm truyện Kiều, hiểu được cả truyện Kiều, thì thực là một nước biết yêu, biết thương nhau, biết sống làm người một cách êm ái quá.

Ngặt vì mười người ngâm không được lấy một người hiểu. Sao vậy?

Nguyễn Văn Vĩnh khi mới hơn hai mươi tuổi đầu, đã băn khoăn với cái nền dân trí nước Nam do không có một loại chữ viết của riêng. Ông lập luận, chỉ khi nào, đồng bào của ông có được một loại chữ viết phổ thông, mới có cơ sở để hình thành nền tri thức, tạo nên dân trí, và mới hi vọng thay đổi được cuộc đời, mới giúp cho tất cả cùng biết, rằng làm người thì có quyền gì? Điều mà các bậc khai sáng gọi ngắn gọn là: Dân quyền!

Ông đã khích lệ, đánh thức những bản năng tiềm ẩn trong dân chúng, lôi kéo họ can dự vào cuộc cách mạng khai dân trí, vượt qua sự bó buộc của những điều được coi là ‘khuôn mẫu’ trong một xã hội tồn tại với truyền thống áp đặt nhờ cường bạo, và hỡi đồng bào: Đừng chấp nhận sống theo thể chế ‘Vua – Tôi’.

Nguyễn Văn Vĩnh muốn người dân sẽ có được những cảm xúc mới, nhờ được học và được đọc một thứ chữ viết như lời mẹ ru, và ông dẫn dắt nôm na trong lời tựa:

Trước hết là bởi cái lối làm văn Nước Nam như thế. Nhời là nhời nói với cả bao nhiêu người trong ngực có tấm lòng thổn thức, mà lại dùng những chữ-nghĩa ước với nhau (4) trong một bọn nho mà thôi; thì sao hiểu thấu hết được? Thế mà hay. Hay là vì cái người biết đau đớn, biết ngán việc đời, như ông Nguyễn-Du, dẫu phải theo khuôn theo lối, nhưng cất ngòi bút viết, mở miệng nói ra có tiếng não nùng, thấm thía vào lòng người ta. Cái khuôn ấy, cái lối ấy, chẳng qua là một cái rào chắn ngang đường, một cái khó của phong tục nó đố người tài, làm cho lộ thêm ra cái tài ra mà thôi.

Nguyễn Văn Vĩnh tin vào cái đích cao quý mà mình hướng dân chúng đến việc, coi Truyện Kiều là cái hương hoả tinh thần của người An Nam:

Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn-chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong truyện Kiều; để mà biết một cái thực giá một cái hương-hoả quí của người đời trước để lại cho; để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động.

Nay tựa,

Ng – v – V.”

Ảnh chụp trang 2 lời tựa do Nguyễn Văn Vĩnh viết khi in Kiều 1913

Xin thưa, cái nỗi lòng này của Nguyễn Văn Vĩnh khi suy tư về giá trị của Truyện Kiều, rồi dẫn ông đến việc ra sức truyền bá, coi đó là thông điệp văn hoá đối với dân chúng, là khi ông mới có 30 tuổi đầu. Vậy đến lúc ông 50 tuổi, khi đã thấm cái vị mặn của mồ hôi trong đời, của những điều ngang trái, thấm cái cay đắng của cuộc bể dâu, nhất là khi ông hiểu rõ hơn cái bản ngã của người Pháp trước cái duyên mệnh với người An Nam, ông có còn suy nghĩ như vậy nữa không?

Ngẫm lại, người đời nay hiếm có mấy ai nghĩ đến cái ngày xưa ấy, nghĩ đến cái động cơ nào, cái lý do gì để Nguyễn Văn Vĩnh tìm cách ‘giác ngộ’ cho người Pháp trong việc, nếu muốn sống lâu dài với người An Nam ở cái xứ Đông Dương này, thì họ phải hiểu cái tâm hồn của người mà họ đang muốn thu phục là ai?

Nguyễn Văn Vĩnh tôn sùng cái triết lý do chính người Pháp dạy ông: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Tôn chỉ trong quan hệ giữa ông với người Pháp là: Dù là kẻ đi chinh phục, hay là kẻ bị chinh phục, điều cần nhớ, rằng cả hai đều là thằng người, mà Tạo hoá sinh ra con người ai cũng có quyền bình đẳng như nhau.

Thật trớ trêu, khi Nguyễn Văn Vĩnh chân thành hi vọng: Hỡi những kẻ muốn thật lòng gắn bó với đối tượng mình muốn chinh phục, hãy nhớ rằng, kẻ nào cũng có tính cách và bản sắc riêng. Bản sắc là sản phẩm của tinh thần, của cái tinh hoa trí tuệ, nơi hội tụ những tư chất, tâm tính của một giống dân.

Nguyễn Văn Vĩnh tin, ở đời, để có sự hoà hợp, để có sự tồn tại lâu dài giữa các chủ thể, hãy học, hãy hiểu bản ngã, bản sắc và tình cảm của nhau, mà Truyện Kiều là một biểu tượng đậm tính cách An Nam nhìn ở góc độ đạo đức và tâm hồn, nhân tố quyết định cho sự hoà hợp… Hẳn, không bỗng dưng Nguyễn Văn Vĩnh đã cần mẫn, đắm đuối trong suốt 30 năm để chuyển ngữ Truyện Kiều từ chữ Nôm sang Quốc ngữ, rồi sang Pháp văn, những mong người Pháp hãy học lấy bài học này:

“Cần phải làm cho Truyện Thúy Kiều được biết đến trong dân chúng, bởi vì đối với chúng tôi nó là tượng đài văn chương duy nhất, là tác phẩm duy nhất phát lộ thiên tài của người An Nam, là bài thơ duy nhất mà mỗi câu đều thể hiện cảm xúc thành thực, sự thấu đáo tận cùng đời sống và sự hiểu biết sâu sắc những nhân tính Á Đông, một thứ văn hóa Viễn Đông đích thực” (Báo L’Annam Nouveau No 224 – 1933. Người dịch Phạm Xuân Nguyên).

Ghi chú:

  1. Loạt bài tranh luận giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), về vai trò Phan Bội Châu trên báo tiếng Pháp ‘L’Annam Nouveau’ tháng 3 năm 1932. Huỳnh Thúc Kháng là nhân sĩ yêu nước nổi tiếng, người bạn chí cốt của Phan Bội Châu, và từng là Bộ Trưởng Bộ Nội vụ nước VNDCCH 1946.
  2. Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (1926-2012) phát biểu trong bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di Hiện đại”, rằng năm 1907, khi các nhân sĩ yêu nước như Lê Đại, Đỗ Thận gửi đơn lần thứ hai tới Nhà Cầm quyền xin thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục, và mở nhà trường đầu tiên do Lương Văn Can làm Thục trưởng, nhưng vẫn không nhận được giấy phép, Nguyễn Văn Vĩnh đã đứng ra chịu trách nhiệm và khẳng định: “Chúng ta cứ mở trường, tôi sẽ xin được giấy phép, chúng ta cứ làm tiền trảm hậu tấu…”
  3. Nguyễn Thành, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam phát biểu trong buổi “Toạ đàm về Nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh” tổ chức tại Hà Nội ngày 20/6/2002, do Hội Khoa học Lịch sử thực hiện.
  4. Chữ Nôm (𡨸喃) ra đời từ thế kỷ thứ 10 trên cơ sở Hán tự (漢字). Các nhân sĩ người Việt có mục đích thành lập một loại chữ riêng, tách sự phụ thuộc vào chữ Hán, là loại chữ tượng hình (象形文字): “Tượng hình” có nghĩa là căn cứ trên hình tượng của sự vật mà hình thành chữ viết và trở thành những quy ước. 

Vì bản chất này của Chữ Hán Nôm (𡨸漢喃) nên Nguyễn Văn Vĩnh đề cập nôm na, đó là loại chữ-nghĩa ước với nhau. Ông muốn khẳng định, đây là một thực tế quá khó, và phải mất rất nhiều công sức để người học có thể hiểu thấu đáo những gì cần giãi bày khi viết chữ thành văn chương. (T/g bài viết)

Hết phần thứ hai

Phần 1

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network