Thưa các quý vị và các bạn!!
Cuối năm 2022, tôi nhận lời viết bài về cố Nhà giáo, dịch giả, nhà văn Phạm Toàn tức Châu Diên (1932-2019) nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.
Tôi đã suy ngẫm thận trọng vì thực chất, sự hiểu biết về Nhà giáo, dịch giả, nhà văn Phạm Toàn đối với tôi không nhiều. Tuy nhiên, những gì tôi biết về ông theo một góc nhìn riêng, và những gì liên quan giữa ông Phạm Toàn và tôi cũng là một nguyên nhân khác hẳn với nhiều người.
Tôi đã nhận ra những nét đặc thù trong lý tưởng làm giáo dục của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) và Nhà giáo Phạm Toàn có nhiều khía cạnh tương đồng, đặc biệt họ nhắm đến cùng một mục đích, mặc dù họ sinh ra trong hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau, môi sinh chính trị văn hoá khác nhau, và phạm vi hoạt động xã hội cũng hoàn toàn khác nhau.
Điều trùng hợp trong lý tưởng làm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Toàn, đã trùng với quan điểm của một vĩ nhân lịch sử, đứng giữa hai thời đại của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Toàn, đó là Nelson Rolihlahla Mandela (1918-2013), người đã từng xác định:
“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất để chúng ta thay đổi thế giới”.
Chắc chắn, theo tôi, trong ý thức lao động của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Toàn, hai người đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc cái triết lý này, vì cả hai con người đó đều đã có những phương pháp thực hiện và định hướng giống nhau khi tham gia vào công tác giáo dục. Đồng thời, khi ta soi vào quan điểm cốt lõi của Nelson Mandela, chúng ta đều nhận ra cội nguồn của những tư tưởng nhân bản và những giá trị cao quý của con người, nằm sâu trong ý thức của họ, đó là:
“Một người không biết chữ vẫn có thể là một cử tri ‘có giáo dục’ hơn một số người có bằng cấp cao”
Nhân ngày Quốc tế Pháp ngữ – La Francophonie 20/3, để các quý vị và các bạn có cơ hội hiểu hơn về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Toàn, hai con người đều là những tín đồ của ngôn ngữ Pháp (Nguyễn Văn Vĩnh đã can dự vào việc phổ biến Pháp ngữ từ khi người Pháp còn chưa nghĩ ra ngày lễ này), Tannamtu.com xin đăng bài viết “Học giả Nguyễn Văn Vĩnh người dắt tôi đến với Nhà giáo Phạm Toàn”.
Trân trọng!
NGUYỄN LÂN BÌNH
HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH NGƯỜI DẮT TÔI ĐẾN VỚI NHÀ GIÁO PHẠM TOÀN
(Xin được nói bằng lòng chân thành, rằng việc đặt đầu đề bài viết này, tôi mong người đọc sẽ hiểu theo đúng nghĩa đen, bởi lẽ tôi là một kẻ ngoại đạo!)
Cho đến đầu thế kỷ 21, khi đã qua tuổi 50, tôi mới nhận thấy sự dằn vặt bởi những bất thường đến mức vô lý, và vô lý đến mức bất bình khi nói về những gì đã qua đối với những người thân trong cái gia đình lớn của tôi, gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Đọc những ghi chép lịch sử, những người quan tâm đến Nguyễn Văn Vĩnh đều nhận ra: Tính cách, bản chất, lý tưởng của ông, là mẫu người điển hình không coi danh và lợi là mục đích sống! Sự thật này đã làm cho Phan Khôi (1887-1959), một nhân sĩ xuất chúng trong làng văn hoá Việt Nam ở thế kỷ 20, đã trân trọng Nguyễn Văn Vĩnh đến mức thần tượng (1).
Ngày tôi mới can dự vào việc viết bài về gia tộc mình, mỗi khi tôi lỡ viết: Học giả Nguyễn Văn Vĩnh… Trong lòng tôi không an tâm. Tôi e ngại, vì có thể, ở một cõi xa xăm nào đó, vong linh, hình ảnh con người chân thực, kẻ luôn chống lại lối sống háo danh, kẻ đã dám từ chối Kim khánh vua ban (1918), từ chối Bắc đẩu Bội tinh (1929-1930), từ chối cả ghế Thượng thư (Bộ Trưởng – 1932) của Triều đình Huế, mà hôm nay, nghe hậu sinh gọi danh là ‘học giả’, biết đâu, ở nơi suối vàng, ông cười khẩy mỉa mai, vì nó không phải là tham vọng và phong cách sống của ông, đặc biệt đó không phải là điều ông mong ước!
Kỷ niệm trang trọng
Năm 1986, khi tôi là phiên dịch cho cơ quan Đại sứ quán Bungari tại Hà Nội, trong một buổi tiếp ông Tuỳ viên Văn hoá Petar Drazkov tại cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam nằm trên phố Nguyễn Du, nhà thơ, dịch giả Nguyễn Xuân Sanh (1920-2020(2) là người thay mặt phía Việt Nam chủ trì buổi tiếp xúc, bàn về một dự án hợp tác và giao lưu văn hoá giữa hai nước.
Buổi làm việc diễn ra trong không khí cởi mở, cả hai bên đều tỏ ra thân thiện đến mức, có lúc còn nói chuyện tiếu lâm. Kết thúc buổi làm việc, khi tiễn chúng tôi ra cổng cơ quan, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã xin lỗi ông Bí thư Văn hoá Bungari, cho phép nhà thơ nói chuyện riêng với tôi… ba phút.
Ông Nguyễn Xuân Sanh tỏ ra cởi mở, nói nhanh với tôi:
“Anh học ở Bungari về lâu chưa…? Tôi từng làm việc với rất nhiều khách quốc tế, với rất nhiều phiên dịch khác nhau, nhưng tôi thấy cái lối nói, cách dịch của anh rất lôi cuốn, hay lắm, tôi rất ấn tượng….”
Tôi bẽn lẽn vì được khen, bởi thực chất, tôi cũng không khá tới mức như nhà thơ nghĩ. Tôi không biết nên phản hồi sao cho đúng mức, ngoài việc cảm ơn thiện tình của ông và nhanh chóng phúc đáp với giọng điệu hạ thấp, tuy có ẩn một chút thói kiêu hãnh, mà trước người tinh ý, họ sẽ nhận ra, tôi nói:
“Vậy ạ, cháu cảm ơn chú đã có lời khen, có lẽ vì cháu may mắn được hưởng gien (gene) của ông bà, dòng họ…”
Tôi đã không ngờ, điều mình nói ngỡ chỉ để cho qua chuyện, nhưng ngược lại, nó đã làm cho nhà thơ trở nên ‘nóng’, giọng ông tỏ ra thân tình, ông hỏi tiếp:
“Xin lỗi, tôi lại thấy hơi tò mò, anh nói vậy, tôi xin phép được hỏi thăm, thế các cụ nhà mình ở đâu…? Xin lỗi nhé…!”
Nhận thấy mình nên đi thẳng vào điều cần nói, tránh kéo dài việc chờ đợi của ông Bí thư đang ngồi trên ô tô, nên tôi nói rõ với nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh bằng thái độ vừa có ý khiêm nhường, nhưng cũng không giấu niềm tự hào: “Cháu gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là bác ruột đấy ạ!”
Ngày ấy, thậm chí đến cả hôm nay, ở rất nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu, đặc biệt trong môi trường văn hoá, khi tôi vô tình được ai đó hỏi thăm do có người giới thiệu, hoặc vì họ thấy thiện cảm khi tiếp xúc, đôi khi tò mò, rằng anh đến dự vì có liên quan gì đến nội dung hôm nay à? Anh công tác trong lĩnh vực gì…? Và để họ dễ hình dung ra nguyên nhân tôi có mặt trong những bối cảnh đó, tôi thường chỉ hé ra việc, mình gọi thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, tác giả bài thơ “Chùa Hương” là bác ruột, vì bố tôi là em ruột của nhà thơ, thay vì ‘khoe’ ngay ra ông nội mình là nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh.
Thật buồn, vì đã nhiều lần, trong số những người từng hỏi tôi, họ không biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Đôi khi sự thể trở nên khôi hài, trớ trêu cho cả đôi bên khi họ thú nhận: À thế à, tại sao tôi lại không biết Nguyễn Văn Vĩnh nhỉ..?! Điều này đã diễn ra nhiều lần, ở nhiều nơi và trong nhiều năm.
Tất nhiên, đối với những người hiểu biết, khi nghe nói đến Nguyễn Nhược Pháp, họ liên hệ ngay đến Nguyễn Văn Vĩnh, và như thế, để cảm nhận về nhau, nó sẽ ngắn gọn hơn, giúp tôi trở nên tế nhị hơn trong con mắt của thiên hạ, thay vì ‘khai’ thẳng ông nội Nguyễn Văn Vĩnh!
Sau phúc đáp của tôi với nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, ông đã không kìm chế được cảm xúc, ông tưng bừng ôm chầm lấy tôi và nói to:
“Ối Giời ơi, thản nào… Vậy là anh gọi cụ Nguyễn Văn Vĩnh là ông nội à? Tôi phải chúc mừng anh, chúc mừng gia tộc anh nhiệt liệt đấy, vì Nhà nước đã chính thức gọi cụ Vĩnh là học giả rồi đấy! Này, không đơn giản đâu, chúc mừng nhé! Thản nào anh nói tiếng Bun hay thế..!”
Dù ngồi trong xe ô tô, nhưng ông Bí thư Văn hoá P. Drazkov đã chứng kiến giây phút hơi lạ giữa tôi và nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, nên khi tôi bước vào xe, ông vừa cười vừa hỏi: “Bình ơi, có chuyện gì mà vui thế..?”. Câu hỏi của ông Bí thư, đã giúp tôi bớt áy náy, vì mình đã để cấp trên là một nhà ngoại giao phải chờ đợi, điều rất không nên sảy ra trong môi trường của chúng tôi.
Vậy là kể từ ngày đó, khi viết ‘Học giả Nguyễn Văn Vĩnh’, tôi đã không còn thấy bị cấn cá về tâm lý nữa, cho dù cái thông tin ấy tôi chỉ vu vơ tình cờ nắm được.
Nhân duyên
Một ngày đẹp trời, Tạo hoá đã giúp tôi hình thành quyết tâm: Đi tìm nguyên nhân của những điều cay đắng đối với gia tộc mình trong quá khứ, đối với Nguyễn Dực – con trai thứ bẩy, đối với Nguyễn Phổ – con trai thứ năm, và cả đối với Nguyễn Nhược Pháp – con trai thứ tư của Nguyễn Văn Vĩnh, người đã luôn được ca ngợi là một tài năng thiên bẩm về thi ca, song còn vô vàn những giá trị khác, mà vì sao “Họ” luôn né tránh việc đề cập…?!
Nỗi bất hạnh, những hệ luỵ từ việc bóp méo danh xưng Nguyễn Văn Vĩnh trong quá khứ, đã phủ bóng đen lên mọi thành viên trong gia tộc chúng tôi, tuy mức độ đậm nhạt khác nhau, kể cả với một số thành viên ở các chi họ của nội tộc Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi đã từng sống trong sợ sệt, nhìn nhau với con mắt ngờ vực, xa lánh kéo dài suốt gần thế kỷ, đến tận hôm nay vẫn còn những hệ luỵ dai dẳng, do có những kẻ lợi dụng cái vết thương ấy.
Năm 2006, nhờ sự bừng tỉnh trong ý thức, với hậu thuẫn của gia đình dòng họ, cùng những may mắn của số phận, rồi cả sự thiện tình bùng nổ đến ngạc nhiên của thế giới bè bạn, chỉ sau một năm, tôi đã hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử về con người và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”.
Nói về chuyên môn, học thuật và nghệ thuật điện ảnh, bộ phim chẳng có gì để bàn nhiều, vì bố cục đơn giản, tự nhiên như chính những gì đã sảy ra trong cuộc sống hàng ngày… Nhưng bộ phim đã trở thành lý do thu hút những ai từng quan tâm, những ai đã từng chạnh lòng khi nghĩ đến hình ảnh của một con người tài ba, chân chính, người đã hứng chịu không biết bao nhiêu điều thị phi vì là kẻ đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ ai cho nền văn hoá Việt Nam, cho nền văn học chữ Quốc ngữ ở thế kỷ 20(3), nhưng đã bị xuyên tạc, che đậy chỉ vì sự ích kỷ và đố kị về tư tưởng.
Bộ phim đã hấp dẫn nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, những người vốn có những ngờ vực với quá khứ, mà không chỉ sảy ra với người Việt Nam, và cả các nhà nghiên cứu nước ngoài vốn trân trọng sự thật lịch sử, khi biết Nguyễn Văn Vĩnh là thế nào?
Một người có danh vị, người chịu trách nhiệm biên tập về Nguyễn Văn Vĩnh ghi trong cuốn từ điển Việt Nam Văn học bộ mới in năm 2004, là giáo sư sử học Nguyễn Huệ Chi, đã băn khoăn về tính lan toả của bộ phim. Ông thiết tha mong cho chủ đề Nguyễn Văn Vĩnh đến được với giới nghiên cứu văn hoá đã đành, ông còn muốn bộ phim sẽ được phổ biến rộng rãi cho công chúng, đặc biệt là trong giới chuyên môn văn hoá, văn học sử Việt Nam.
Giáo sư Huệ Chi đã nói với tôi sau khi xem phim, rằng tại sao vào đầu phim, các anh (những người làm phim) lại ghi lưu ý người xem: “Bộ phim không nhằm mục đích quảng bá rộng rãi…??? Các anh thận trọng không cần thiết! Với những người làm chuyên môn, những người yêu quý lịch sử và văn hoá, họ phải có quyền được biết sự thật! Các anh sợ cái gì?”
Do ông chưa thống nhất được với Lãnh đạo Viện Văn nơi ông công tác, nên ngày đó, ông đề nghị tôi giúp cho các cán bộ, chuyên viên của Viện Văn học được đến xem bộ phim tại nhà riêng của tôi.
Nhớ lại hai buổi chiếu phim cho Viện Văn, tôi mãi vẫn thấy cảm động. Bởi buổi chiếu phim khách đến đông hơn dự kiến, gia đình tôi không đủ ghế ngồi, song điều đó đã không hề làm nản lòng những người quan tâm, họ đã chấn an tôi:“Không sao đâu anh ơi, chúng tôi ngồi dưới sàn nhà cũng được, được xem là tốt lắm rồi…!”
Bộ phim dài tới bốn tập, với thời lượng gần bốn tiếng đồng hồ, vậy mà khi kết thúc, họ không chỉ vỗ tay nồng nhiệt, mà còn kèm cả thái độ rất lạ (đối với tôi), khi thốt lên: “Ôi, hết rồi ư… Nói về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ có thế thôi à..?”

Sau cái sự kiện ấy, một hôm giáo sư Huệ Chi mời tôi đến nhà riêng, ông nói với tôi trịnh trọng thế này:
“Này cậu Bình, tôi muốn cậu mang bộ phim cùng tôi đến nhà ông Phạm Toàn, chúng ta cùng nhau xem lại, rồi bàn xem nên củng cố và điều chỉnh sao cho khoa học hơn, xúc tích hơn, mà nếu rút ngắn lại được về mặt thời lượng, sẽ thuận lợi hơn cho những người muốn tìm hiểu!”
Nghe ông Huệ Chi nói vậy, tôi đã ngầm ‘kết án’ ông, rằng vị giáo sư này thật quan liêu khi đề nghị tôi đưa bộ phim đến chiếu tại nhà riêng ông Phạm Toàn, để bàn về phương án ‘cải tạo’ bộ phim… Tôi thấy hơi mỉa mai, bởi lẽ tôi không hề có khái niệm, hay hiểu biết gì về người có tên là Phạm Toàn, ngoài việc nghe giáo sư Huệ Chi nhấn mạnh, rằng ông Toàn rất giỏi về văn học, ngôn ngữ, ông rất uy tín và thường có rất nhiều ý tưởng hay.
Tuy nhiên, tôi đã ngờ ngợ hiểu ra việc, vì sao giáo sư Huệ Chi muốn tham vấn ông Phạm Toàn về chủ đề này? Biết đâu, ông Phạm Toàn là đối tượng có tiềm năng để tạo ra một sản phẩm tốt hơn, quy mô hơn về cách nhìn nhận và đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh?!
Tôi đã làm theo yêu cầu của ông Huệ Chi, người mà tôi rất ấn tượng, đơn giản vì thấy ông ấy sống giản dị, người đọc rất nhiều sách, phong cách, tính tình chất phác, cởi mở. Tôi còn thấy thật hãnh diện, khi biết ông là con trai của giáo sư Nguyễn Đổng Chi (1815-1984), là tác giả của cuốn sách nổi tiếng in năm 1957 “Kho tàng chuyện cổ tích Việt Nam”, một dấu ấn sâu đậm trong tiềm thức và là vốn sống phổ thông về văn hoá cội nguồn của thế hệ chúng tôi.
Và rồi từ đây, tôi đã trở thành người quen biết với ông Phạm Toàn.

(Hàng ghế đầu từ phải sang trái: Giáo sư sử học Chương Thâu, giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, giáo sư sử học Nguyễn Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc)
Khám phá
Qua các buổi trò chuyện, tôi đã vỡ ra rằng, ông Phạm Toàn là nhà giáo, là người rất giỏi tiếng Pháp, là nhà dịch thuật có tiếng với bút danh Châu Diên…
Khi được tiếp xúc nhiều hơn, tôi nhận thấy tính cách ông hơi khác với nhiều người khi đối diện với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh ở chỗ: Ông không có thái độ tụng ca! Tôi còn tấm tức, là ông đã không cả khen ngợi tôi, khác với những người phóng khoáng từng bộc lộ sự khâm phục, vì thấy tôi dám dấn thân vào con đường đầy khó khăn trong việc đòi bạch hoá một đề tài cực kỳ ‘nhạy cảm’, đề tài từng bị hệ thống chính trị trong lịch sử Việt Nam bài xích và quay lưng…
Với cách nhìn của tôi, ông Phạm Toàn là kiểu người có quan điểm dứt khoát: Việc vinh danh Nguyễn Văn Vĩnh là lẽ đương nhiên, và không phải chuyện để bàn!
Ban đầu, tôi còn thấy lo lo và có cảm giác, hình như ông Phạm Toàn không thật tin mình, liệu có phải ông nghi ngại về trình độ của tôi, hay ông không thấy tôi có tố chất gì rõ ràng ngoài việc là hậu duệ. Thực tế này đã giới hạn ít nhiều mối quan hệ giữa tôi và Nhà giáo Phạm Toàn.
Tuy nhiên, thời gian trôi đi, tôi nhận thấy hay hay vì lối tư duy đó của Nhà giáo Phạm Toàn. Tôi nhận ra, ông là mẫu người: Hãy làm việc tận tâm vì những gì mình trân trọng, bằng tất cả sự say mê cùng khả năng và những gì mình có thể, đừng vì sùng bái, đừng vì phong trào và không nhất thiết phải nghe theo ai đó!
Ánh sáng của những người tài
Đến một ngày, một nhà khoa học thành danh là giáo sư, dược sĩ Lương Tấn Thành (1927-2011), người từng đỗ thủ khoa Khoa Dược, Đại học Y Dược Hà Nội 6/1954, Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Dược bệnh viện Bạch Mai năm 1965, đã mời tôi đến nhà chơi do biết tôi là cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Hôm đó, giáo sư Thành chúc sức khoẻ tôi bằng một chén rượu cô nhắc Pháp, rồi ông hào hứng, không mào đầu, không khách khí, ông nói ngay về tài năng, trình độ tiếng Pháp và tiếng Hán của cụ Vĩnh. Ông say sưa như trao đổi với một chuyên gia văn học, trong khi tôi thực sự chỉ là đứa ‘trẻ con’ khi nói tới lĩnh vực này.
Để chứng minh lòng ngưỡng mộ dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, giáo sư Lương Tấn Thành lấy trên giá sách cuốn Truyện Kiều dịch sang tiếng Pháp, xuất bản lần thứ nhất năm 1942 ở Hà Nội, ông bảo với tôi, rằng đây là vật quý của đời ông. Ông đưa tôi cầm tận tay, như để giúp tôi cảm nhận cái phần hồn của cuốn sách.
Khi tôi cảm ơn và trao lại, ông lật lật mấy trang, và ông bắt đầu diễn giải những đoạn văn phân tích của cụ Vĩnh trong phần chú giải ghi ở phía dưới mỗi trang Kiều. Tôi nhận thấy thái độ tâm đắc của ông như đang toả nhiệt, ông thích thú, ông bình luận về sự uyên thâm của người dịch, ông thân mật bảo tôi:
“Anh Bình nghe này, ở đây cụ Vĩnh giải thích đầy đủ các địa danh, ngữ nghĩa những từ ngữ mang âm Hán – Việt, rồi nguồn gốc của nó cùng với các điển tích, xuất xứ, khái niệm của người xưa về ngôn ngữ hình ảnh, hành vi được Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều”.
Ông Thành xuýt xoa về cách chú giải cụm từ ‘gót sen’ của cụ Vĩnh, liên quan đến sự mô tả tác phong nàng Kiều trong câu 377 và 378 với chất giọng đầy cảm xúc:
“Thi trân thức thức sẵn bầy.
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường…”
Giáo sư Lương Tấn Thành lẩm nhẩm tiếng Pháp, và khẳng định với tôi:
“Anh Bình nhớ này, cụ Vĩnh không phải chỉ giỏi tiếng Pháp đâu nhé, cụ còn rất giỏi cả chữ Hán và lịch sử nước Tàu, vì nếu chỉ giỏi tiếng Pháp thôi, cụ đã không hiểu được thấu đáo ngọn nguồn và cái điển tích của hai từ ‘gót sen’, gót sen ở đây không phải đơn giản là cái gót chân xinh đẹp của một người con gái mà người đời hay tán tụng đâu nhá…”
Ông Thành ngày càng tỏ ra say sưa hơn, hình như ông thấy cái thái độ tiếp thu của tôi như một tờ giấy thấm làm ông vui, rồi ông nhấp một ngụm cô nhắc và nói tiếp:
“Cụ Vĩnh viết thế này: Cụm từ này được bắt nguồn từ thời đại trị vì của nhà vua … thời Phong kiến Trung Hoa. Một vị vua đa tình và xa hoa, vì quá say mê người con gái mình sủng ái, bèn cho lát nền nhà bằng thứ gạch mà mỗi một viên dát một bông sen làm từ vàng thật, để khi nàng bước chân đi, mỗi bước chân đều sẽ dẫm lên những đoá sen vàng, và như thế mới sinh ra hình tượng ‘gót sen’… Đây này, tôi dịch lại đầy đủ để anh nghe nhé…”
Cứ như vậy, trong các cuộc giao lưu ở những giai đoạn khác nhau, cuộc đời đã cho tôi may mắn gặp được nhiều gương mặt như Nhà giáo, dược sĩ Lương Tấn Thành, những con người đã giúp cho đôi mắt của tôi mở to hơn, hiểu rõ và học được nhiều hơn, để rồi đi được xa hơn trong việc nhận thức: Vì sao người đời trước gọi Nguyễn Văn Vĩnh là vĩ đại (3), và người đời nay gọi ông là học giả?!
Rồi cũng cái năm 2008 ấy, sau khi bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” được trình chiếu cho cán bộ và sinh viên Khoa Việt Nam Học của trường Đại học Sư Phạm Hà Nội xem, Lãnh đạo Khoa đã rất hào hứng bàn đến việc cùng tôi xem xét khả năng nghiên cứu, tìm hiểu thêm về học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong văn hoá Việt Nam giai đoạn thời thuộc Pháp. Mặt khác, Khoa đã kết nối với một số nhân sĩ có tầm về văn hoá lịch sử, tìm kiếm khả năng để tái bản các sách dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, và viết sách về Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi giãi bày việc này với giáo sư Huệ Chi vì tôi nghĩ, mình là người không có chuyên môn, danh xưng cũng không, vốn hiểu biết thì bèo bọt, vậy để tìm được hướng đi, cách làm trong việc chứng minh Nguyễn Văn Vĩnh là ai, nhất thiết phải xuất bản sách, mà muốn làm việc này, phải nhờ cạy sự chỉ dẫn của những gương mặt gạo cội trong lĩnh vực nghiên cứu và xuất bản.
Buổi trao đổi về nội dung này được thực hiện ngay lập tức và diễn ra tại nhà riêng của tôi, trước bàn thờ của gia đình, đặc biệt, cùng các cán bộ của Khoa Việt Nam Học còn có Nhà giáo Phạm Toàn, Dịch giả Dương Tường và Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (1934-2014).
Tại buổi trao đổi, nhà giáo Phạm Toàn đã phác thảo ra một lộ trình cho việc nghiên cứu, đầu tư nhận thức, nhìn từ mọi góc độ sao cho logic về học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Ông nêu những gạch đầu dòng chính cần quan tâm khi sưu tập tư liệu, và cần phải khẩn trương.
Vâng, đi một ngày đàng học một sàng khôn, nhưng với tôi, buổi mạn đàm dù chỉ diễn ra trong một buổi sáng thôi, nhưng nó còn nhiều hơn ‘một sàng’. Thật thú vị, vì qua buổi gặp gỡ này, tôi đã có được cơ hội để tiếp cận và để hiểu, Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là ai? Cho dù tôi đã từng được đọc “Chuyện kể năm 2000”.
Gặp nhà văn Bùi Ngọc Tấn tôi cũng mới biết, ông đã từng có thời gian ở tù cùng trại giam với người bác ruột của tôi là Nguyễn Phổ (1917-1997), Nhà tình báo ngoại tuyến của QĐND VN, người bạn chí cốt với nhà văn Vũ Bằng (1913-1984) và Nhà tình báo danh thủ Trần Quốc Hương, tức Mười Hương (1924-2020).
Chứng kiến và lắng nghe nội dung buổi mạn đàm, tôi thấy ngập tràn niềm tin vào hướng đi trong tương lai, về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh.
Buổi đàm luận là một liều thuốc kích thích dành cho tâm lý và ý thức của tôi, tôi biết ơn ý tưởng của Khoa Việt Nam Học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cho dù phải mất 5 năm sau, năm 2013 tôi mới có cơ duyên thực hiện được bước đi thứ nhất, khi cho ra đời cuốn sách “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?”.

Nhờ sự gần gũi với Nhà giáo Phạm Toàn, tôi dần được biết trình độ tiếng Pháp của ông thông qua những tác phẩm ông đã dịch, cùng với danh tiếng ông để lại trong lĩnh vực giáo dục, điều đã được các thế hệ học sinh và các cơ quan truyền thông ở Việt Nam ca ngợi. Tôi còn may mắn được biết, vì sao ông có vẻ như giỏi tiếng Pháp hơn các bạn cùng trang lứa?
Rồi vẫn cái năm 2008 ấy, tôi tình cờ nhận được món quà quý từ một giáo sư người Mỹ dạy tại Khoa Đông phương học, Đại học Montreal – Cannada, ông Christopher Goscha, đó là toàn văn bài viết của Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố (1889-1947) bằng tiếng Pháp dài 30 trang, nhận xét và đánh giá về toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, được đăng trên tạp chí tiếng Pháp xuất bản ở Hà Nội năm 1936, có tên Bulletin de la Société D’enseignemet Mutuel du Tonkin (Tập san Hội Trí tri Bắc Kỳ).

Cầm bộ tài liệu in bằng tiếng Pháp, một lần nữa tôi lại lâm vào cảnh lúng túng khi cân nhắc việc, sẽ tìm ai để nhờ dịch sang tiếng Việt, nhất là khi nhớ đến lời chia sẻ của người tặng, rằng: Bài này hay lắm anh Bình ạ, người viết rất giỏi, viết rất công phu và rất khoa học…
Tôi đã đắn đo nhiều tháng tìm người để nhờ dịch. Tôi đã ướm ý đôi ba chỗ, và cuối cùng, tôi quyết định đề nghị ông Phạm Toàn.
Khi trao đổi qua điện thoại với ông, ông đã tỏ ra phân vân vì lý do: Tôi quá nhiều việc! Nhưng rồi ông cũng đồng ý, và còn lưu ý tôi: “Tôi không làm nhanh được đâu Bình ơi, vì bận lắm. Tôi nhận nhưng đừng giục tôi đấy! Cậu cứ chuyển cho tôi đi, khoảng dăm bữa, nửa tháng Bình gọi điện lại cho tôi nhé!”
Đương nhiên là tôi yên tâm khi thấy ông Phạm Toàn nhận giúp, nhưng kết quả ra sao và bao giờ sẽ xong thì tôi không biết.
Gần cả tháng trôi đi, tôi nóng ruột lắm, quyết định nhấc điện thoại. Từ đầu dây bên kia, không đợi tôi hỏi, ông Phạm Toàn chủ động nói luôn: “Bình ơi, chưa xong đâu, không phải tôi quên, mà vì khó quá Bình ạ. Tôi cũng đã từng dịch nhiều bài của cụ Tố rồi, nhưng sao bài này khó thế, khó lắm. Thôi, Bình phải để cho tôi thư thả, tôi sẽ cố gắng, nhưng mà khó quá Bình ạ, khó thật đấy..!”
Dù gì tôi cũng mừng. Đối với tôi, tất cả những gì liên quan đến con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh đều rất quan trọng, không phải chỉ vì cái ý nghĩa, hay vì cái giá trị văn hoá, hay nó hàm chứa những khía cạnh sâu xa về một con người kiệt xuất, mà quan trọng hơn, đó là những chứng cứ lịch sử chính trị bằng giấy trắng mực đen, những minh chứng khách quan, phản bác lại tất cả những luận điểm của những kẻ hồ đồ, với các luận điệu vu vơ nhưng có tính toán, làm nhiều cách để dập vùi sự nghiệp và thanh danh của con người này.
Tôi đã nhiều lần thất vọng khi nghe lối phát biểu chung chung từ không ít các nhân vật có danh tiếng, với học hàm học vị trong ngành lịch sử chính trị, văn hoá, văn học xã hội, khi đối diện với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, ở những bối cảnh mà họ miễn cưỡng phải có mặt, và ở vào những tình huống bắt buộc phải bộc lộ quan điểm một cách cụ thể, họ bao giờ cũng chỉ nói một cách vắn tắt, chung chung, đặc biệt, họ né tránh việc phải đưa ra những quan điểm có tính định hình tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi biết vì đâu?
- Điều thứ nhất: Vì một áp lực vô hình, họ không ‘dám’ nói, kể cả trong ý thức họ có những hiểu biết nhất định, cùng với sự nể phục.
- Điều thứ hai: Kiến thức về Nguyễn Văn Vĩnh của họ hạn hẹp, thậm chí có những khía cạnh họ không hề hiểu, và tuyệt nhiên không hề biết mảy may!
Tôi tin rằng, kể cả cái điều đã từng làm cho họ ‘sợ’ khi nói đến Nguyễn Văn Vĩnh, họ cũng không hiểu cái điều ấy là gì???
Ghi chú:
- Nguyễn Xuân Sanh từng giữ chức Phó Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam Khoá 1, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2001.
- Phan Khôi: “Nguyễn Văn Vĩnh trong con mắt tôi” tuần báo ‘Sông Hương’ số 1 ra ngày 1/8/1936 tại Huế.
- Lời điếu của nhà báo Phan Trần Chúc, người thay mặt báo giới Bắc kỳ đọc trong đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 tại Hà Nội.
Hết phần thứ nhất
