Cái đầu tiên thứ Năm – NGUYỄN VĂN VĨNH với NGUYỄN DU – Phần 2

Phần 1

TIÊN ĐIỀN ‘ĐÓN’ NGUYỄN VĂN VĨNH.

Chỉ một tuần lễ sau buổi gặp mặt tại Khu di tích Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Xuân Bách, Phó Giám đốc Khu di tích.

Trên điện thoại, anh Bách với chất giọng phấn khởi thông báo:

Anh Bình ơi, tôi đã báo cáo với Tỉnh, với các đồng chí của Sở Văn hoá Thông tin… Các anh trong bộ máy lãnh đạo đều tán thành và ủng hộ ý tưởng làm phong phú hơn việc nói rộng ra các hoạt động dịch thuật liên quan đến Truyện Kiều, và nhấn mạnh những đóng góp của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong một quá trình dài là người đã quảng bá và vinh danh Truyện Kiều. Như vậy, chúng tôi sẽ chủ động thực hiện. Khi nào gần xong, tôi sẽ thông tin, anh nên cố gắng vào để chúng ta cùng trao đổi. Nếu anh có tài liệu gì liên quan đến đề tài này, nhớ đem theo để chúng ta cùng bổ xung nhé!

Ông Nguyễn Xuân Bách (bên trái) và đạo diễn Trần Văn Thủy

Tôi thật sự hạnh phúc vì không nghĩ mọi việc lại diễn ra nhanh đến như vậy. Thực tế này đã tác động mạnh đến tình cảm của tôi. Một trung tâm văn hoá của một danh nhân nổi tiếng Thế giới, dành một gian trưng bày, giới thiệu những diễn biến về một khâu quan trọng trong quá trình quảng bá vai trò của tác giả và tác phẩm, đồng thời giới thiệu với hậu thế những đóng góp bền bỉ, của một người đã dành nhiều tâm huyết để chuyển tải, chứng minh những giá trị bất hủ của tác phẩm, của danh nhân đó, và người đó lại là ông nội mình… Hay quá, mừng quá! Tôi yên tâm chuẩn bị những gì có thể, sẵn sàng đợi thông tin tiếp theo để lại được vào Hà Tĩnh.

Tôi đã đợi, đã mong, đã chuẩn bị nhiều thứ cho chuyến đi đó, nhưng cuối cùng… mọi việc đã không diễn ra như tôi hi vọng, tôi đã thoáng buồn…

Năm 2005, lần đầu tiên tôi tổ chức thành công cho một số nhà hoạt động văn hoá gồm các nhà báo, nhà văn, nhà sử học, về thắp hương tại khu mộ của gia tộc tại xã Phượng Dực, Thường Tín Hà Đông cũ (nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội). Từ sự kiện này, tôi đã nảy ra ý định thực hiện xây dựng bộ phim tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp và gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Trong lộ trình thực hiện các cảnh quay cần có cho bộ phim theo tưởng tượng của tôi, tôi đã đặt kế hoạch đến khu di tích Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Cho đến thời điểm đó, tôi suy diễn đơn giản rằng, chắc chắn giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Du phải có một sự trùng hợp vô hình nào đó về tâm tư, tình cảm, điều mà người đời thường gọi là sự đồng cảm. Theo tôi, nhất định Nguyễn Văn Vĩnh phải say mê Nguyễn Du đến vô cùng, và phải thấm cái hồn văn chương của Nguyễn Du đến tận chân tơ kẽ tóc, để rồi liên tục trong ba chục năm liền, ông theo đuổi để làm cho Truyện Kiều được Việt hóa đến thành dòng máu chảy trong những con tim văn hóa của người Việt, và làm cho thế giới phải ngưỡng mộ, mở to mắt hơn khi nhìn vào văn hóa Việt Nam, vào bản sắc Việt Nam.

Từ 130 năm trước, Nguyễn Văn Vĩnh đã nhận thấy sự hạn chế đáng kể, nếu Truyện Kiều chỉ nằm trong khuôn khổ của bản chữ Nôm, một thứ chữ chẳng dễ gì để những người dân thường có thể học được và hiểu được thấu đáo. Ông đã lao tâm khổ tứ, miệt mài chuyển Truyện Kiều từ chữ Nôm ra Quốc Ngữ (1913). Rồi từ Quốc ngữ ra Pháp văn, và liên tục chỉnh sửa, hoàn thiện cho đến khi nó được thế giới văn học công nhận.

Nhà nghiên cứuHà Đình Nguyên đã giúp chúng ta nhìn rõ hơn, về giá trị của bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh qua bài viết “Những Kỷ lục khó vượt qua”, đăng trên báo Thanh Niên số 139 ngày 19.5.2005 như sau:

“Kim Vân Kiều – do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp, NXB Alexandre de Rhodes ấn hành các năm 1942 (tập I), 1943 (tập II); Đây là bản dịch được đầu tư công sức và thời gian nhiều nhất (gần 30 năm, từ 1908 đến 1936- với 3 lần dịch). Bảy năm sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, bản dịch cuối cùng của ông mới được xuất bản, được đánh giá là bản dịch văn xuôi tỷ mỷ và tinh tế nhất. Bởi giá trị như thế nên bản dịch này còn được tái bản 4 lần nữa (Vĩnh Bảo 1951, Khai trí 1970, NXB Văn học 1994 và NXB Văn nghệ TP.HCM 2002)”

Cuốn Truyện Kiều cắt ra từ báo tiếng Pháp

Khi bình luận về tài dịch thuật của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã ảnh hưởng ra sao đến công chúng, đặc biệt trong trường hợp Truyện Kiều, chúng tôi xin thông qua những ý kiến của rất nhiều nhà nghiên cứu. Ở bài viết có nhan đề: “Những ẩn ý hàm xúc mênh mông của ngôn ngữ Việt Nam đối với khả năng diễn đạt của chữ Anh, chữ Pháp và chữ Tàu” của tác giả Nguyễn Công Thiện đăng trên trang tin ‘Phật Việt’ ngày 23/9/2021 có đoạn:

“Trong bản dịch chữ Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh lại dịch câu thơ đầu của Truyện Kiều qua một bình diện khác có tính cách giải nghĩa công phu tường tận hơn và cũng bỏ dấu phẩy phân đoạn sau hai chữ “trăm năm” như Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim:“Cent année, dans cette limite de notre vie humaine…” mà chúng ta có thể dịch lại chữ Việt rằng:“Trăm năm, trong sự giới hạn này, kỳ hạn này hay niên hạn này của đời người chúng ta…”. Chữ “limite” của Nguyễn Văn Vĩnh đã được sử dụng khéo léo để dịch chữ “cõi” của Nguyễn Du, và đây là kết quả cuộc suy ngẫm dài lâu của tiên sinh về câu thơ đầu tiên của Truyện Kiều”.

Một thế kỷ trôi qua kể từ khi Nguyễn Văn Vĩnh dốc tâm vào việc phổ biến Truyện Kiều, nhưng thời gian đã không hề làm phai nhạt những gì ông để lại. Xin các quý vị độc giả hãy đọc một đoạn trong một bài viết dài của bà Nguyễn Thị Thu Trang (Tác giả cuốn sách Hồ Chí Minh ở Paris, in năm 1990 tại Pháp), đã nhận định một khía cạnh nhỏ khi nghiên cứu cách dịch Truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh như sau:

“Để giành lại quyền làm người, các nhà nho thời ấy không thể chơi chữ được với kẻ thù ngoan cố… Nguyễn Văn Vĩnh cũng biết vậy, nhưng ông vẫn không dừng bút khi có dịp nêu lên sự bất công của chính sách thực dân là che chở nhóm quan lại tay sai của Pháp, vì chính họ là những kẻ tham nhũng, bất tài…

Ông đã mượn hai câu thơ trong cảnh nàng Kiều đành phải bán mình để giải thoát cho cha, và khéo léo bình luận: Một ngày lạ thói sai nha. Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. “Ngày nay, dưới chế độ bảo hộ Pháp, báo chí của chúng tôi đều bị kiểm duyệt kỹ càng những bài dù hơi có ý chỉ trích quan trường. Nhưng tờ báo nào dám lên tiếng đả kích dữ dội các quan lại, thì tác giả những bài ấy bị tù đày đến chết. So sự kiện ấy với đoạn này trong Truyện Kiều thì quả thật là Nguyễn Du đã trở nên nhà thơ bất tử”.

Ông dụng ý cho là Nguyễn Du có tinh thần trọng công lý hơn tập đoàn thực dân. Trong câu văn Pháp rất rõ điều ấy (trang 212 chú thích số 267). Cách nhìn này đối với hiện tại vẫn có giá trị đối với xã hội kinh tế thị trường!”.

Cùng với việc chuyển ngữ Truyện Kiều ra Quốc ngữ và Pháp văn, để chứng minh sự say mê đến độ đắm đuối của Nguyễn Văn Vĩnh với đề tài này, lịch sử điện ảnh Việt Nam không thể phủ nhận, rằng năm 1924, bộ phim đầu tiên được ra đời trên đất nước An Nam, đó là bộ phim Kim Vân Kiều, kịch bản do Nguyễn Văn Vĩnh hợp tác với một người Pháp có tên là E. A. Famechon thực hiện, thông qua Indochine Films et Cinéma.

Cảm nhận sâu sắc giá trị bất hủ của Kim Vân Kiều Truyện, Nguyễn Văn Vĩnh đã nhìn thấy sức cuốn hút của tác phẩm đối với nhãn quan văn hoá của thế giới phương Tây, nhất là vào thời điểm đó, năng lực hiểu và sử dụng tiếng Pháp của ông đã đạt đến đỉnh cao, ông giãi bày với đồng bào của mình trên tờ báo Trung Bắc Tân Văn số ra ngày 9.6.1923, về lý do thôi thúc ông theo đuổi việc xây dựng bộ phim này như sau:  

“…Vì nếu chúng ta đóng nổi tích Kim Vân Kiều cho khéo theo cái phương pháp nhà nghề chớp bóng là một kỹ nghệ tối tân trong xã hội Âu Mỹ thì, trước nữa chúng ta tỏ được cho người Âu biết rằng không có điều gì mới cho sức hiểu của chúng ta.

Sau nữa, nếu chúng ta làm ra được phim hay, nổi tiếng cho hiệu Indochine film để cho khách cinéma trong thế giới thưởng thức một cuộc vui thi vị đặc biệt, ai nấy phải khen văn chương, khen tư tưởng Việt Nam, ấy có phải ta cũng làm được một việc quảng cáo chung cho nước ta với toàn cầu…”.

Chúng tôi càng thấm thía hơn khi tiến sỹ Nguyễn Phương Ngọc – Đại học Aix Provence Cộng hòa Pháp, đã phải khẳng định khi được phỏng vấn trong bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” rằng: “Người Pháp rất nể trọng ông vì ông Vĩnh không bao giờ có tính tự ti, rằng mình là dân của một nước nhược tiểu. Bao giờ ông cũng nghĩ mọi người đều bình đẳng”.

Niềm vui

Lý do thôi thúc tôi tìm lại mảnh đất Tiên Điền, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du vì: Làm sao khi nói về cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh, lại không nhắc đến ảnh hưởng của Truyện Kiều?!

Tôi hiểu một thực tế, vào kỷ nguyên Nguyễn Văn Vĩnh tồn tại, chế độ chính trị ở Việt Nam đã biến sự cách trở địa lý giữa các vùng miền trở nên xa xôi hơn. Sự khác biệt về lối sống, cách tư duy của dân chúng khác nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu, nhưng Nguyễn Du và Nguyễn Văn Vĩnh đã trở nên hoà nhập vì đâu? Sợi dây tinh thần vô hình nào đã liên kết giữa hai con người này để đến một ngày, nó đã dồn Nguyễn Văn Vĩnh vào chỗ ông phải hét lên: Không có nền văn hoá lớn hay nền văn hoá nhỏ, mà chỉ có sự định kiến về một dân tộc nhỏ mà thôi (Nguyễn Văn Tố trích dẫn năm 1936).

Có lẽ, không nhất thiết phải phân tích quá sâu về xã hội học, về học thuật… Cũng chẳng cần điều người ta hay thổi phồng các hiện tượng văn hoá gây ấn tượng, bằng các thuật ngữ cao siêu, mà đơn giản, theo tôi, sự gắn kết giữa Nguyễn Du và Nguyễn văn Vĩnh, chính là giá trị mặc nhiên của tinh thần văn hoá, của tính lan toả những giá trị có thật trong cuộc sống, bất chấp sự tàn phá có hệ thống của các thế lực ngoại bang, cõng theo các dòng tư tưởng giả danh vì sự nghiệp giải phóng con người…

Tháng 6 năm 2006, trong hành trình đi tìm những gì liên quan đến cuộc đời của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi, Nhóm làm phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, bằng những đồng tiền ít ỏi nhờ vay mượn, cầm cố tài sản… đã ‘lượn’ một cung đường có thể nói là ngoạn mục, bằng chiếc xe 12 chỗ ngồi thuê của một người bạn.

Chúng tôi đi từ Hà Nội, sang Sê Pôn (Lào), nơi Nguyễn Văn Vĩnh từ giã cõi đời, về Đà Nẵng nơi có Nhà thờ Phan Châu Trinh (Người đồng chí tin cậy của Nguyễn Văn Vĩnh), ra Huế nơi có phần mộ Phan Bội Châu (Người đàn anh máu lửa của Nguyễn Văn Vĩnh), và điểm dừng chân cuối cùng là Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, quê hương của Đại Thi hào Nguyễn Du (Người mê hoặc Nguyễn Văn Vĩnh).

Để thật chắc chắn, tôi điện thoại trước cho anh Nguyễn Xuân Bách, Phó Giám đốc của Bảo tàng, và xin phép trước sẽ phỏng vấn anh. Lúc này, chúng tôi đã trở thành những người quen biết rồi, nên không còn sự khách khí nữa.

Chúng tôi có mặt tại Nghi Xuân từ chiều ngày thứ Hai 19.6.2006, mục đích để sáng hôm sau sẽ rộng rãi thời gian hơn khi đến khu di tích ghi hình. 8 giờ sáng thứ Ba 20.6, nhóm làm phim chúng tôi đã có mặt tại Khu di tích, thực hiện các thủ tục hướng dẫn, từ mua vé tham quan đến việc làm quen với người hướng dẫn viên. Mọi nghi lễ đối với việc tưởng niệm Đại Thi hào Nguyễn Du của nhóm làm phim được thực hiện nghiêm trang theo tập quán và nghi thức cần có. Thật hạnh phúc vì các cảnh quay thật đẹp.

Góc trong gian trưng bày các ấn phẩm Kiều qua các thời đại.

Khi bước vào khu trưng bày, tiến đến ‘góc’ giới thiệu các bản Truyện Kiều mà hồi năm 2004, trong lần đầu đến thăm, tôi đã bị mặc cảm vì sự sơ sài, thì hôm nay, tôi ngây ngất… Tôi sung sướng tưng bừng khi chứng kiến cả một gian tủ kính có quy mô lớn gấp 3 lần so với hai năm trước, nay đã ‘nguy nga’ trước mắt tôi. Thật mãn nguyện, vì mặc dù lần trước, khi anh Bách trao đổi với tôi qua điện thoại, với sự lạc quan sau kết quả báo cáo với bộ máy lãnh đạo của Tỉnh, đã đồng ý mở rộng hạng mục trưng bày này… Nhưng tôi đã không tưởng tượng nổi hôm nay, gian trưng bày lại trang trọng đến vậy. Nói là trang trọng vì ngoài cái quy mô có phần đồ sộ hơn trước đây, thì số lượng các vật phẩm được trưng bày phong phú hơn rất nhiều.

Tôi ngắm nhìn say sưa các ấn phẩm Truyện Kiều phát hành qua các thời đại (cho dù có hiểu được là bao). Tôi thích, vì được tận mắt nhìn thấy ngày xưa qua các ấn bản, cái ngày xưa phảng phất qua màu của thời gian, hiện ra bằng những sắc màu không xác định, nôm na chúng ta thường gọi là cũ, rất cũ!

Có bản đã vàng úa, là chữ Nôm hay chữ Hán, tôi cũng chẳng có khái niệm gì. Nhưng riêng các bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, có đến 5 bản in các năm ấn hành khác nhau. Tôi tò mò nhìn ‘cuốn’ mà lần gặp trước, anh Bách đã từng giới thiệu với tôi, rằng nó được cắt từ báo và đóng lại thành như cuốn sách.

Tôi hạnh phúc quá. Hạnh phúc vì chỉ qua một vài vật phẩm được trưng bày, tôi đã hiểu hơn tấm lòng của các bậc tiền nhân của chúng ta đối với văn hoá sâu đậm đến thế nào. Tôi hiểu hơn Nguyễn Du vĩ đại đến đâu? Và Nguyễn Văn Vĩnh hẳn đã không tự dưng mà dốc lòng miệt mài, chuyển tải những giá trị bất hủ của tác phẩm đến các đối tượng khác nhau trong xã hội, bằng những phương thức khác nhau qua năm tháng trường kỳ…

Thật sinh động và đáng trân trọng hơn nữa, là cô hướng dẫn của Bảo tàng Nguyễn Du (Nguyễn Thị Vân Huyền) đã trình bày sôi nổi và nhiệt tâm về những giá trị mà các bản dịch do Nguyễn Văn Vĩnh từng thực hiện. Cô hướng dẫn viên còn chứng minh những kết quả lao động bền bỉ của Nguyễn Văn Vĩnh, đã giúp cho Truyện Kiều lan toả ra sao, trong việc làm giàu vốn kiến thức văn hoá của người dân qua nhiều thế hệ.

Cô Nguyễn Thị Vân Huyền, hướng dẫn viên bảo tàng Nguyễn Du

Tôi đề nghị được tận tay cầm cuốn Kiều được cắt ra từ báo in tiếng Pháp. Anh Nguyễn Xuân Bách cho biết: Không thể lấy từ tủ trưng bày được! Tuy nhiên, anh bảo, tôi sẽ ưu tiên cho anh xem một bản khác, cũng tương tự như vậy, và của một người khác đã gửi tặng Bảo tàng. Vậy tôi còn muốn gì hơn nữa chứ?!

Chúng tôi mải miết ghi hinh, tôi say xưa nói lên những cảm xúc của mình, với cái vốn hiểu biết ít ỏi về Nguyễn Văn Vĩnh và Truyện Kiều.

Thật là mãn nguyện, thật là may mắn và biết ơn số phận, đã giúp chúng tôi có được những tình tiết sinh động, khi chứng minh cái nhân duyên giữa Nguyễn Du và Nguyễn Văn Vĩnh. Âu cũng là sự dẫn dắt và chỉ đường của các vong hồn linh thiêng…

Nỗi buồn

Thế rồi… Năm 2009, tôi sống với những ấn tượng đẹp đẽ về sự trân trọng vai trò của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh của Khu di tích Nguyễn Du, tôi hăm hở tổ chức đưa một nhóm bạn bè vào thăm quan Tiên Điền bằng những lời giới thiệu hùng hồn.

Ngày ấy, tôi đã nghe nói, có khá nhiều nhân vật có danh trong xã hội, ở các vùng miền khác nhau, trước khi con, cháu họ đi dự những kỳ thi quan trọng, họ đều thu xếp đưa con em mình vào Tiên Điền thắp hương Danh nhân văn hóa Thế giới, Đại Thi Hào Nguyễn Du. Tôi cũng muốn làm như thế cho một số người thân của mình.

Nhưng lần này, mọi sự đã không còn như tôi vẫn đắc ý. Tôi đã đi chậm lại, khi dẫn mọi người đến góc trưng bày những bản Truyện Kiều. Hôm đó, cái niềm vui của tôi đã bị thu nhỏ lại, giống như lần đầu tôi đến vào năm 2004. Thậm chí, tôi nhận ra, số lượng các ấn phẩm trưng bày còn ít hơn cả lần đầu tiên tôi tiếp cận. Tôi tẽn tò… nói nhỏ hơn cần thiết, và lảng sang đề tài khác. Các bạn tôi cũng chẳng thắc mắc gì, vì họ không bị nặng lòng như tôi trước sự thay đổi của đề mục này.

Tôi hỏi thăm nhân viên Bảo tàng về anh Nguyễn Xuân Bách, họ nói anh đi họp… Tôi hỏi đến cô Nguyễn Thị Vân Huyền, cũng được trả lời theo những lý do mà tôi không kiểm chứng được. Tôi nghĩ rất nhiều về sự việc này.

Không lẽ, sự thay đổi có tính giản ước, liên quan đến học giả Nguyễn Văn Vĩnh ở Khu Di tích Nguyễn Du, là điều gì đó không phù hợp với lịch sử? Còn riêng với cá nhân tôi, tôi hiểu rõ vì sao?  

Năm nay đã là 2015 rồi, liệu tôi sẽ lại có cơ hội vào Tiên Điền? Biết đâu (Lạy Trời) lại được chứng kiến sự thay đổi ấn tượng như hồi năm 2006…?!

Hết phần Hai.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network