Cái đầu tiên thứ Năm – NGUYỄN VĂN VĨNH với NGUYỄN DU – Phần 1

HÀ TĨNH VỚI NGUYỄN VĂN VĨNH            

Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, với những chuyến đi qua khu vực phía Nam sông Bến Thuỷ (Sông Lam – Nghệ An) trên trục đường quốc lộ số 1, tôi đã được nghe nói, rằng đây là quê hương của Đại Thi hào Nguyễn Du. Tôi tự hỏi, vậy vì sao quê hương của một người nổi tiếng trong lịch sử văn hoá Việt Nam như Nguyễn Du, mà trên trục đường chính của đất nước, không hề thấy một chỉ dẫn nào?!

Mãi đến năm 2004, trong một chuyến đi trở lại miền Trung, tôi được mách bảo, rằng ở Tiên Điền thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh có đền thờ Nguyễn du. Sau khi tôi đã chắc chắn, tôi quyết tâm tìm đến với hi vọng sẽ được chiêm ngưỡng điều gì đó liên quan đến Đại Thi hào. Đoạn đường từ quốc lộ 1 vào đến Khu Di tích Nguyễn Du chưa đến 10 km. Đặt chân đến nơi, được tận mắt quan sát, tôi thực lòng thấy mãn nguyện, vì nó đúng với sự tưởng tượng của tôi từ trước. Khuôn viên của di tích có phong cách na ná như Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội.

Cổng vào khu Di tích Nguyễn Du – Tiên Điền – Nghi Xuân – Hà Tĩnh

Chúng tôi mua vé, có hướng dẫn viên dẫn dắt. Chỉ khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ, chúng tôi đã hoàn thành việc tham quan tổng thể. Chúng tôi dành khoảng thời gian còn lại để vào nhà bảo tàng.

Tôi sửng sốt nhìn thấy ngay phía bên phải của gian chính của Bảo tàng, có góc trưng bày giới thiệu các bản Kiều đã được xuất bản trong quá khứ, cùng với một vài bản Kiều dịch ra các ngoại ngữ khác nhau. Tôi cảm thấy áy náy, vì phần giới thiệu ở đây hơi đơn giản, nếu không định nói là nghèo nàn so với những gì tôi biết. Tôi phân vân và cảm giác như có điều gì đó hơi có tính lấy lệ, thiếu chiều sâu khi nói về một danh nhân…

Việc HỘI ĐỒNG HOÀ BÌNH THẾ GIỚI công nhận Nguyễn Du là Danh nhân Văn hoá Thế giới, hẳn họ phải dựa vào tác phẩm Kim Vân Kiều. Để nắm được toàn bộ nội dung tác phẩm, chắc chắn họ phải thông qua các bản dịch bằng một thứ ngoại ngữ nào đó chứ? Vậy những bản dịch đó là của những ai? Bằng những loại ngôn ngữ nào? Và diễn ra trong giai đoạn nào của lịch sử…?

Tôi phát hiện thấy tấm biển ghi: ‘Ban Giám đốc’.

Văn phòng của Ban Giám đốc khu di tích nằm phía sau của khu nhà trưng bày của bảo tàng. Tôi quyết định vào, tìm và xin gặp ai đó trong bộ máy quản lý với mục đích, nếu gặp được người có thái độ cởi mở… tôi sẽ xin trao đổi những suy nghĩ của mình về nội dung mà tôi băn khoăn. Nếu không đạt được ý định đó, tôi sẽ coi như một màn chào hỏi xã giao. Tôi tin những gì mình có thể sẽ nói, sẽ là điều thú vị cho cả đôi bên.

Tôi gặp một cô nhân viên của Bảo tàng đang đí tới. Với thái độ ân cần, cô chỉ cho tôi gặp một người đàn ông vừa từ phòng làm việc đang bước ra. Anh bắt tay tôi và tự giới thiệu là Phó Giám đốc của Bảo tàng, tên anh là Nguyễn Xuân Bách. Anh niềm nở mời tôi vào phòng khách.

Trong lúc anh pha trà, không đợi những lời xã giao, tôi hỏi anh luôn, việc vì sao suốt bao nhiêu năm, tôi từng đi qua khu vực đường quốc lộ đoạn Nam Bến Thuỷ, nhưng không thấy có chỉ dẫn cho người đi đường biết, rằng đây là quê hương của Đại Thi hào Nguyễn Du?

Tôi chủ động giãi bày tiếp: Thi hào Nguyễn Du được Hội đồng Hoà bình Thế giới công nhận là Danh nhân Văn hoá Thế giới từ giữa những năm 60, vậy nhưng mãi gần đây mới thấy có tấm biển nhỏ cắm ngoài đường quốc lộ số 1 với nội dung: Hướng đi khu di tích Nguyễn Du.

Anh Bách mời tôi uống trà và trả lời một cách dè dặt, rằng chuyện này “tế nhị” lắm… Nhờ có tính nhạy cảm, tôi cảm nhận được ngay, vì sao anh lại dùng từ ‘tế nhị’ trong trường hợp này.

Thật hay vì anh Bách bắt đầu nói chuyện với tôi như tâm sự, về giai đoạn từ khi có quyết định của Quốc tế công nhận Nguyễn Du là Danh nhân Văn hoá Thế giới, phải rất lâu sau, những gì liên quan đến sự nghiệp và cuộc đời cũng như gia tộc của Đại thi hào Nguyễn Du mới được các cơ quan có trách nhiệm để tâm, chăm sóc và đầu tư tôn tạo.

Nhận thấy giọng nói và thái độ có phần thân thiện của anh Bách, tôi mạnh dạn hướng thẳng câu chuyện vào điều mình quan tâm sau khi cho rằng, anh Nguyễn Xuân Bách là kiểu người chân thành, cởi mở, là người có chuyên môn, chứ không chỉ là một cán bộ quản lý hành chính đơn thuần.

Tôi đặt câu hỏi với anh Bách:

  • Theo anh, làm sao để Thế giới biết đến Nguyễn Du? Biết đến Truyện Kiều? Vậy những ai đã là người đưa Nguyễn Du ‘xuất cảnh’ ra nước ngoài?

Anh Bách ngạc nhiên, anh chưa phát hiện ra ẩn ý của tôi… Anh hỏi lại tôi một cách rất tự nhiên:

  • Ơ… ! Nguyễn Du đi Tây bao giờ…?

Với thái độ tếu táo, tôi vừa cười vừa nói:

  • Vậy cụ Nguyễn Du không đến Châu Âu, làm sao Thế giới biết cụ và các tác phẩm của cụ để nghiên cứu, để đánh giá rồi để bình chọn?

Đến lúc này, anh Bách đã hiểu ra sự đùa cợt của tôi, anh nói:

  • Tất nhiên là phải nhờ các bản dịch Truyện Kiều ra ngoại ngữ, mà đặc biệt, đầu tiên phải là tiếng Pháp.

Thấy câu chuyện đã có chiều ăn nhập, tôi đi xa hơn:

  • Vậy theo anh, bản dịch Truyện Kiều của ai trước đây ra tiếng Pháp là thành công nhất, được phổ biến nhất?

Anh Bách trả lời:

  • Ông Nguyễn Khắc Viện (1913-1967)!

Tôi biết anh Bách đã nhớ nhầm, tôi lại hỏi:

  • Tôi xin được chứng minh với anh, rằng ông Nguyễn Khắc Viện đã khiêm tốn xác nhận sau khi dịch lại Truyện Kiều rằng…

Anh Bách cướp lời tôi:

  • À không, không… Thế thì phải là Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)! 

Tôi tỏ thái đọ chưa đồng tình với ý kiến của anh Bách… Và chính anh Bách cũng tự thấy rằng, có điều gì đó chưa ổn. Vẻ mặt anh đăm chiêu, và anh vẫn cố gắng đưa ra một vài giả thuyết khác. Hinh như anh cũng thấy nghi ngờ chính trí nhớ của bản thân trong trường hợp này. Anh nói tiếp:

  • Đúng… có một người nữa, dịch tiếng Pháp nổi tiếng lắm… Ai nhỉ…?!

Tôi thấy không nên kéo dài việc ‘thử tài’ nhau nữa, như thế sẽ là quá đáng và thiếu lịch sự, tôi nói:

  • Anh có nhớ ai đã dịch tiểu thuyết “Những người khốn khổ” không? Người mà lúc đầu dịch là “Những kẻ khốn nạn” ấy?

Anh Bách hét to:

  • Ôi, đúng, đúng…Nguyễn Văn Vĩnh, đúng không? Ừ đúng rồi, phải là Nguyễn Văn Vĩnh!

Hai người chúng tôi đã thực sự tỏ ra tâm đầu ý hợp. Không khí đã trở nên thân mật và nồng nhiệt, tôi hạnh phúc lắm.

Sảnh chính của bảo tàng Nguyễn Du

Anh Bách tâm sự thêm:

Tôi đã được tiếp chuyện cụ Nguyễn Khắc Viện khi được nhận công tác ở Bảo tàng này. Tôi đi bộ đội về, ôn thi đại học, đỗ vào Tổng hợp Văn. Khi ra trường, vì là thương binh (Anh Bách bị mất một tay), mặc dù quê tôi bên Nghệ An, nhưng vì có khu di tích này, nên tôi được phân công về đây.

Do làm việc trong lĩnh vực này, nên tôi cũng phải tầm sư học đạo, trau dồi kiến thức, đặc biệt những gì liên quan đến Nguyễn Du, vậy nên tôi mới có dịp được tiếp xúc với cụ Nguyễn khắc Viện trong một lần ra Hà Nội.

Ôi thôi chết, Tôi nhớ rồi, khi nói về Truyện Kiều dịch, cụ Viện còn bảo tôi: “Mình dịch Kiều nhưng cũng phải tham khảo bản dịch của cụ Vĩnh. Cụ Vĩnh giỏi lắm!”. Ông Viện còn cho tôi xem và đọc một cuốn sách của cụ Hoàng Xuân Hãn, viết theo dạng hồi ký. Trong cuốn sách đó, cụ Hãn có viết: “Cuốn Truyện Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, với tôi, đó là cuốn sách gối đầu giường!”. Tôi thấy cụ Hãn còn phải viết như vậy kia mà. Đúng rồi, dịch Kiều ra tiếng Pháp, phải là cụ Vĩnh.

Anh Bách càng trở nên hào hứng, với giọng nói thân mật, anh tiếp tục:

Tôi nhớ, tôi nhớ… Tôi sẽ cho anh xem một cuốn Kiều của một người cao tuổi từ ngoài Bắc, đã lặn lội vào tận đây để tặng cho bảo tàng. Chuyện cảm động lắm anh ạ! Người đó nhiều tuổi rồi, ông ấy nói: “Cả tuổi trẻ của tôi, tôi đã tìm kiếm, giữ gìn và nâng niu nó. Cũng không ít tiền đâu anh ạ. Lúc trẻ, có được mấy hào bạc, toàn để dành mua báo, đặc biệt là các số báo in tiếng Pháp có bản dịch Truyện Kiều của cụ Vĩnh.

Giờ tôi đã già, nếu có ra đi khỏi cõi đời này, không biết trao lại cho ai? Thôi bây giờ có Bảo tàng, tôi xin biếu lại để mọi người cùng biết. Tôi sẽ tặng hết những gì liên quan đến Truyện Kiều nhá, mà chết cũng có mang theo được đâu, mà có mang theo cũng có đọc được nữa đâu…?”.

Anh ơi, đó không phải là cuốn sách anh ạ, nhưng được đóng lại thành sách, vì người đó đã cắt từ báo ra. Tôi nhớ là người đó còn kể rằng, đã phải mua tất cả các số báo có in bản dịch Truyện Kiều của cụ Vĩnh, không thiếu số nào. Ôi, lần sau anh vào đây, tôi sẽ mang ra cho anh xem, nhiều thể loại lắm. À mà sao anh quan tâm sâu đến chuyện này thế nhỉ?

Đến lượt tôi, thấy mình cần phải bộc bạch cho rõ với anh, từng ấy thời gian đã đủ để tin hay chưa tin, để quý hay không quý, tôi nói ngắn gọn:

– Thưa anh, tôi là cháu nội của cụ Vĩnh!

………………

À, ra là vậy đấy!

Giọng anh Bách thảng thốt như vừa bắt được một vật lạ. Anh sôi nổi hẳn lên, cười to và náo nức chia sẻ:

– Thế thì tiếc thật, hôm nay anh Giám đốc của chúng tôi đi họp vắng, có lẽ tôi sẽ phải báo cáo ngay với cấp trên, chuyện này là của Sở Văn hoá Tỉnh. Nếu được, sau này chúng ta cùng hợp tác nhé!

Chúng ta nên xây dựng một góc riêng chuyên đề về dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh với Truyện Kiều. Nói gì đi chăng nữa, việc cụ Vĩnh dịch thành công trọn bộ Truyện Kiều ra tiếng Pháp, theo tôi có những ý nghĩa rất lớn, mà hình như cụ Vĩnh dịch mấy lần cơ đấy, mất nhiều năm lắm. Tôi nghĩ:

Thứ nhất: Cụ Vĩnh phải yêu quý cụ Nguyễn Du lắm, phải hiểu cụ Nguyễn Du lắm, phải thấm cái hồn của cụ Nguyễn Du lắm…!

Thứ nhì: Cụ Vĩnh phải rất giỏi cả Hán văn và chữ Nôm, tất nhiên là cả Pháp văn nữa, cụ mới thấm đến chân tơ kẽ tóc của những ngôn từ, câu chữ trong truyện để mà chuyển tải chứ. Dịch đâu phải là viết một từ, từ tiếng nước này sang một từ có nghĩa như thế bằng tiếng nước khác. Ừ… Sao cụ Vĩnh giỏi thế nhỉ?!

Anh Bách nói như để kết luận:

– Mình mà xây dựng được một hạng mục như vậy về cụ Vĩnh ở đây cũng là hợp lẽ, vì cụ Vĩnh như là người nối dài giá trị của cụ Nguyễn Du vậy. Nếu có kết quả, tôi sẽ mời anh quay vào đây nhé, anh có lại vào được không?

Tôi nghe anh Bách tâm tình mà lòng dạ cứ như được tưới chất kích thích. Tôi mạnh dạn đề nghị, Bảo tàng nên bổ xung và chi tiết hơn trong góc giới thiệu về quá trình dịch Truyện Kiều của các bậc tiền nhân, bởi không phải chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh đâu.

Việc nhiều người giỏi nhắm vào dịch Truyện Kiều trong quá khứ, thể hiện cái tính tuyệt tác của một tác phẩm văn học, thể hiện cái hồn của một dân tộc, bất chấp gốc gác câu chuyện có xuất xứ ra sao.

Tác phẩm có nội dung hay đã đành, nhưng về mặt câu chữ, ngữ nghĩa, văn phong nó thể hiện những sắc thái của dân tộc này, vì vậy, càng đòi người dịch phải thật giỏi, không chỉ giỏi văn, giỏi ngôn ngữ khác nhau, mà phải giỏi cả việc nhận thức xã hội, lịch sử giai đoạn mà tác phẩm ra đời. Nhờ cái giỏi của người dịch, nó mới làm lay động được tâm hồn của những người đọc ở các quốc gia khác, giúp họ hiểu cái ẩn chứa bên trong của nền văn hóa của một dân tộc, nơi đã sinh ra những tác giả xuất chúng như Nguyễn Du. Một tác phẩm hay, mang linh hồn của tác giả, linh hồn nó là cái lõi, cái tinh tuý tạo nên tính nhân văn của con người, rồi nó được người ta gọi là tính nhân bản. Nhờ đó, con người sống có đức tin, và là đức tin của đạo thánh hiền. Sống với đạo thánh hiền, con người bớt hung hăng hơn, bớt xung khắc hơn. Có được điều này, dân tộc đó mới có lòng liêm sỉ, lòng hãnh diện và tự hào chính đáng, mới có được khả năng để xây dựng một đất nước tiến bộ và phát triển. Điều này nhiều người sẽ đồng ý!

Nhóm làm phim đặt lễ và thắp hương tại bàn thờ Nguyễn Du

Câu chuyện giữa hai chúng tôi ngày càng tỏ ra thân mật, nhưng rồi cũng đến lúc phải xin phép chia tay với anh Bách, vì những người cùng đi đều đã lên xe cả rồi. Chặng đường về Hà Nội còn xa lắm… Tôi từ biệt anh Nguyễn Xuân Bách, và hẹn nhất định sẽ gặp lại vào một ngày không xa.

Thật là bõ công cho một chuyến hành hương! Tôi nói như vậy với các bạn cùng đi đã ngồi sẵn trên xe. Xe chuyển bánh mà lòng dạ tôi cũng chuyển động theo…

Hết phần Một.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network