THAM LUẬN của TIẾN SỸ VĂN HỌC TRẦN THỊ HẢI YẾN – Phần 3

Phần 1

Phần 2

Phần ba của tham luận.

4.2. Cũng trong năm 1924, liên quan đến Kiều, không thể bỏ quên sự kiện công chiếu bộ phim Kim Vân Kiều do hãng phim Indochine Films et Cinéma thực hiện. Đây cũng là phim điện ảnh đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam.

Đã có những giới thiệu và nghiên cứu bước đầu về sự kiện này[1], ở đây chúng tôi chỉ phân tích thêm một vài chi tiết. Trước khi phim công chiếu một năm, Nguyễn Văn Vĩnh đã có bài “Chớp bóng Kim Vân Kiều” quảng cáo cho công việc này. Ngoài việc quảng cáo cho việc tiếp nhận một loại hình nghệ thuật tân tiến của phương Tây, bài báo còn tiết lộ vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trong quá trình thực hiện bộ phim: là người đưa ý tưởng, người cung cấp kịch bản “Tập văn dịch ấy mới đây tôi có góp nhặt lại, dán thành một tập thảo, đưa cho mấy bậc quí quan coi [28, 09/6/1923] (sau này phim được định rõ: kịch bản của Thierry dựa theo bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh), và tất nhiên cũng kiêm việc quảng cáo phim [28].

Chi tiết “tập văn dịch” trong bài báo hẳn nhiên nhắc đến bản “tân diễn Pháp văn” của Nguyễn Văn Vĩnh đã công bố trọn vẹn trên Đông Dương tạp chí. Và vì đây là bộ phim câm, với phụ đề tiếng Pháp, tức là phim dành cho công chúng tiếng Pháp, nên bản dịch Pháp văn của Nguyễn Văn Vĩnh phải có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ khán giả xem phim nắm bắt được câu chuyện đang được kể bằng hình ảnh, sau khi bản dịch đã làm tốt nhiệm vụ thuyết phục các nhà làm phim Pháp chọn Kiều để dựng phim.

Như vậy là sau bước phổ cập Kiều đến độc giả quốc ngữ độc giả tiếng Pháp bằng báo chí, Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm thêm cho Kiều một hình thức nghệ thuật nữa để quảng bá, là điện ảnh, với mục đích giải trí (cũng tức là gia tăng sự phổ cập) và đưa văn chương, đưa nước Nam ra toàn cầu: “Sau nữa, nếu chúng ta làm ra được phim hay, nổi tiếng cho hiệu Indochine film để cho khách cinéma trong thế giới thưởng thức một cuộc vui thi vị đặc biệt, ai nấy phải khen văn chương, khen tư tưởng Việt Nam, ấy có phải ta cũng làm được một việc quảng cáo chung cho nước ta với toàn cầu” [28, 09/6/1923].

Phản hồi về bộ phim sau công chiếu, bao gồm cả việc dựng phim theo bản dịch Pháp văn của Nguyễn Văn Vĩnh, đã bộc lộ những tiếp nhận trái chiều nhau và khá phức tạp[2]. Song có một điểm đã nhận được đánh giá tích cực, đó là vai trò của bộ phim và của bản dịch Pháp văn mà bộ phim dựa theo:đã bắc cầu cho công chúng Pháp đến với tác phẩm văn chương Việt Nam [13].

4.3. Vậy còn vai trò của bản tân diễn Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh với vị thế điển phạm của tác phẩm trong đời sống văn chương Việt Nam?

Điển phạm (canon) được xác định là “những tác phẩm hay nhóm tác phẩm có tính chất mẫu mực của một nền văn học cả về nội dung và nghệ thuật, với đặc trưng là tính toàn bích và tính quyền lực” [12, tr.66].

Vậy là điển phạm chính là một giá trị kép (giá trị về văn chương, bao gồm cả hình thức, tính tư tưởng hay nội dung – tức giá trị tinh hoa/giá trị cổ điển, và giá trị xã hội), và hai mặt này không tách rời nhau.

Điển phạm cũng còn được coi là các tác phẩm vượt thời gian [26, tr.60], và không bị giam hãm trong bất kỳ cách đọc nào [23]. Nhưng ai có quyền quyết định cái gì là điển phạm? Lịch sử phát triển của điển phạm và những cuộc tranh luận xung quanh điển phạm đã cho thấy: xét đến cùng, không thể có một điển phạm hoặc cơ chế tạo tác điển phạm nằm ngoài sự chi phối của thiết chế [17, tr.26-49], [12, tr.68-69]. Nói cách khác, điển phạm cũng là sản phẩm của quyền lực, và khi được trao cho vị thế đó, điển phạm đến lượt nó cũng thành một kiểu quyền lực. Và cơ chế hình thành điển phạm có thể hình dung qua các quy ước, thiết chế như sau:

+ Các quy ước viết của thời đại (hay có thể gọi là quan niệm văn chương) sẽ góp phần tạo ra cơ chế quyền lực quyết định trật tự điển phạm-phi điển phạm, và cùng với nó là vị trí trung tâm-ngoại biên (qua thụ nạp, và thực hành văn hóa).

+ Các thiết chế văn hóa gắn với chính thể thời đại

+ Thiết chế văn hóa được biểu hiện cụ thể qua các hoạt động như: định kinh sách, ban thưởng, bình vịnh, đề từ (thời trung đại), soạn sách giáo khoa (thời hiện đại), định khung chương trình học, làm tuyển tập, quảng cáo/quảng bá (bao gồm cả việc tổ chức giải thưởng hoặc các cuộc thi).

Với lược đồ nhận diện điển phạm này, chúng ta trở lại với sự dịch chuyển của bản Kiều tân diễn mang tên Nguyễn Văn Vĩnh trong từ trường văn học Việt Nam thời Pháp thuộc. Để bước đi có căn cứ, chúng tôi sẽ quay ngược lại thời gian, khi Đoạn trường tân thanh còn ở dạng chữ Nôm, thế kỷ XIX.

Đó là thời tiền hiện đại, với những điểm khác biệt nhất, so với thời hiện đại đó là chữ viết, chế định học hành, là điều kiện in ấn. Ở vào thời kỳ chữ viết hay biết chữ chỉ là đặc quyền của số ít, và ở trong điều kiện chưa có in ấn, thưởng thức sách vở sẽ chỉ là đặc quyền của một số ít người, thậm chí không phải có chữ biết chữ là có thể có sách đọc.

Nói cách khác, vào thời kỳ trung đại, đọc sách là việc của một nhóm cực kỳ thiểu số, so với toàn bộ dân số của cộng đồng. Đó cũng là thời diểm chưa có hội đoàn, nhóm phái văn chương theo kiểu có tổ chức có tôn chỉ, thậm chí văn chương bị coi là một nghề thấp hèn nhất…. Vậy thì việc xác định điển phạm văn chương sẽ thuộc về ai, hay sẽ được xác định bởi ai, bởi cái gì, trong môi trường đó?

Lược đồ nhận diện điển phạm gợi ý chúng ta nghĩ đến vai trò của các tuyển tập do triều đình ủy thác thực hiện hoặc được triều đình thừa nhận, sách học trong chương trình khoa cử chính thống, đến những cuộc thi (dù hiếm hoi), đến những lời bình vịnh đề tựa của các bậc danh sĩ, và có thể tính đến sự thừa nhận của số đông người đọc…

Tuy nhiên, dù gắng mở rộng tầm quan sát đến đâu, với tác phẩm để đời của Nguyễn Du, vị trí một điển phạm dường như thật bấp bênh. Trước hết là ở quan niệm văn chương.

Việc người cầm bút ngay từ lúc tập văn đã thuộc làm lòng câu “Văn dĩ tải đạo, thi ngôn chí” đã chắc chắn đưa câu chuyện Kim Kiều vào loại ngoại thư. Tiếp đó, theo tôn ti văn tự, dưới cái nhìn quan phương, chữ nôm cũng hiển nhiên phải đứng ở vị trí thứ yếu – “mua vui” mà chính Nguyễn Du đã dùng khi chấm bút kết thúc câu chuyện của mình.

Và vì được viết bằng chữ nôm, và viết một câu chuyện đời nhưng không thuộc thể kinh sử truyện, nên Đoạn trường tân thanh không bao giờ là sách học sách thi. Nhưng có hai khoảng không gian Truyện Kiều được chào đón, thừa nhận ở vị trí đỉnh cao. Đó là giới tinh hoa[3], và sự hân thưởng rộng rãi của dân chúng[4]. Lời thừa nhận của Đào Nguyên Phổ rằng, “ngày nay… không ai là không có một quyển Kiều cầm tay để thưởng thức”, hay “người truyền nhau sao chép, giá giấy đắt như “giấy quý Lạc đô” [16, tr.401-402] cũng cho thấy Truyện Kiều vào cuối thế kỷ XIX đã là một sản phẩm hàng hóa bán chạy.

Tuy vậy, dù câu chuyện ‘đứt ruột’ được “tự sự khéo, tả cảnh hệt, đàm tình đã thiết” [16, tr.395] đã tạo nên một đợt sóng người “mê nôm Thúy Kiều” cuối thế kỷ XIX từ kinh đô đến chốn thôn dã, thành cớ cho một cuộc bình vịnh do viên tổng đốc Hà Nội tổ chức đầu thế kỷ XX, thậm chí được xem trọng ngang Kinh Thi Trung Hoa [16, tr.400] thì tấm biển “tôn ti” vẫn chặn lối tác phẩm bước vào thế giới điển phạm quan phương, cho đến khi xã hội chuyển mình thành “tân thời”.

Bước vào thời kỳ chữ quốc ngữ thay thế chữ Nôm chữ Hán, ảnh hưởng Trung Hoa và quá khứ bị thiết chế thực dân tìm mọi cách chặt đứt, một nhóm trí thức dân tộc đã nhận ra rằng bên cạnh việc phải và nên nhìn ra bên ngoài, nhìn sang thế giới văn minh Âu Tây cũng phải và cần bảo tồn “hương hỏa” ông cha. Kiều đã thành lựa chọn hàng đầu, chứ không phải một tác phẩm chữ Hán uyên thâm nào khác.

Vì nhiều lý do, trong đó có thực tế bảng giá trị tôn ti văn hóa trung đại đã bị giải thiêng trước hết bởi những lãnh đạo cao nhất của nhà nước thuộc địa. Theo đà đó, Kiều được đưa trở lại không gian đọc hiện đại rất nhanh chóng (bản Kiều quốc ngữ đầu tiên do Trương Vĩnh Ký thực hiện vào năm 1874), cùng với việc cổ động học thứ chữ mới, nhưng việc chuyển vị thế Kiều thành một điển phạm thì phức tạp hơn.

Phải có một quá trình để Kiều được khẳng định về sự mẫu mực trong văn chương bởi những người có địa vị trong xã hội mới, phải có một quá trình để Kiều được bước vào học đường, và trong đời sống hiện đại với hình hài mới, Kiều phải là một “sản phẩm” được ưa chuộng và giá trị tinh hoa của tác phẩm phải được thừa nhận rộng rãi.

Tất cả những tiêu chí đó, Kiều đã đạt được xung quanh những năm 1920-1930, trong đó có đóng góp của việc tân diễn Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh, như các mục trên đã trình bày.

VĂN – CHƯƠNG AN – NAM.

(Éstude sur la langue et la littérature annamites)

(ĐDTC số 9 năm 1913).

Một là những tiếng nguyên-âm của nước Nam, vốn từ khi chưa học chữ Tầu cũng đã có, như những tiếng: Người, một, hai, ba, bốn, giời, đất, ăn, uống, vân vân.

Hai là những tiếng do chữ nho mà thành ra, như những tiếng: Năm (niên); trong (trung); chữ (tự); cuộc (cục); xanh (thanh), vân vân.

Ba là những chữ nho mượn mà dùng lẫn vào tiếng An-nam như là: Tài, mệnh, phong, tình, vương, quan, gia, tinh, thần, vân vân….

Lấy một trang truyện Kiều ra mà đếm từng tiếng thì trong 143 tiếng, có 80 tiếng nguyên-âm, 10 tiếng lớ chữ tầu, và 53 chữ nho. Mà xem trong 53 chữ nho mượn làm văn nôm, thì chỉ có 8 chữ như bỉ, sắc, tư, phong, là những chữ người thường không hiểu được, còn 45 chữ kia như tài, sắc, phong, tình, thì tuy là chữ tầu nhưng mà đã vào làng An-nam rồi, đàn-bà con-trẻ nghe cũng hiểu, bây giờ cho làm tiếng ta cũng được…”.

NGUYỄN VĂN VĨNH

Itamar Even-Zohar từng đưa ra một dẫn chứng cho việc một sản phẩm thoạt nhìn tưởng như vô hại, lại có thể tạo ra những tác động toàn diện cho việc tạo ra một đời sống văn hóa văn chương mới, đó là việc tái trưng dụng thiên sử thi Kalevala của người Phần Lan, hay việc tổ chức cuộc thi thơ ở Galica (Tây Ban Nha) vào việc kiến tạo một tinh thần cố kết dân tộc ở thời đại mới [8, tr.242]. Như vậy, có thể thấy việc trưng dụng các giá trị cũ trong một khung cảnh mới đôi khi tạo ra những hệ quả ngoài sức tưởng tượng.

4.4. Cuối cùng là vấn đề vai trò của Kiều tân diễn Pháp văn của Nguyễn Văn Vĩnh trong dịch thuật. Ở trên, chúng tôi đã đề cập đến giá trị sách học cho cộng đồng người sử dụng tiếng Pháp, giá trị quảng bá văn chương Việt và nước Việt ra thế giới, và vị thế kết nối văn hóa văn chương cho người Pháp với xứ bản địa. Nói cách khác, với bản dịch Kiều sang tiếng Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh còn đóng góp vào việc mở rộng không gian sinh tồn của kiệt tác dân tộc sang chính địa bàn mẫu quốc, vào nỗ lực thiết lập vị thế bình đẳng với mẫu quốc, thậm chí là hơn thế[5] – một hệ quả không có trong nghị trình cai trị bản địa của chủ nghĩa thực dân.

Trên thực tế, không gian đó còn rộng hơn nước Pháp. Do vị thế tiếng Pháp gắn liền với bản đồ thuộc địa Pháp trên hoàn cầu nên câu chuyện Kim Vân Kiều đã được đưa đi xa hơn nữa. Đây là một minh chứng cho vai trò quyết định của quyền lực (chính trị) đối với một vị thế văn hóa.

Theo một số khảo sát, tổng kết về quá trình dịch Kiều ra các thứ tiếng nước ngoài, bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã được nhiều dịch giả của các ngôn ngữ khác đã dựa theo để tân diễn dịch cho độc giả của các ngôn ngữ như: Đức [22], Nhật [9, tr.477], Anh [2, tr.11], Rumani[6]

Giải thích lý do chọn bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh để dịch hoặc tham khảo trong quá trình dịch, các dịch giả đều nhắc đến ưu thế của mô hình dịch là: dịch từng chữ, dịch nguyên câu, diễn giải, và chú giải điển cố điển tích.

Cách dịch này không làm yên lòng những người yêu âm điệu tiếng Việt nhưng lại là cách tốt nhất đưa người đọc khác biệt về văn hóa bước vào thế giới đa tầng của tác phẩm, và cũng là cách hữu hiệu kéo hai nền văn hóa khác biệt lại gần nhau. Việc đưa một tác phẩm như Kiều sang một vùng văn hóa khác, thông qua dịch, cũng là đưa một giá trị tinh hoa, điển phạm, phổ cập ở tầm dân tộc sang một diện phổ cập rộng hơn nữa. Bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện tốt chức phận này.

“…Nhưng ông lại có đủ lý luận để đưa ra những thí dụ rõ ràng, chứng minh là tiếng Pháp… có khi nghèo hơn tiếng Việt thật. Thí dụ trong cách diễn tả, về những cảm giác hoặc mùi vị. Về chữ xót, chẳng hạn. Ông không có sự dè dặt, thậm chí luồn cúi đối với người Pháp như một số trí thức tân học thời bấy giờ. Ông bình luận về chữ này: ‘Xót không có chữ tương đương trong tiếng Pháp. Vì chữ xót này không chỉ sự xót trên một vết thương thân thể, khi vết thương ấy bị một thứ nước chua hay mặn dính vào, hoặc bị lạnh. Chữ xót còn diễn tả cho cả nỗi đau tinh thần, trong tình gia tộc hay tình cảm đối với những kẻ thân yêu; xót xa, xót thương v. v…’ (trang 330 chú thích số 397).

Ông cũng định nghĩa về chữ ‘bùi’, và cho là trong tiếng Pháp không có từ này (trang 437 chú thích số 562).

Hoặc về chữ nói của tiếng Pháp, đối chiếu sang tiếng Việt, chúng ta có khá nhiều từ để diễn tả tùy theo từng trường hợp như: thưa, bẩm, trình là đối với người trên, dạy, truyền, bảo là người trên nói với người dưới. Nhưng nhủ, dạy là cha mẹ nói với con, hoặc với người thân tình có tính cách mến thương (trang 78 chú thích số 106).

Ai biết tiếng Pháp, đọc so sánh trên thú vị biết bao…”.

(Phân tích của Thu Trang – Công Thị Nghĩa – Đại học Paris 1968, Đại học Paris VII 1979, về trình độ nhận thức sự khác nhau của Nguyễn Văn Vĩnh giữa tiếng Việt và tiếng Pháp, khi dịch Kiều). 

Lời kết

Trong lịch sử phiên diễn Kiều, Nguyễn Văn Vĩnh là người duy nhất thực hiện đồng thời cả hai công việc, phiên âm sang chữ quốc ngữ và dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp. Được Nguyễn Văn Vĩnh trở đi trở lại trong ngót 30 năm, công việc phiên diễn Truyện Kiều của ông đã song hành với chủ trương phổ thông sự học, phổ cập chữ quốc ngữ, và gắn liền với đời sống báo chí.

Khi công bố trên báo, các bản phiên diễn Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh luôn ở dạng song ngữ, dù là báo tiếng Pháp hay báo quốc ngữ. Đây là dấu hiệu của giai đoạn giao thời Âu-Á tại Việt Nam đầu thế kỷ XX, và cũng là biểu hiệu của sự nhất quán của ông trong dự đồ tạo ra sự thông hiểu giữa hai dân tộc qua ngôn ngữ và văn chương, văn hóa.

Phần phiên Kiều từ nôm sang quốc ngữ của bản song ngữ công bố trên báo, kết hợp cùng bản quốc ngữ in độc lập, đã hòa vào hoạt động đa dạng của Nguyễn Văn Vĩnh nhằm phổ thông hóa chữ quốc ngữ và nâng cao dân trí cho người bản địa. Qua đây, Kiều thành một giá trị phổ cập, được khẳng định rộng rãi là tinh hoa dân tộc.

Còn bản dịch tiếng Pháp được thực hiện hai lần, và lần thứ hai là để khắc phục nhược điểm của bản dịch cũ. Bản dịch này hướng đến người đọc Pháp, hỗ trợ họ làm quen với ngôn ngữ, văn chương, văn hóa Việt Nam, khiến họ biết đến một giá trị tinh thần tinh túy của người Việt.

Như vậy, hai bản quốc ngữ và tiếng Pháp có những tiêu đích riêng nhưng lại cùng thể hiện nhu cầu khẳng định thực thể văn hóa dân tộc, và không che giấu khát vọng thiết lập sự bình đẳng giữa dân tộc mình và nước Pháp cũng như phần còn lại của thế giới.

Với một mô hình phiên diễn đầy chủ kiến, Truyện Kiều đã được Nguyễn Văn Vĩnh đưa từ thế giới trung đại sang hiện đại theo cách dịch văn hóa, cả ở phạm vi bản thổ và ngoại vực. Đây là cách thích ứng, đồng thời cũng là sự phản ánh bản chất của bước chuyển đổi khác thường ở Việt Nam đương thời.

Riêng trong phạm vi dân tộc, dù là một dự án độc lập, song việc phiên diễn Truyện Kiều của Tân Nam Tử, lại khởi động cho tiến trình đưa Truyện Kiều đi vào trung tâm của sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trở thành điển phạm của văn chương dân tộc, được các trí thức Việt Nam tiếp nối nhau thực hiện ngay trong thời thuộc Pháp.

Và tất nhiên, dư ba của hoạt động này không dừng trong phạm vi chỉ một Truyện Kiều hay chỉ một đời sống văn chương. Phiên diễn Truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh là một hoạt động công khai dưới thiết chế thực dân.

Về biểu ngôn, công việc này hài hòa với phương thức cai trị, nhưng xu hướng phát triển của tính dân tộc trong hành vi đó, như một kiểu hàm ngôn, lại mang nghĩa của một đối kháng với thiết chế.

(In trên Nghiên cứu Văn học, số 12 năm 2020)

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Sĩ Bàng, Lê Thước (1924), Truyện Cụ Nguyễn Du – Tác gỉả Truyện Thúy Kiều, Mạc Đình Tư xb., Hà Nội.

[2] Charles Benoit (2016), Diễn tiến câu chuyện Vương Thúy Kiều từ sự kiện lịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb. Thế giới, Hà Nội.

 [3] Nguyễn Lân Bình (2012), Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau-Nước Nam mới”, nguồn https://tannamtu.id.vn/?p=636” , truy cập 9/11/2020.

[4] Nguyễn Lân Bình (2015), ”Có thể nào là hai trong một”, nguồn https://tannamtu.id.vn/?p=2081, truy cập 9/11/2020.

[5] Maurice Durand (1998). L’Univers des Truyện Nôm, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.

[6] Đăng cổ tùng báo, Hà Nội.

[7] Đông Dương tạp chí, Hà Nội.

[8] Itamar Even-Zohar (2014), Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

[9] Đoàn Lê Giang (2015), “Các bản dịch Truyện Kiều ở Nhật Bản: Đa dạng người dịch, đa dạng phong cách”. Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du: 250 năm nhìn lại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[10] Alain Guillemin, Các bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, nguồn http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/29-nhin-ra-the-gioi/613-cac-ban-dich-truyen-kieu-sang-tieng-phap, truy cập 12/11/2020.

[11] Nguyễn Thị Lệ Hà (2008), “Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt và truyền bá chữ quốc ngữ”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, Hà Nội.

[12] Đỗ Thu Hiền (2019),Điển phạm và vấn đề điển phạm hóa trong văn học Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[13] Indépendance Tonkinoise, nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_V%C3%A2n_Ki%E1%BB%81u_(phim), truy cập 9/11/2020.

[14] Phùng Ngọc Kiên (2015), “’Truyện Kiều”tân diễn trong ba thập niên đầu thế kỷ XX”, Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du: 250 năm nhìn lại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[15] L’Annam Nouveau, Hà Nội.

[16] Lê Xuân Lít (2005), Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

[17] Lê Nguyên Long (2013), “Trung tâm và ngoại biên, từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận”, Nghiên cứu Văn học, số 4.

[18] Phạm Quốc Lộc (2016), “Phiên dịch văn hóa, tính lưỡng trị và chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam”, Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.110-136.

[19] Nam Phong tạp chí, Hà Nội.

[20] Notre Journal, Hà Nội.

[21] Notre Revue, Hà Nội.

[22] Trương Hồng Quang (2015), Về bản dịch tiếng Đức “Das Madchen Kieu” của Irene và Franze Faber, nguồn https://dasmaedchenkieu.wordpress.com/2015/09/27/ve-ban-dich-tieng-duc-das-maedchen-kieu-cua-irene-va-franz-faber/

[23] Nguyễn Hưng Quốc (2005), Điển phạm: Một trung tâm của lịch sử và phê bình văn học, nguồn http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4569&rb=0106, truy cập 11/11/2020.

[24] Thái Phỉ (1935), “Một giờ với Nguyễn Văn Vĩnh”, Tin văn.

[25] Trịnh Văn Thảo (2019), Nhà trường Pháp ở Đông Dương (Nguyễn Trí Chỉ, Trịnh Văn Tùng dịch), NxN. Tri thức, Hà Nội

[26] Ann Thomson (1988), King Lear, The Macmillan Press, Hampshire&LondoLon

[27] Huỳnh Văn Tòng (1973), Lịch sử báo chí Việt Nam từ khỏi thủy đến năm 1930, Trí Đăng xb., Sài Gòn.

[28] Trung Bắc tân văn, số ra ngày 09, 11 và 12 tháng 6 năm 1923, Hà Nội.

[29] Émile Vayrac (1937), Rapport au sujet des effort faits au Tonkin depuis vingt-cinq ans environ pour fournir de bonnes lectures aux Annamites, Trung tâm lưu trữ Quốc gia, ký hiệu RSTNF 05219, Hà Nội.

TRẦN THỊ HẢI YẾN


[1] Xem Nguyễn Nam, Cải biên điện ảnh đầu tiên thời thuộc Pháp: Trường hợp phim “Kim Vân Kiều”, bài đăng cùng số tạp chí này.

[2] Nguyễn Nam, Bđd.

[3] Thể hiện qua tiếng tri âm của nhiều danh sĩ đương thời hoặc sau đó một thời gian ngắn (như Phạm Quý Thích, Phong Tuyết Chủ nhân Thập thanh thị, Mộng Liên Đường Chủ nhân, Chu Mạnh Trinh,…), qua sự ngâm thưởng và những lời bình của một số cây bút hoàng tộc, qua việc một số bậc Nho học đậu đạt cao lại “sành làm văn quốc âm” đã kê cứu, đính chính, viết lời tựa và/hoặc cho khắc in (như Kiều Oánh Mậu, Đào Nguyên Phổ,…) [16, tr.392-407].

[4] “người không biết lấy một chữ mà cũng học thuộc được vài câu” [16, tr.401].

[5] Theo Nguyễn Văn Vĩnh, nếu Kiều được dịch ra ngôn ngữ châu Âu thì sẽ khiến “cho người Âu châu phải công nhận rắng cái lối văn chương, có tư tưởng, có tâm lý, có triết học, không phải là một lối văn chương riêng của các nước bên Âu Mỹ”, là cách “vác loa mà kêu lên cho thế giới biết rằng nhân loại này cũng là một nhân loại đây,… chứ không phải là một nhân loại bề dưới đâu.Cái việc quảng cáo đó, rất thiết yếu cho cuộc hoà mục trong các chủng loại ở trên địa diện” [28, 11/6/1923].

[6] Tham luận của Nguyễn Văn Dân “Bản Kiều tiếng Rumani và cái tâm của người dịch” tại Hội thảo Nguyễn Du và ‘Truyện Kiều’ qua các văn bản và liên văn bản văn chương, nghệ thuật do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội, 26/11/2020.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network