THAM LUẬN của TIẾN SỸ VĂN HỌC TRẦN THỊ HẢI YẾN – Phần 2

Phần hai của Tham luận.

Các hoạt động và quan niệm hành động liên quan đến làm báo, phiên diễn và dịch thuật trên đây của Nguyễn Văn Vĩnh đều có đường dẫn đến Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trở lại với bài báo của Nguyễn Văn Vĩnh“Người An-nam nên viết chữ An-nam” đăng trên số ra mắt của Đăng cổ tùng báo năm 1907, chúng ta thấy trong phát ngôn cổ xúy học quốc ngữ: “Ví ta có được vài trăm chuyện, hay bằng chuyện Kim-Vân-Kiều, thì xem tiếng ta có kém gì chữ nho đâu!”… Thơ phú đời sau, dùng điển Thúy-Kiều, Nhị-Độ-Mai, hay là dùng điển các sách hay khác sắp làm ra, kém chi sâu-sắc bằng điển lấy trong Tứ-thơ, Ngũ-kinh” [6, số 1,28/3/1907, tr.8], Truyện Kiều đã thành bảo chứng cho giá trị của ngôn ngữ dân tộc, thành “điển” – một minh chứng cho chiều sâu của văn hóa dân tộc, và cả hai giá trị vừa được kiến tạo này, đều là cơ sở tạo gạch nối ngang bằng giữa dân tộc và thế giới văn minh khác.

Một đường dẫn nữa là bản Kiều quốc ngữ in những năm 1910 mà tôi cho là được thực hiện theo tuyên ngôn cổ xúy học chữ quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh từ Đăng cổ tùng báo đến Đông Dương tạp chí. Lời tựa bản Kiều này có đoạn:

Cả nước Nam duy có truyện Kim-Vân-Kiều là truyện hay…Kể các truyện nôm của ta thì bao nhiêu là truyện, nhưng mà không có truyện nào, cốt tầm-thường như thế, mà nên được những câu tuyệt-diệu, tả được những cảnh não nùng, tính tình con người ta giãi bày ra một cách rất sâu sắc. Nhưng mà, ai là người hiểu cho hết những cái sâu sắc ấy! Hiểu được ắt phải đãTrải qua một cuộc bể dâu’.

… trong nước Nam ta, mà bao nhiêu người ngâm truyện Kiều, hiểu được cả truyện Kiều, thì thực là một nước biết yêu, biết thương nhau, biết sống làm người một cách êm ái quá. Ngặt vì mười người ngâm không được lấy một người hiểu.

Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn-chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong truyện Kiều; để mà biết thực giá một cái hương-hỏa quí của người đời trước để lại cho [4].

Trích đoạn trên đây tiết lộ nhiều thông tin liên quan đến cách ứng xử của Nguyễn Văn Vĩnh đối với Truyện Kiều.

Thứ nhất, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện công việc phiên âm này từ nhiều bản nôm khác nhau, đây là cách làm mang hơi hướng khảo cứu phương Tây.

Thứ hai, theo Nguyễn Văn Vĩnh, một khi quốc văn là văn nôm thì Truyện Kiều đứng thứ nhất, tức Kiều mang giá trị tinh hoa, độc sáng.

Thứ ba, Truyện Kiều có vị thế phổ biến nhưng lại không dễ hiểu, vì câu chuyện đã được kể theo khuôn mẫu nhà nho.

Vì vậy, “Kim-Vân-Kiều dịch ra quốc ngữ có chú dẫn các điển tích” của Nguyễn Văn Vĩnh, là cách ông khiến cho người bình dân đương thời có thể đi từ chỗ thuộc đến chỗ hiểu được tác phẩm – tức nâng cao dân trí, khiến ngay cả người đọc thông thường cũng nhận chân được chất tinh hoa của tác phẩm, và đây cũng là một kiểu dịch văn hóa nhưng là một cuộc chuyển dịch thời đại trong phạm vi quốc nội.

Vì tất cả những lý do trên, bản Kiều quốc ngữ này mới là minh chứng cho việc tân diễn Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh tham dự vào cuộc kiến tạo lối diễn xuôi tiếng Việt và góp phần vào việc “giải phóng khỏi những chuẩn mực cũ” [14, tr.318-320], cũng như đưa Truyện Kiều bước vào không gian văn hóa đại chúng thời hiện đại. Sau khi xác lập cho Truyện Kiều giá trị tinh hoa, chiều sâu, và sự phổ biến như vậy, thì việc chọn tác phẩm này để “tân diễn Pháp văn” sẽ là tất yếu.

Những phân tích trên đây thực chất là đi vào hai phiên bản, hai môi trường xuất hiện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh: Kiều phiên quốc ngữ (mà Nguyễn Văn Vĩnh gọi là “dịch”Kiều dịch sang tiếng Pháp (mà ông gọi là “tân diễn”). Ngoại trừ bản Kiều quốc ngữ do nhà Ích Hữu in độc lập vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX thì các lần xuất hiện khác, Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh đều có dạng song ngữ.

Bỏ qua sự xuất hiện của bản này trên Notre Revue, bởi các mục, bài của ấn phẩm này đều ở dạng song ngữ. Vẫn có những câu hỏi phải giải đáp: Vì sao một bản Kiều song ngữ như vậy lại hiện hữu trên tờ Đông Dương tạp chí là tờ báo quốc ngữ và cả trên một tờ báo tiếng Pháp là L’Annam Nouveau? Và vì sao lại có bản tân diễn Kiều tiếng Pháp thứ hai?

Với câu hỏi thứ nhất, câu trả lời đã có sẵn trong nhiều dẫn chứng về mục đích của các tờ báo đã trích ở trên: các tờ báo của Nguyễn Văn Vĩnh tuy có điểm nhấn khác nhau, nhưng lại chia sẻ ở chủ trương mở mang tri thức cho độc giả, và tạo sự thông hiểu Việt-Pháp. Nhưng như vậy thì với Đông Dương tạp chí, bản Kiều tân diễn song ngữ mà ngay ở mục lục của các số báo đều được giới thiệu là “Kim-Vân-Kiều tân diễn Pháp văn”, có lẽ giúp cho việc học tiếng Pháp, để “phô diễn” văn hóa văn chương Annam nhiều hơn là để phổ cập chữ quốc ngữ.

Để trả lời câu hỏi thứ hai, chúng ta có bài báo tiếng Pháp “Le Truyện Thúy Kiều” của chính Nguyễn Văn Vĩnh in ba kỳ trên L’Annam Nouveau năm 1933 – cùng năm với kỳ công bố đầu tiên bản dịch Kiều thứ hai.

Trong bài báo này, dịch giả thẳng thắn thú nhận, bản dịch năm 1913 của mình, tức bản in trên Đông Dương tạp chí, đã như một bài thi bị đánh trượt, do tiếng Pháp vào thời điểm đó còn rất yếu (nguyên văn “déjà trop faible”), và do điều kiện làm báo khắc nghiệt, không cho phép dịch giả rà soát kỹ hay trau chuốt bản dịch [15, số 226][1].

Thêm nữa, lần này người dịch dựa vào bản phiên âm được hiệu khảo công phu của bậc đại nho Bùi Kỷ. Vì những lý do đó, nội dung phần dịch tiếng Pháp lần này của Nguyễn Văn Vĩnh đã có những thay đổi căn bản. Cũng trong bài báo này, Nguyễn Văn Vĩnh tiết lộ rõ ràng hai mục đích khi dịch Kiều sang tiếng Pháp.

Thứ nhất là giúp cho người nghiên cứu An Nam (chủ ý là người Pháp – THY) hiểu được ngôn ngữ An Nam (bao gồm ngữ pháp, từ vựng), khiến cho họ biết đến một tác phẩm tinh túy bậc nhất của người An Nam, cả về văn chương và tư tưởng, để thấy An Nam có thể ngang hàng nước Pháp văn minh.

Thứ hai là giúp người An Nam học tiếng Pháp và chuẩn bị cho việc làm quen với văn chương Pháp[2]. Bài báo cũng cho thấy lần dịch này, Nguyễn Văn Vĩnh đã có trước mặt bản dịch của René Crayssac (in tại Hà Nội năm 1926) để tham khảo. Như vậy, đây là một cuộc sửa sai thành thật và cầu thị.

Việc học giả người Pháp Alain Guillemin xếp bản dịch Kiều sang tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh vào loại dành cho giới chuyên môn [10], chính là nói về bản tân diễn này, chứ không phải là về việc tân diễn Kiều nói chung của Nguyễn Văn Vĩnh. Và sự khác biệt của bản “tân diễn Pháp văn” Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh công bố, so với các bản tiếng Pháp, như của Abel des Michels (1875) hay bản Crayssac (1926) chẳng hạn, cũng chính là bắt nguồn từ bối cảnh và mục đích như vậy.

  1. Vẫn còn một ngữ cảnh khác

Việc soi chiếu các hoạt động nói chung cũng như công việc phiên diễn Kiều nói riêng của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ thiếu thấu đáo nếu không được nhìn từ các thiết chế xã hội đương thời. Ở đây, chúng tôi xin tập trung vào Báo cáo của Émile Vayrac[3] được viết vào ngày 17 tháng Hai năm 1937, vì hai lý do: đây là tài liệu còn ít được biết đến, và quan trọng hơn, Vayrac cũng như nội dung bản Báo cáo có nhiều liên quan đến hoạt động dịch thuật và làm báo của Nguyễn Văn Vĩnh.

Dưới báo cáo Rapport au sujet des effort faits au Tonkin depuis vingt-cinq ans environ pour fournir de bonnes lectures aux Annamites (Báo cáo về những cố gắng Bắc Kỳ trong 25 năm để cung cấp sách tốt cho người Annam) [29, tr.1] là tên người viết kèm chức vụ “Chef du Bureau des Publications Indigènes. Directeur du Tu-Dan-Van-Uyen” (Trưởng phòng Báo chí Xuất bản. Giám đốc Tứ-dân-văn-uyển) [29, tr.22-23]. Bản báo cáo cung cấp nhiều thông tin về chủ trương của Pháp, mà đại diện là Vayrac, và về hoạt động báo chí, xuất bản tại Bắc Kỳ trong những năm 1912-1937.

3.1 Dưới cái nhìn của Vayrac, đầu thế kỷ XX có một hố sâu ngăn cách người dân Annam bị trị với người Pháp, qua đại diện là các quan cai trị bản xứ, “Sự không hiểu biết của những người Pháp về người Annam chắc chắn là rất lớn; sự không hiểu biết của người Annam về chúng ta là phi thường, và không thể tưởng tượng được” [29, tr.1-2]. Thông tin này giúp hiểu thêm việc báo chí và ấn phẩm công khai thời kỳ đầu thực dân luôn khẳng định một trong những mục đích của mình là, giúp người Pháp (hoặc người An Nam) hiểu người An Nam (hoặc người Pháp).

Ở vị trí của mình, trong 25 năm tại nhiệm, Vayrac đã có hàng loạt hoạt động “san bằng” hố sâu đó: đưa Nguyễn Văn Vĩnh và Schneider thành hai nhân vật chủ chốt của tờ Đông Dương tạp chí tuần báo quốc ngữ, và Trung Bắc tân văn nhật báo quốc ngữ [29, tr.4-5], tổ chức xuất bản “Sách đọc của Bắc Kỳ” (Lectures Tonkinoises, từ 1923), lập tủ sách “Âu Tây tư tưởng” (La Pensés de L’Occident, từ 1927), làm đi làm lại Niên lịch Thông thư Annam (L’Amanach Annamite), ra tạp chí Tứ dân văn uyển (Le Jardin des Lettre pour les quatre classes dela Sociaété, từ 1935), và viết nhiều tác phẩm về lịch sử, hoặc sử truyện cổ đại Hy Lạp La Mã, lịch sử nước Pháp…

Trong quan hệ với Nguyễn Văn Vĩnh, từ đầu đến cuối, Vayrac giữ một cái nhìn trọng thị. Đó là con người “có đức tính ngay thẳng nhất mà tôi từng gặp”, là người “trong mọi trường hợp, sẵn sàng nhất nói với chúng ta sự thật” [29, tr.2]. Theo Vayrac, Nguyễn Văn Vĩnh vừa là một dịch giả có thể tạo ra những bản dịch [quốc ngữ] từ tiếng Pháp “đúng một cách sát sao và hay một cách hiếm có” [29, tr.3], vừa là người có thể đưa văn hóa Việt Nam đến với người nước ngoài một cách xuất sắc “Nếu tôi có thể hiểu được phần nào xã hội bản xứ…, biết thưởng thức được một ít văn chương dân gian tuyệt diệu của người Annam thì chính là nhờ người bạn Annam đáng thương tiếc này” [29, tr.2].

Cảm xúc và nhận xét mang tính khẳng định của Vayrac đem lại một chân dung Nguyễn Văn Vĩnh chói sáng khi giữ nhịp cầu nối hai nền văn hóa. Tuy nhiên, Vayrac còn kể một câu chuyện khác về Nguyễn Văn Vĩnh.

Phần đầu của Báo cáo, Vayrac cho biết rằng đã có những khoảng thời gian Nguyễn Văn Vĩnh “chưa hoàn toàn tin tưởng vào chính phủ. Ông, phần nào đó, đứng về phe Đối kháng” [29, tr.2]. Tương ứng với thái độ chính trị này, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch nhiều sách báo mang tinh thần khai sáng của Pháp ra chữ quốc ngữ “những cuốn sách chuẩn bị cho cuộc cách mạng” [29, tr.2].

Tiết lộ này phù hợp với tự thuật của Nguyễn Văn Vĩnh trong bài trả lời phỏng vấn của Thái Phỉ năm 1935. Đó là vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu XX, khi Nguyễn Văn Vĩnh viết báo và dịch thuật cho một số tờ báo tiếng Pháp, tham gia vào một số hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục và làm tờ Đăng cổ tùng báo. Nhận ra chất phản kháng này, Vayrac đã “ra sức thuyết phục và khiến ông từ bỏ đự án không hay này” [29, tr.4],và cùng các viên quan cai trị khác nhanh chóng nghĩ ra một kế sách dùng người khôn ngoan: thuyết phục Nguyễn Văn Vĩnh rằng đó chưa phải là những sách cần dịch trước, những sách đó không có lợi gì cho người Annam đang ở trình độ phát triển hiện tại [29, tr.3], và quan trọng hơn, thay vì trấn áp thô bạo, Vayrac đã nhìn thấy ở Nguyễn Văn Vĩnh và những trí thức như ông  một “lực lượng” mà chính quyền thực dân “phải sử dụng” “trong trật tự và hợp pháp” [29, tr.5].

Như vậy, việc Nguyễn Văn Vĩnh được tiến cử vào các hoạt động văn hóa do Vayrac đề xuất nói trên, trong đó có việc trở thành chủ bút hai tờ Đông Dương tạp chíTrung Bắc tân văn cũng như việc ông được chấp thuận mở các tờ báo khác, bao gồm cả báo tiếng Pháp, chính là bắt nguồn từ đối sách này của chính quyền thực dân.

Hẳn nhiên có thể còn những nguyên cớ khác từ bên trong suy tư, lựa chọn của cá nhân Nguyễn Văn Vĩnh. Bất luận thế nào, thông tin trên cho thấy đã có một sự nhượng bộ trong nhận thức và chủ trương hành động của cả hai phía. Vậy là từ những năm 1910 có một dịch chuyển từ Nguyễn Văn Vĩnh dịch Contrat Socialsang dịch Fables de la Fontain, Contes de Perault, Télémaque, Les Comedies,Les Misérables, Notre Dame de Paris… – những tác phẩm thuộc dòng dân gian hoặc cổ điển, lãng mạn hoặc mang tư tưởng chống phong kiến, và về giá trị, chúng đều là những tác phẩm “được nhiều người chiêm ngưỡng” [29, tr.3], tức là mang giá trị phổ cập, nhưng không hàm chứa mầm mống khuấy động tinh thần phản kháng chính thể đương đại.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh thì lại không phải là một giá trị đơn nhất, một “lực lượng” dễ khuất phục. Trên các tờ báo tiếng Pháp do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương và làm chủ bút, việc dịch Kiều sang tiếng Pháp không có mặt trong “cương lĩnh” hoạt động của thiết chế văn hóa thực dân. Vì vậy có thể nghĩ, rằng đây là hành vi không đi ra ngoài lề luật nhà nước thực dân, nhưng mang tính tự lập, tự chủ của cá nhân Nguyễn Văn Vĩnh. Và việc ông tân diễn Kiều ra quốc ngữ sang tiếng Pháp, rồi cố gắng tự công bố nhiều lần, cố gắng để có một bản dịch “thâm trầm” hướng đến độc giả hiểu biết, cố gắng để có một bản tân diễn được công bố trọn vẹn… rõ ràng cũng là một đối sách khôn ngoan của kẻ bị trị, nhắm khẳng định bản ngã và sự bất tử của giá trị dân tộc.

3.2. Để hiện thực hóa những chủ trương thực dân, báo cáo của Vayrac cung cấp những thông tin thú vị về những biện pháp thực tế trong xuất bản, cách thức tiêu thụ ấn phẩm, và tình hình độc giả (hay đời sống đọc) đương thời.

Ví dụ, quãng năm 1927-1928, để chống lại sự lan tràn của sách Tàu, Thống sứ Robin đã yêu cầu Vayrac và Nguyễn Văn Vĩnh làm Niên lịch Thông thư Annam và tủ sách “Âu Tây tư tưởng”. Tủ sách được dự định tổ chức thành ba loại sách:

– Sách dân gian: ra hai lần một tháng, in 18.000 bản, trong đó 10.000 bản nhà nước mua và phát không

– Sách khổ thông thường: là sách nghiêm túc hơn, không phù hợp với đại chúng, in 2.000 bản và được nhà nước mua toàn bộ để đưa vào trường học

– Sách có minh họa: là sách kỹ thuật và thực hành, in 1.000 bản, trong đó 300 do nhà nước mua

Tuy nhiên, do thiếu nhân lực thực hiện nên sau đó chỉ hai loại sách đầu tiên được làm và chia thành ba nhóm: Tác phẩm cổ điển, cổ đại và hiện đại; Tác phẩm đại chúng (oeuvres populaires); Sách học và sách phổ thông (livres de vulgarisation) [29, tr.6-7].

Khi việc thực hiện hai tủ sách trên không suôn sẻ, ngân sách nhà nước lại eo hẹp, Vayrac được lệnh ra tạp chí Tứ dân văn uyển “theo cách làm thương nghiệp”, tức là chỉ sống bằng quảng cáo và mua báo dài hạn [29, tr.9]. Để giữ độc giả, đặc biệt là độc giả mua báo dài hạn, Vayrac và cộng sự đã nghĩ ra biện pháp: làm các bộ sưu tập báo/tạp chí để bán cuối mỗi 6 tháng hay cuối năm, cho in những tác phẩm lớn (grands ouverages), và cho in những “tác phẩm cổ điển Annam” đây cũng là “những tác phẩm được ghi vào danh sách học thi bằng Tú tài hoặc thi vào Đại học” [29, tr.13].

Biện pháp này, kết hợp với các quy định giáo dục (Giám đốc Nha học chính Bertrand muốn đưa ngôn ngữ, văn chương An Nam vào chương trình học trong nhà trường) quả nhiên đã có tác dụng, dù bán giá rẻ cũng đem lại số lãi hàng tháng, do nhu cầu đọc gia tăng nhanh chóng.

Trong danh sách ba tác phẩm cổ điển An Nam được chọn lọc có Kim Vân Kiều và trong một năm rưỡi, sách in 11.000 bản [29, tr.13-14]. Vậy là trong sách lược sản xuất và phân phối hàng hóa chính thức, bản Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh, vừa là sách giáo khoa vừa là ấn phẩm “tặng kèm” cho công chúng phổ thông để giữ họ là độc giả trung thành của các tủ sách do nhà cầm quyền lập ra. Thông tin này đã cho phép khẳng định: dưới sự vận hành của thiết chế thực dân, Truyện Kiều là tác phẩm cổ điển và cũng là một sản phẩm đại chúng, tham gia vào thị trường hàng hóa văn chương; và Truyện Kiều đã bước chân vào chương trình học, nội dung thi bắt buộc ở bậc cao nhất của Việt Nam lúc đó[4].

  • Hiệu ứng từ các bản Kiều tân diễn của Nguyễn Văn Vĩnh

4.1. Sau khi Kiều tân diễn của Nguyễn Văn Vĩnh được công bố trọn vẹn trên Đông Dương tạp chí từ 1913 đến 1917, sinh hoạt báo chí có những tranh luận sôi động và căng thẳng xung quanh tác phẩm này. Nguyên do bắt nguồn từ việc Hội Khai trí tiến đức do Phạm Quỳnh làm Hội trưởng, tổ chức một lễ tưởng niệm Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 9 năm 1924, nhân giỗ Nguyễn Tiên Điền.

Theo Nam Phong tạp chí, “người kéo đến đông như kiến… kể có tới hai ngàn con người… Ở Hà Thành ta từ xưa có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan Toàn quyền Sarrault diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế” [19, số 86, 9/1924, tr.90]. Chương trình kỷ niệm, theo thuật lược của Nam Phong tạp chí, lần lượt có Phạm Quỳnh đọc bài diễn thuyết (bằng cả tiếng Việt và Pháp) về mục đích kỷ niệm, Trần Trọng Kim diễn thuyết về cuộc đời Nguyễn Du và Truyện Kiều, Kép Thịnh và đào Tuất ngâm Kiều, ả đào trình diễn bài ca trù do Nguyễn Đôn Phục soạn ca ngợi Nguyễn Du.

Tuy nhiên, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, điểm nóng gây tranh luận là câu tuyên ngôn của Phạm Quỳnh trong bài diễn thuyết quốc văn “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ”. Trong mạch quan tâm của bài viết, chúng tôi nhận thấy rằng, toàn bộ chương trình kỷ niệm không hề có bóng dáng Nguyễn Văn Vĩnh, song tuyên ngôn gây bất bình cho một nhóm độc giả, trí thức đương thời của Phạm Quỳnh, nếu đặt bên nhận định của Nguyễn Văn Vĩnh “Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở như chữ quốc-ngữ” vốn được viết trong Lời tựa cho bản dịch quốc ngữ Tam quốc chí diễn nghĩa của Nguyễn Đôn Phục in năm 1909, sau đó được đặt làm đề từ cho bản quốc ngữ Kiều in năm 1913, thì sẽ thấy ngay trạng thái đồng vọng của tuyên ngôn Phạm Thượng Chi, từ câu nói của Tân Nam Tử về vị trí của Truyện Kiều trong lịch sử văn chương nước nhà.

Nguyễn Văn Vĩnh không hề xuất hiện trong bất kỳ kịch mục nào của Chương trình kỷ niệm, nhưng Trần Trọng Kim, một trong hai người diễn thuyết trọng yếu của buổi lễ, chính là người đã từng cùng Nguyễn Văn Vĩnh dự lễ đấu xảo Marseille 1906, và sau đó thành cộng sự thân thiết của Nguyễn Văn Vĩnh thời kỳ Đông Dương tạp chí (1913-1917) và ‘Học báo’sau đó. Và nữa, sau lễ kỷ niệm chỉ một năm, năm 1925, Trần Trọng Kim cùng Bùi Kỷ – cũng là cộng sự của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đông Dương tạp chí – đã cho xuất bản Truyện Thúy Kiều: Đoạn trường tân thanh tại Vĩnh Long thư quán, Hà Nội[5] – bản hiệu khảo quốc ngữ mà sau đó Nguyễn Văn Vĩnh đã sử dụng để làm lại một bản tiếng Pháp khác, như đã nói ở trên.

Bùi Kỷ cũng là người đứng soạn bài văn bia để Hội Khai trí tiến đức khắc in vào lập Bia tưởng niệm Nguyễn Du vào năm 1930, trong đó có lời giải thích lý do tôn vinh Nguyễn Du là “một người đã gây-dựng cho quốc-âm ta thành văn-chương”.

Cũng ngay trong năm 1924, độc giả còn được đọc Truyện Cụ Nguyễn Du – Tác giả Truyện Thúy Kiều của Phan Sĩ Bàng và Lê Thước in tại Hà Nội, với lời tựa nhấn mạnh giá trị tiếng Việt “tiếng Việt Nam là tiếng của cha ông, văn Việt Nam là tinh thần của tổ quốc” [1, tr.24].

Và nếu lại làm một phép đối sánh nữa, đặt nỗi ngậm ngùi “mười người ngâm không được lấy một người hiểu” của Nguyễn Văn Vĩnh, khiến ông bỏ công đem Kim-Vân-Kiều “dịch ra quốc ngữ có chú dẫn các điển tích” vào những năm 1910, bên cạnh niềm hân hoan của Phạm Quỳnh khi giải thích về lý do tổ chức một lễ kỷ niệm long trọng vào năm 1924: “Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều” (“Bài diễn thuyết bằng quốc văn đọc trong lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền”) [19, số 86, 9/1924, tr.91], chúng ta sẽ lại thấy ra một thực tế: sau hơn một thập niên, Truyện Kiều trong một hình hài mới vẫn tiếp tục là quốc hồn quốc túy, và đạt đến giá trị phổ cập lớn hơn nữa.

Những chi tiết này khiến ta không thể không nghĩ đến một sự cộng hưởng trong nhóm trí thức về vấn đề quốc văn và xu hướng giao lưu Âu-Á những năm 1920-1930, trong đó nổi trội là tính dân tộc, với một “vật môi giới” là Truyện Kiều mà người có vai trò khởi động chính là Nguyễn Văn Vĩnh.

Hết phần thứ hai.

Phần 1:


[1] Xin xem bản dịch toàn bộ bài báo được in trong cùng số tạp chí này.

[2] Như trên.

[3] Bản gốc tiếng Pháp, mang ký hiệu RSTNF 05219 của Phủ Khâm sai Bắc Kỳ, và bản dịch của Nguyễn Kỳ. Tài liệu chưa công bố chính thức. Từ đây xin chú dẫn nguồn bằng tên người viết báo cáo, É. Vayrac.

[4]Việc chính thống hóa Truyện Kiều qua hệ thống sách giáo khoa được ghi dấu vào năm 1941, khi Nguyễn Du và Truyện Kiều có mặt trong bộ sách giáo khoa quốc ngữ chính thống đầu tiên là Việt Nam văn học sử yếuvà bộ văn liệu đi kèm Việt Nam thi văn hợp tuyển do Dương Quảng Hàm (1898-1946) biên soạn.

[5] Sách được in lại lần hai và ba vẫn tại nhà in này vào các năm 1927, 1934.

Hội Khai trí tiến đức

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network