CON MẮT KẺ NGOẠI ĐẠO – Phần Hai

Khai mạc

Phần 1: Xem ở đây

Buổi Hội thảo được tiến hành 100% như chương trình đã xếp đặt.

Đúng giờ, đúng thủ tục. Đặc biệt, số người tham dự đông gần kín gian phòng gần 200 chỗ ngồi của khách sạn HILTON nằm trên đường Bạch Đằng.

Quầy sách tại sảnh buổi hội thảo

Tôi tìm vị trí ngồi thuận lợi để vừa quan sát, vừa chụp ảnh.

Hầu hết những gương mặt cả trên đoàn chủ tịch, cả khách mời, đối với tôi hầu hết đều mới được gặp lần đầu. Đó là lý do mà tôi phải chú ý quan sát và lắng nghe. Việc này giúp tôi phán đoán được ít nhiều về tư chất, sự gắn kết giữa những điều mà họ đề cập trong nội dung phát biểu và đề tài họ trình bày. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để tôi học thêm nhiều điều mà cuộc sống không dễ có cơ hội.

Tôi ấn tượng với cách điều hành hội thảo. Tôi chú ý đến chất giọng, tác phong, và nội dung phát ngôn của những người chủ đạo trong công tác điều phối. Mặt khác, chất giọng người Quảng Nam cũng đòi hỏi tôi phải tập trung lắng nghe hơn. Chi tiết này tôi được bố mình lưu ý từ lúc còn nhỏ.

Giờ khai mạc hội thảo

Tôi cũng ấn tượng với cách chia ban của hội thảo, tuy không phải là thật sự hữu hiệu, song dù sao cũng là giải pháp cho việc đáp ứng nhiệt huyết của các cá nhân trân trọng, yêu quý chữ viết tiếng Việt, muốn bày tỏ nhận thức của mình, nên họ đã cất công từ mọi miền đất về tham dự.

Diễn biến buổi Sáng

Trong một giờ đầu của hội thảo, tôi rất hồi hộp. Không phải mong ngóng điều gì kỳ thú, mà tôi muốn biết: Buổi khai mạc có diễn ra suôn sẻ không?! Tâm lý tôi căng thẳng như vậy vì những diễn biến gay gắt trên truyền thông xảy ra trong hai tuần lễ trước hội thảo ở mức có thể gọi là ‘cuồng’. Thậm chí, tôi còn dự phòng tình huống, coi như mình đi ‘chơi’ Đà Nẵng vậy, vì cũng đã hai năm rồi mới quay lại nơi này.

Sau phát biểu khai mạc của ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng, và báo cáo đề dẫn hội thảo của ông Trần Đức Anh Sơn, là các bài tham luận của các diễn giả thuộc Ban Một.

Ơn Trời, thật hay khi các phát biểu của các diễn giả có tham luận được trình bày như lịch trình. Không khí mỗi lúc một hòa quện hơn với nội dung của hội thảo. Cá biệt cũng có trường hợp được trình bày với thời gian dài hơn so với quy định, đặc biệt là đối với các vị khách người nước ngoài.

Cuối giờ buổi sáng, khoảng thời gian dành để các vị khách tham gia đặt câu hỏi cho các diễn giả có tham luận.

Tôi cảm nhận ngay sự khác biệt của buổi hội thảo này so với những lần dự tọa đàm, seminar về các vấn đề khoa học xã hội mà tôi từng được tham dự, đó là sự ngắn gọn, rõ ràng và dứt khoát của các cá nhân xuất hiện cả dưới và trên diễn đàn. Sự hào hứng đặt vấn đề của các cử tọa càng đẩy không khí tăng thêm phần sôi nổi.

Lúc này, Chủ tọa không phải chờ đợi xem ai có ý kiến… để xin mời! Những vị khách  muốn được nêu câu hỏi, nhiều người đã không dấu được tâm thế của những kẻ nóng ruột, háo hức và muốn được trình bày. Điều này chứng minh sự ăn nhập giữa cái thần của nội dung hội thảo và thành phần khách tham dự.

Trong các câu hỏi của các cử tọa, lác đác xuất hiện hàm ý bộc lộ sự nghi ngại với chủ đề của hội thảo, vì sao chữ Quốc ngữ mới được 100 năm…? Việc BTC đặt tiêu đề này làm chủ đạo, liệu có đúng với bản chất lịch sử?

Thực tế này xem ra cũng dễ hiểu bởi lẽ, thông thường, bản năng con người, khi cái gì đó đập vào con mắt, là một việc khác với chuyện tư duy và hiểu về cái mà người ta quan sát thấy, nhất là những chủ đề chứa đựng nhiều dữ kiện của quá khứ.

Không khí ngày càng trở nên cuốn hút, tôi như được khích lệ, và mạnh dạn đứng dậy sau khi được Chủ tọa đồng ý. Tôi xin đặt câu hỏi: ‘Vì sao lại là 100 năm chữ Quốc ngữ ở VN?’.

Tôi nhấn mạnh: “Câu hỏi này không phải chỉ dành cho BTC, không phải cho các diễn giả vừa trình bày tham luận trước diễn đàn, mà câu hỏi này xin được dành cho tất cả chúng ta, những người đang có mặt trong khán phòng này!”.

Cả khán phòng ồ lên… Mà tôi cũng không dám chắc, rằng phản ứng đó của các cử tọa là tán thưởng hay vì thấy ngộ nghĩnh, là lạ. Nhưng bản năng mách bảo tôi, rằng họ có thể ngạc nhiên, song muốn nghe, xem từ đâu, vì sao lại thúc đẩy việc xuất hiện một bộ mặt tự tin như vị khách này, và như vậy có thái quá không?

Tôi liều lĩnh nói tiếp:

“Tôi xin phép các quý vị và các bạn được trả lời luôn chính câu hỏi mình đặt ra”.

Không khí trong khán phòng lại rộ lên hào hứng hơn, với nhiều gương mặt không dấu được sự mong đợi ở trạng thái tò mò.

Tôi xin máy chiếu đưa lên màn hình chiếc ghế tràng kỷ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người đã dâng hiến trọn đời cho con chữ tiếng Việt (Điều này không phải tất cả các khách tham dự đều biết).

Nguyễn Lân Bình chứng minh vì sao chủ đề của hội thảo được xác định là 100 năm.

Tôi khẳng định, đôi ghế là minh chứng cho đích đến tối thượng trong cuộc đời và sự nghiệp xã hội hóa chữ viết tiếng Việt dùng ký tự Latin của Nguyễn Văn Vĩnh, sau 250 năm thứ chữ đó xuất hiện ở Việt Nam. Vật chứng này thể hiện sự mãn nguyện tuyệt đối khi Nguyễn Văn Vĩnh và đồng bào của ông, chứng kiến việc ban hành quyết định của Triều đình Huế năm 1919, chính thức bãi bỏ việc thi Hội và thi Đình, khoa thi đặc trưng của nền giáo dục khoa cử bằng Hán học. Đây là hai hình thức thi quan trọng bậc nhất của nền giáo dục khoa cử, nền giáo dục nhắm đến mục đích duy nhất là tạo ra những ông quan, đó là thi Hội và thi Đình, mà nó đã tồn tại ở Việt Nam gần cả ngàn năm.

Từ năm 1912, Nguyễn Văn Vĩnh đã ao ước sau buổi gặp trực tiếp Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục, người đại diện không phải chỉ cho Triều đình Phong kiến VN, mà ông còn là biểu tượng của nền giáo dục Nho giáo, để đối thoại, chứng minh sự tiện lợi và cần thiết giúp người dân nước Nam học và sử dụng thứ chữ viết dùng chữ cái Latin, tiến đến việc thay thế chữ Nho. Và để ngài Thượng thư có cơ sở xem xét kiến nghị của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã trao tặng ngài cuốn sách ‘Cách học chữ Quốc ngữ’…

Nguyễn Văn Vĩnh đã ngất ngây khi nhận được thông báo của chính quyền đương thời, rằng ngày 22 tháng 6 năm 1913, tại Quốc học Huế, ngôi trường lớn nhất VN, Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục, đã trịnh trọng đọc bài diễn văn dài được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ tại buổi vinh danh các sĩ tử của khóa thi năm đó.

Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục khi còn là Tổng đốc Nam Định

Nguyễn Văn Vĩnh đã từng không dám tin rằng, năm 1915, Triều đình bãi bỏ việc thi Hương, cơ sở để đi đến quyết định quan trọng năm 1919, vì những diễn biến này gắn liền với cuộc vận động thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, và người có ảnh hưởng vô cùng quan trọng, chính là ngài Thượng thư Bộ Học.

Quyết định lịch sử này, đã chấm dứt hoàn toàn nền giáo dục Nho học ở VN, tạo cơ sở vững vàng cho nền giáo dục hiện đại, và mặc nhiên, thứ chữ viết bằng ký tự Latin mà hôm nay được gọi là Quốc ngữ, trở thành chính thức trong nền giáo dục Việt Nam.

Các quyết định về việc sử dụng chữ Quốc ngữ của các chế độ chính trị sau đó, chỉ là việc làm mang tính danh chính về hành chính, khi thứ chữ viết này đã trở thành máu thịt của một dân tộc, một thực tế không thể đảo ngược.

Và đây là lý do đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh đến sự mãn nguyện, khi lý tưởng truyền bá và sử dụng chữ Quốc ngữ của ông thành hiện thực.

Tôi kết thúc 4 phút phát biểu của mình, bằng việc giới thiệu chữ ký của Nguyễn Văn Vĩnh được khảm trai cùng dòng chữ Dec.1919 trên chiếc tràng kỷ được chiếu trên màn hình.

Cả hội trường vỗ tay, nhiều tiếng suýt xoa, chậc lưỡi trước sự việc lần tiên được chứng kiến nội dung này. Giây phút hạnh phúc thật sự đến với tôi, khi tôi trở lại chỗ ngồi và có những vị khách đến bắt tay, cảm ơn điều tôi vừa trình bày, vì lần đầu tiên được biết…!

Giờ nghỉ ăn trưa, tôi cũng đã nhận được nhiều tín hiệu thân thiện của một số các vị khách tham dự hội thảo.

Ông Lân Bình chụp với cô Anna, nhà nghiên cứu văn hóa người Hàn Quốc tham gia hội thảo

Diễn biến buổi chiều

Thật tốt vì giờ giấc của buổi hội thảo được duy trì đúng như lịch trình được ấn định, hầu như không có sự lê thê nào được chấp nhận, kể cả khung giờ dành cho buổi ăn trưa.

Các bài tham luận được trình bày gọn, cụ thể. Vô tình, tham luận của tôi được vào đầu bằng vai trò của Trương Vĩnh Ký, và tôi lại là người tiếp nối diễn giả Trần Hữu Phúc Tiến đến từ TP.HCM, là người có chuyên đề nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký.

Ngạc nhiên nữa, phần cuối, đoạn kết thúc bài tham luận của tôi là quan điểm của của Phan Bội Châu về Nguyễn Văn Vĩnh (chi tiết này không có trong bài tham luận), thì tiếp theo tôi là anh Nguyễn Đình Khánh đến từ đại học Trung Sơn, Trung Quốc, là người có tham luận về Phan Bội Châu và chữ Quốc ngữ…

Những diễn biến vô tình này, đã làm ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội KH Lịch sử Đà Nẵng (người điều hành hội thảo buổi chiều) không kìm được sự thích thú, thốt lên rằng:

“Ủa, vậy ra tôi thật có duyên với công việc này… Tôi không ngờ các bài tham luận lại tiếp nối nhau như sự sâu chuỗi các sự kiện và nhân vật một cách hấp dẫn như vậy…?”.

Các diễn giả trả lời chất vấn

Không khí làm việc trả lời chất vấn diễn ra thật nhộn nhịp. Đôi ba nội dung trong các câu hỏi của các cử tọa, đã đề cập đến việc nhận thức và đánh giá thế nào cho công bằng đối với các bậc tiền nhân….

Ông Thân Hà Nhất Thống, Chủ tịch quỹ Tao Đàn Thư Quán đề nghị:

“Tất nhiên, chủ đề chính của hội thảo, là nêu bật những giá trị của chữ Quốc ngữ ở VN trong suốt 100 năm qua, song, để tạo ra được giá trị của nó, chữ Quốc ngữ đã đi qua một chặng đường rất dài, từ những giáo sĩ phương Tây có mặt ở VN đầu và giữa thế kỷ 17, đến các nhân sĩ yêu nước người Việt cuối thế kỷ 19 ở Nam kỳ, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, rồi đầu thế kỷ 20 như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố… Những nhân tố không thể tách rời với giá trị của thứ chữ viết này.

Đặc biệt, kể cả sự kiện gần đây, HĐND TP Đà Nẵng dự kiến đặt tên hai con đường mang tên của hai giáo sĩ phương Tây, đã trở thành một cuộc tranh cãi khá nặng nề trong xã hội….

Vì vậy, tôi nhận thấy, nếu các quý vị và các bạn có đề cập đến những diễn biến đó trong buổi hội thảo hôm nay, cũng không phải là điều gì quá đáng, hay vượt ra ngoài khuôn khổ của hội thảo.

Chúng ta có quyền bộc lộ những suy nghĩ của mình, điều mà sẽ giúp cho nội dung của buổi hội thảo trở nên ý nghĩa và phong phú hơn, đồng thời cũng là dịp để chúng ta có được những góc nhìn đa chiều, trước những vấn đề xã hội cập nhật”.

Ý kiến của ông Thân Hà Nhất Thống vừa dứt, hàng loạt các cánh tay giơ lên xin phát biểu, bầu không khí trong khán phòng tăng lên một cách náo nhiệt. Tự nhiên và có lẽ sự bộc trực một cách hả hê nhất, đó là ý kiến của ông Huỳnh Văn Hùng (Giám đốc Sở VHTTDL TP Đà Nẵng) tham góp vào việc, hiểu sao cho công bằng cái lý do TP Đà Nẵng muốn đặt tên đường của hai vị giáo sĩ phương Tây.

Các khách tham dự hội thảo tỏ ra thích thú với những điều ông Hùng đề cập, vì đó là vấn đề ‘nóng’ mà mới gần đây, ở cái thành phố người ta đã gắn cho cái nhãn hiệu ‘đáng sống’ này, nó càng có lý do nóng hơn thì phải?

Ông Hùng khẳng định, việc tiếp tục kiến nghị các cấp có thẩm quyền chấp nhận đặt tên đường Francisco de Pina và Alexander de Rhoth là nhiệm vụ của chúng ta!

Tôi nói nhỏ với anh Hoàng Đức Bảo, người điều hành hội thảo:

“Các anh có lý khi quyết định tổ chức buổi hội thảo này tại đây, hình như nhờ cái hồn của mảnh đất xứ Quảng, tính cách của con người xứ Quảng đúng như cụ Huỳnh Thúc Kháng từng viết:“Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”.

Anh Bảo tán thành nhận định của tôi bằng một thái độ hân hoan. Anh khẳng định: “Anh ơi, dân Quảng Nam mà, nói là làm anh ạ!”.

Ông Lân Bình và nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng.

Bế mạc

Ngày làm việc kết thúc vào lúc chiều muộn, trước mặt chúng tôi là dòng sông Hàn lịch sử đang cuồn cuộn chảy, càng làm cho lòng dạ mỗi người dâng trào như những con sóng nhờ cái tinh thần của hội thảo.

Tôi bất giác nhớ đến cái kỷ niệm mênh mang, khi lần đầu tiên, theo đoàn quân ‘cuốn chiếu’, được đặt chân đến đỉnh đèo Hải Vân sáng sớm ngày 31/3/1975, tôi đã lặng người trước toàn cảnh mây trời, biển xanh và cái thành phố được thiên nhiên ôm ấp này. Tôi không nghĩ, đến một ngày, tôi lại được sống trong lòng người Đà Nẵng, được chứng kiến cái cuồn cuộn của sóng nước sông Hàn…

Mọi người chia tay về nơi nghỉ, nhưng tối hôm đó, mới thật sự đã diễn ra những hội thảo ‘lẻ’, khi các nhóm khách tụ tập ăn tối. Nội dung các hội thảo ‘con’ đó mới thú vị làm sao vì phát biểu mà không lo hết giờ, không lo làm mếch lòng ai đó vì có chính kiến khác mình… Mà nếu có gợn lên điều gì…. thì nâng cốc… xin lỗi.

Cái hồn của hội thảo nó cứ đeo đẳng chúng tôi vào đến cả giấc ngủ, nhưng chưa có ai dám vui mừng thật lòng, cho dù tận mắt chứng kiến những diễn biến có thật của các buổi thảo luận đầy khí chất, và chứa đựng cơ man nào là kiến thức nhờ tinh thần trân trọng văn hóa lịch sử, mà phải đợi đến trưa ngày hôm sau, khi cả đoàn có mặt ở Hội An. Vào lúc đang chuẩn bị đến địa điểm ăn trưa, có một người chạy tới, cầm 3 tờ báo Thanh Niên, Lao Động và Tuổi Trẻ hét to: “Các vị này, các anh các chị ơi, các báo đều bình luận và đưa tin này”. Tất cả chúng tôi ào ra đòi nhìn tận mắt, xem các bài có ảnh không? Trong ảnh có mình không, và họ viết có dài không, có thuận không?

Chưa kịp ‘tiêu hóa’ cái tâm trạng của sự mừng vui do được biết, truyền thông xã hội đã chứng minh tính hữu lý của buổi hội thảo bằng các bài báo nóng hổi, thì bỗng lại có một người nữa, hét toáng lên sau khi nghe điện thoại, rằng ở nhà xem truyền hình báo Nhân dân sáng nay, họ phát và bình luận buổi hội thảo đấy….

Lập tức nhiều người mở điện thoại để xem qua youtube và họ cũng ào lên, rằng đây đây, ông này ông này, cô kia cô kia….

Tôi đã lặng người trước việc được chứng kiến thái độ hân hoan và tưng bừng của mọi người, không khác gì những cô cậu học sinh phổ thông tan buổi thi, ra ngoài so bài làm với đáp án… và thấy mình làm đúng.

Tôi ngẫm nghĩ, ở các buổi hội thảo do hệ thống chính trị hoặc các ban ngành chuyên môn tổ chức, khó khi nào có được cái sự mãn nguyện của những người tham gia hội thảo như ở trường hợp này. Vậy lý do gì…?!

Hóa ra, con người ta có thể ở rất xa, tuổi rất già, chi phí tốn kém, nhưng vì tình yêu với quê hương, với cội nguồn trong đó có cái tiếng nói và chữ viết mẹ đẻ, người ta vẫn sẽ tìm về, hưởng ứng, tụng ca điều mà họ trân trọng, yêu quý.

Hãy tin vào những giá trị thật của đời sống tinh thần văn hóa của người Việt, vì nếu nó không thật, nó đã không thuyết phục được các cơ quan truyền thông của xã hội để tâm. Nếu nó không thật, nó đã không thu phục được lòng người!

Tôi tìm đến bắt tay những người trong BTC và chúc mừng họ bằng một thái độ trân trọng, cảm phục.

Còn tôi, tôi nhận thấy bõ công mình đã có mặt trong một hoạt động văn hóa xã hội mà lúc đầu, tôi không dám tin nó sẽ đem tới sự thành công.

Tôi thấm thía, hài lòng và bất chấp việc đã có người hỏi tôi sau khi trở về với hàm ý chẳng lành mạnh gì…. Thế cuối cùng, hội thảo có quyết được cái gì không?

Văn hóa, khỏi cần quyết định hành chính, vì Nguyễn Văn Vĩnh khi dấn thân vào cuộc khai dân trí và đi đến thành công, ông đâu có cần quyết định của Phủ Toàn quyền, hay Nhà Vua của một Vương Triều, hay thông tư này, nghị định nọ…!

Hà Nội Tháng Giêng năm 2020.  

NGUYỄN LÂN BÌNH

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network