CON MẮT KẺ NGOẠI ĐẠO – Phần Một

(Nhìn lại hội thảo khoa học “100 năm chữ Quốc ngữ ở Việt Nam“, diễn ra ngày 28 và 29 tháng 12 năm 2019 tại Đà Nẵng)

Năm 2018, tôi nhận được lời mời của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, đề nghị tham gia vào các hoạt động vinh danh chữ Quốc ngữ, và tham gia đoàn các nhân sĩ người Việt sang IRAN để đặt bia tưởng niệm tại phần mộ giáo sĩ Alexandre de Rhoder.

Ảnh chân dung giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Tôi thấy vinh dự vì nhìn về nguyên tắc, tôi không là ai trong làng nghiên cứu văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ… Tôi cho rằng, thông qua những gì tôi thể hiện trong hoạt động và giao lưu với xã hội về đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã có được sự quan tâm của vị giáo sư này và nhóm các nhân sĩ, các nhà nghiên cứu xã hội học khác ở trong và ngoài nước. Mặt khác, đó là sự liên quan giữa tôi và học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người mà tôi được may mắn gọi là ông nội.

Tôi đã viết thư phúc đáp và cảm ơn lời mời của vị giáo sư, tôi trình bày rõ không dấu giếm, rằng tôi chưa đủ hiểu biết và ý thức về đề tài mà giáo sư hướng đến.

Mặt khác, lúc đó, tôi ngờ vực đích đến của ông trong bối cảnh tư duy chính trị ở một xã hội chuyên quyền và toàn trị. Hơn nữa, mong muốn của vị giáo sư này là thống nhất được với chính quyền của cả hai quốc gia, đưa phần mộ của cha Alexandre de Rhoder về Việt Nam, nhằm chứng minh lòng biết ơn của người dân bản địa, trước một người đã từng tham gia tạo dựng thứ chữ quý báu cho người Việt, chữ Quốc ngữ.

Xong, lúc đó, tôi cũng ‘ngửi’ thấy mùi của sự tranh cãi giữa một số ‘nhà khoa học’ đứng trong hàng ngũ quyền lực, phía còn lại là các gương mặt khác không nằm trong cùng hệ thống tư tưởng, khi họ so đo, rằng Quảng Nam, hay Bình Định, hay Phú Yên mới là nơi nguồn cội của chữ Quốc ngữ?! Các nhà truyền giáo đã đặt chân đến vùng đất nào trước? Vùng đất đó hiện có gương mặt nào có ảnh hưởng mạnh trong quan hệ với xã hội, với bộ máy cầm quyền hiện tại….?

Sự ngấm ngầm giằng co trong câu chuyện này, đã bộc lộ sự mâu thuẫn trong chính họ trước quan điểm về Phật giáo và Công giáo ở Việt Nam. Đồng thời, chính điều này đã phủ nhận luôn về cái mà họ thường rêu rao rằng… ‘uống nước nhớ nguồn’.

Mặt khác, do điều kiện cá nhân, nên tôi đã xin lỗi giáo sư về việc không thể tham gia chuyến hành hương đi IRAN.

Ảnh giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (người mặc bộ quần áo trắng) cùng các thành viên trong đoàn từ Việt Nam sang IRAN dựng bia tri ân tại phần mộ giáo sĩ Alexandre de Rhoth năm 2018

Quan điểm của tôi, việc vinh danh, hoặc ghi công các nhà truyền giáo phương Tây hoàn thành giai đoạn ghi âm giọng nói của người Việt trên nền tảng dùng chữ cái Latin ở thế kỷ 17, là mối nhân duyên được định hình của lịch sử.

Người đời nay cần nhớ, rằng thế giới nhân loại lúc đó khác rất xa với hôm nay, đặc biệt là sự ấu trĩ và hồng hoang trong tư duy, tồn tại ở các cộng đồng dân cư khác nhau rất lớn, tùy thuộc vào sự phân bố địa lý của trái đất mà ngày nay người ta gọi là địa chính trị.

Với thực tế đó, Giáo hội Công giáo ở giai đoạn lịch sử đó đã đặt ra những đòi hỏi mang tính tiên quyết đối với các giáo sỹ được phái đi truyền đạo, mở rộng ảnh hưởng tôn giáo, là phải học được tiếng nói người bản xứ bằng mọi giá, vì đó là công cụ thứ nhất trong việc thu phục người dân bản địa tin theo mình, theo giáo lý của loại tôn giáo mà họ truyền bá.

Trong muôn vàn lý do phát sinh những diễn biến quan trọng của đời người, hay của lịch sử, hay của một nhà nước, không thể thiếu những yếu tố ngẫu nhiên, may mắn mà trong thực tế khẳng định, rằng thằng người, dù có tài trí và kiên cường đến mấy, nhưng nếu vì thiếu may mắn… mọi sự có thể vẫn sẽ trở thành bằng không. Việc dân tộc Việt có con chữ viết riêng ngày hôm nay, là cái duyên lịch sử.

Sau sự kiện các giáo sĩ phương Tây người Bồ Đào Nha, người Avignon, người Italia ….(cần khẳng định, họ không phải người Pháp) đặt được nền móng cho chữ viết tiếng Việt dùng ký tự Latin ở thế kỷ 17, bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam ở thế kỷ 18 và 19 ngày càng bế tắc, nhất là về mặt tinh thần văn hóa. Đây là hậu quả của việc kéo dài chế độ cai trị của Chủ nghĩa phong kiến, một loại hình nhà nước cực kỳ lỗi thời, và lúc đó, đã được nhân loại loại bỏ dần ở nhiều quốc gia trên thế giới bằng các cuộc cách mạng mang tính điển hình.

Hơn 200 năm, sau khi sự có mặt của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Avignon… đến Việt Nam, để lại sự ra đời thứ chữ viết tiếng Việt bằng ký tự Latin, người Pháp Thực dân mới đặt chân đến Việt Nam (1858). Sự có mặt của họ, làm tăng thêm tính phức tạp trong đời sống tinh thần của người dân bản địa, đồng thời đã hình thành trong ý thức của một số nhân sĩ người Việt những tư duy so sánh giữa cái cũ (phong kiến) và cái mới (phương Tây), giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ, giữa cái khổ và cái sướng.

Chính sự va đập nhận thức này, đã tác động và là cơ hội để người dân Annam hướng đến một sự thoát thai văn hóa, hòng tìm đến những cái mới tiến bộ. Để thoát thai được khỏi cái cổ hủ, mông muội, thì việc dẫn dân tộc này đến con đường sử dụng loại chữ viết dùng ký tự Latin, mà hôm nay chúng ta đều đồng ý gọi là Quốc ngữ, là điều hiển nhiên. Vì đó là công cụ số một, làm thay đổi nhận thức con người nhờ việc đọc và học được những tiến bộ của nhân loại được in ra trên giấy.

Ảnh 3 nhân vật Huỳnh Tịnh Của, Petrus Ký và Nguyễn Văn Vĩnh

Hình ảnh một người con gái ở tuổi xuân thì đang đi về giai đoạn cuối của lứa tuổi, với việc có quá nhiều chàng trai ve vãn tìm cách chinh phục… Để không lỡ thì, cuộc sống đã đẩy cô ta đến việc phải lựa chọn dứt khoát một gương mặt, mà với hoàn cảnh của cô, sẽ là thích hợp và thuận lợi nhất…. Đó chính là bối cảnh mà người dân Annam đã trải qua, khi phải lựa chọn giữa các loại chữ viết đã tồn tại trong quá khứ như Hán, Nôm, rồi tiếng Pháp mới xuất hiện trong cuộc sống của họ.

Nhận thức như vậy, tôi xác định, vai trò của các nhân sĩ người Việt tham gia vào tiến trình xã hội hóa chữ viết dùng chữ cái Latin, rồi trở thành loại văn tự chính thức của một giống dân, nhất thiết phải là những con người xuất chúng, hiểu sâu sắc cái văn hóa, cái được và mất của dân tộc mình khi sử dụng một loại chữ viết mới. Khẳng định, nếu những nhân vật đó thiếu đi lòng yêu cái giống nòi này, cái quê hương này, chắc chắn cũng sẽ không hoàn thành được cái xứ mệnh lịch sử mà số phận trao cho họ.

Đây là một chủ đề cần được đặt lên danh chính trước xã hội hôm nay, hơn là việc tranh cãi, đi tìm vị giáo sĩ phương Tây nào là người đầu tiên đặt chân tới đâu, và ai sáng tạo ra loại chữ viết này?! Bởi vì, trong lưu trữ các ghi chép lịch sử của các thể chế chính trị, cũng như những quốc gia liên quan đến chủ trương gây ảnh hưởng, truyền bá tư tưởng và các lý thuyết khác nhau phục vụ mục đích thôn tính Việt Nam trong cả quá khứ và hiện tại, họ đều lưu giữ mọi tư liệu liên quan đến cái thực tế này, không thiếu.

Cái thiếu, là giới cầm quyền có thực sự muốn tìm đến hay không? Tìm đến rồi, có đủ lòng trung thực và dũng cảm đề nhìn nhận nó dưới con mắt khách quan hay không, để tạo dựng một cách hệ thống về lịch sử phát triển văn hóa ngôn ngữ của dân tộc, gạt bỏ những tranh cãi vừa vô nghĩa, vừa làm phân tâm dư luận dân chúng, đối tượng luôn lệ thuộc vào các luồng thông tin do quyền lực tạo ra.

Thực tế của sự ồn ào trên một số diễn đàn, trở thành cơ hội cho những người có tư tưởng háo danh, mang mầu sắc phát kiến, cộng với một chút thiên hướng cá nhân, tìm và thu thập dữ liệu, hòng đặt mình vào vị trí kẻ tiên phong, đòi xã hội trao cho mình những danh vị nổi bật, làm cơ sở cho sự thăng tiến và ghi danh.

Đây là đề tài mà hệ thống chính trị Việt Nam XHCN không thực sự muốn nhìn cho thấu đáo, tới tận chân tơ kẽ tóc do nguyên tắc tồn tại của họ là, lịch sử là do họ tạo nên, chứ không phải như nó có!

Để chứng minh với giáo sự Nguyễn Đăng Hưng quan điểm trên của tôi, tôi đã viết bài dài ‘100 năm trước, chấm dứt thi Hội và thi Đình, có một người Việt Nam mãn nguyện’  gửi tới giáo sư Hưng và đăng trên trang web Tannamtu.com ngày 3.2.2019. https://tannamtu.id.vn/?p=4073 .

Hình như, bài viết của tôi đã gây sự quan tâm đặc biệt không phải chỉ đối với giáo sư Nguyễn Đăng Hưng. Tôi nhận được không ít ý kiến của một số nhân sĩ, đã bày tỏ sự hài lòng vì tôi đã dám khẳng định một cách cụ thể, vai trò lịch sử của các nhân sĩ người Việt cách đây đúng 100 năm, đối với sự danh chính của thứ chữ viết tiếng Việt dùng ký tự Latin.

Năm 2019.

Thời gian trôi đi, tôi lại được mời đến dự buổi tiếp xúc và giới thiệu kết quả sau chuyến đi IRAN 2018 của nhóm các nhân sĩ trí thức, cụ thể là xem các cảnh quay video về buổi lễ đặt bia tri ân tại phần mộ của Alexandre de Rhoder ở Isfahan.

Ảnh mộ giáo sĩ A.de Rhoth

Qua lần tiếp xúc này, tôi nhận thức được khái quát hơn về nhân thân và danh phận giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, cùng với mục đích của ông trong việc động viên cuộc vận động vinh danh chữ Quốc ngữ. Mục đích này trùng với nội dung bản kiến nghị của cá nhân tôi, gửi Chính phủ Việt Nam và các Tổ chức Quốc tế năm 2011. Tôi bắt đầu thấy trân trọng, trước những cố gắng ấn tượng mà vị giáo sư này thể hiện, đặc biệt khi tôi biết, ông cũng là người ngoại đạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội.

Cũng tại buổi gặp gỡ ở Hà Nội này, giáo sư Nguyễn Đăng Hưng và các cộng sự đã giới thiệu tôi trước các vị khách có mặt. Tôi thấy hàm ơn khi một vị tiến sĩ là thành viên trong Ban Tổ chức, đã nhấn mạnh vai trò lịch sử trong văn hóa Việt Nam ở thế kỷ 20 của học giả Nguyễn Văn Vĩnh với sự nghiệp quảng bá và phát triển chữ Quốc ngữ, mà tôi là người đã sưu tập tư liệu chứng minh sự thật lịch sử này.

Cũng xin phải nói rõ, rằng chính những kết quả mà tôi đạt được từ đề tài dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, lại cũng chính là sự trở ngại trong nhận thức của một bộ phận xã hội về Nguyễn Văn Vĩnh, do xuất phát từ góc nhìn hẹp và tối với tư duy thiển cận, ích kỷ, rằng ‘tôi ca ngợi ông nội mình…’.

Tôi lên án cách suy nghĩ này của một số người, vì đây là cái cớ để bộ phận những lực lượng cực đoan, ngăn cản việc tiếp cận sâu với đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Còn vì sao như vậy? Đó là việc sẽ được cởi nút vào một ngày không xa.

Khi chia tay, giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nói với tôi bằng một thái độ chân thành, có phần thiết tha, rằng tôi nên thu xếp để tham dự buổi hội thảo sẽ tổ chức vào cuối tháng 12 tại Đà Nẵng. Tôi cảm giác, mình đã là cái gì đó trong tâm thức của vị giáo sư nói riêng, và của mọi người nói chung.

Tháng Mười, tôi nhận được thư riêng của giáo sư Hưng, nhắc lại ngắn gọn, rằng ông mong tôi có mặt tại hội thảo và viết một bài tham luận.

Tôi thật sự cảm kích sự lưu ý của vị giáo sư. Tôi quyết định đăng ký tham gia hội thảo và ngồi viết tham luận.

Hội thảo

Theo hướng dẫn của Ban Tổ chức (BTC) Hội thảo, tôi liên lạc qua thư điện tử với ông Trần Đức Anh Sơn và ông Bùi Văn Tiếng.

Tôi có thói quen, thường tìm hiểu khái quát nhân thân những nhân vật chính trong BTC, vì tôi muốn biết họ là những người như thế nào dưới con mắt người đời, từ đó tôi lựa chọn cách ứng xử phù hợp khi tiếp xúc. Nhờ thế giới truyền thông, thật dễ dàng để tôi được biết, họ là những người được xã hội nhìn nhận là bản lĩnh, giỏi chuyên môn, trải qua nhiều va đập với cuộc sống, và nghe nói, họ khá thẳng thắn!

Bài tham luận tôi gửi BTC dài 19 trang. Sau khi có ý kiến của họ, tôi rút xuống còn 13 trang. Nội dung chính của tham luận là chứng minh Nguyễn Văn Vĩnh, con người mẫn cán, thông minh, trung thực, đã quyết chí đến mức nào trong việc dẫn dắt dân chúng cách sử dụng và nhận biết về giá trị của chữ Quốc ngữ, giai đoạn đầu thế kỷ 20 ở VN. Nguyễn Văn Vĩnh đã biết gây sức ép ra sao đối với Nhà Cầm quyền để tìm kiếm cơ hội và vị trí chủ soái cho thứ chữ này, nhưng cuối cùng, ông đã phải nhận những hành xử bất công như thế nào của lịch sử?!

Tôi viết thận trọng để nhóm người cực đoan không quy tôi thần thánh hóa ông nội mình, và đồng thời người nghe có dịp khám phá, hiểu tấm lòng Nguyễn Văn Vĩnh đối với chữ Quốc ngữ nó vô tận đến đâu.

BTC đã hiệu chỉnh chút ít về kỹ thuật văn bản, còn lại được giữ nguyên về nội dung và bố cục của tham luận. Bài tham luận chính thức được đưa vào kỷ yếu của Hội thảo. Tôi hơi tiếc vì khối lượng các vấn đề liên quan đến hội thảo quá lớn (nó lớn hơn cả sự tưởng tượng của những người chủ trương, cho dù những người chủ trương có năng lực thâm hậu), nên BTC đã không kịp đưa các bức ảnh là bằng chứng, in cùng nội dung bài tham luận của tôi trong kỷ yếu.

Toàn cảnh khán phòng trước giờ khai mạc hội thảo

Tôi có mặt tại Đà Nẵng đúng lịch trình. Khách sạn nơi tôi được bố trí, thoải mái cơ hội để tôi tiếp xúc với các khách mời của hội thảo. Đặc biệt, tôi được xếp ở cùng phòng với anh Nguyễn Đình Khánh, một nghiên cứu sinh tại trường Đại học Trung Sơn, Quảng Châu, Trung Quốc. Anh Khánh điềm đạm trong giao tiếp, và chịu khó đọc. Anh đọc bất cứ lúc nào rảnh.

Anh Khánh là người chuyên nghiên cứu về Phan Bội Châu, mà với tôi, Phan Bội Châu có nhiều duyên nợ với Nguyễn Văn Vĩnh. Anh Khánh đã thật sự ngạc nhiên khi tôi lưu ý về mối quan hệ của hai con người mang tính lịch sử này. Anh Khánh thú nhận, rằng không biết gì về khía cạnh này.

Ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, tôi đã đặt anh Khánh vào sự ngỡ ngàng khi tôi đọc cho anh nghe toàn bộ lời điếu của Phan Bội Châu, viết bằng cả tiếng Việt và tiếng Hán gửi  từ Huế đến đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ở Hà Nội.

Tôi cũng may mắn được làm quen với nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông đến từ Melbourne, Úc, một người cởi mở, vui vẻ, mà sau đó tôi mới biết, rằng sự ‘tưng bừng’ của anh là hệ quả của một thời gian dài anh từng sống kìm nén.

Hay như tiến sĩ Hoàng Văn Khẩn, đến từ Geneve, Thụy Sỹ, một người yêu và vô cùng hãnh diện khi nói đến chữ Quốc ngữ ở nơi đất khách. Anh Khẩn là người điều hành một ngôi trường mang tên Âu Lạc ở Geneve, nơi chuyên dạy tiếng Việt cho những người VN xa xứ.

Thú vị nữa, là việc được làm quen với anh Hoàng Đức Bảo, đại học Bách khoa Đà Nẵng, là thành viên BTC, mẫu người mà phải vào cuộc, mới biết sự tinh thông ‘ghê gớm’ của anh đã giúp cho hội thảo thành công đến mức nào.

Kết thúc hội thảo, ấn tượng nữa đối với tôi, là cuộc giao lưu ngắn với ông Trần Hữu Phúc Tiến đến từ TP. HCM, người chuyên nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, người mà mãi đến cuối quá trình hội thảo, mới đến gần tôi với chất giọng thân thiện, chân thành về sự liên quan giữa hai người chúng tôi. Hình như anh đọc thấy điều gì đó xa xa ở tôi đối với đề tài Trương Vĩnh Ký, do vào đầu tham luận của mình, tôi bắt đầu bằng sự nghiệp Trương Vĩnh Ký.

Ảnh bốn người từ phải sang trái: Nguyễn Lân Bình, Nguyễn Cung Thông (Úc), Hoàng Văn Khẩn (Thụy Sỹ) và Nguyễn Đình Khánh (Trung Quốc)

Mối lo

Như đã chia sẻ ở trên, đối với tôi, việc tham gia hội thảo 100 năm chữ Quốc ngữ tháng 12 năm 2019 tại Đà Nẵng, là một cuộc trắc nhiệm xã hội. Nhận thức như vậy, nên tôi buộc phải theo sát những diễn biến đa chiều về phản ứng xã hội từ mọi phía với hoạt động văn hóa không mới, nhưng khác lạ này.

Tôi nói khác lạ, vì hội thảo không nằm trong dòng chảy chỉ đạo của các cơ quan văn hóa tư tưởng, điều mà bao đời nay mọi người đều đã quen trong nhận thức. Khác lạ, là hội thảo được sự bảo trợ của một công ty văn hóa tư nhân có tên là Tao Đàn Thư Quán, và tổ chức ở một địa điểm dễ ấn tượng, với cách thức quy mô vừa khoa học, vừa sinh động mà thông thường cần một bộ máy hành chính khổng lồ để điều hành, chứ không phải chỉ có mấy người giàu năng lực chủ động thực hiện.

Tháng Mười 2019, chuyện thành phố Đà Nẵng thông báo dự kiến đặt tên đường mới mang tên F. de Pina và A. de Rhodes trở thành sự ồn ào… Mà theo tôi là vô lối.

Tôi nhìn nhận, bản chất vấn đề không nằm trong chuyện thích hợp hay không thích hợp việc đặt tên đường mang tên hai người giáo sĩ đó, mà nằm trong mâu thuẫn cá nhân chính trị, giữa nhóm người phản đối với nhóm người cổ vũ việc vinh danh chữ Quốc ngữ, vì nói đến chữ Quốc ngữ, người ta liên tưởng ngay đến hai vị giáo sĩ đó. Cuộc hội thảo do giáo sư Nguyễn Đăng Hưng và nhà nghiên cứu các vấn đề Biển Đông là Trần Đức Anh Sơn chủ trương mặc nhiên trở thành ‘đối tượng’.

Dù không phải kẻ chuyên này, chuyên kia… Nhưng tôi cũng nhận được không ít câu hỏi từ những người chung quanh, mà theo tôi họ thực sự băn khoăn và tỏ ra khó hiểu vì nhận thấy có nhiều tình tiết mang tính cuồng nộ. Họ khác nhau về nhãn quan xã hội, lứa tuổi,  trình độ nhận thức, học vấn trước sự kiện đặt tên đường ở Đà Nẵng. Tôi đã luôn trả lời bằng đúng những suy nghĩ như nêu ở trên trước những người quan tâm. Điều này đặt tôi vào tình thế phải luôn thận trọng.

Thận trọng vì chính tôi đã từng phải đối đầu với một nhân vật nhân danh là luật sư, là nhà báo mang tên Hoàng Phương, viết trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh (VNTPHCM) số 493 năm 2018, đã mỉa mai việc TP HCM đặt tên đường Nguyễn Văn Vĩnh năm 2000 là ‘tùy tiện…’.

Khi nhận thấy đó là sự mỉa mai, châm chọc, cùng thái độ thiếu văn hóa đó, tôi đã chứng minh nguồn gốc của việc đặt tên đường Nguyễn Văn Vĩnh bằng văn bản lấy ý kiến người dân của Hội đồng Nhân Dân TP.HCM, cùng lý do vì sao?!

Người mang cái tên Hoàng Phương đó, bị lương tâm cắn rứt, nên cũng dằn lòng phản hồi lại tôi bằng thư bưu điện, nhưng đã không ‘dám’ đề địa chỉ và các thông tin riêng của mình… ngoài việc tự nhận mình là Hoàng Phương, là vì sao?!

Người có tên Hoàng Phương và những người cùng ‘băng nhóm’ đâu có biết, hậu duệ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh đâu có thiết tha gì với việc đặt tên đường hay dựng tượng, hay vinh danh… Lịch sử xác nhận, Nguyễn Văn Vĩnh không bao giờ cầu danh, mà ông và hậu duệ của mình chỉ cần nói thật, nói đúng và nói hết…. Tôi nghĩ, người dân Đà Nẵng cũng chẳng đau đớn gì nếu tên hai vị giáo sĩ đó chưa được đặt tên đường, nhưng qua sự kiện này, dân chúng thấy rõ sự khập khiễng trong hệ thống chính trị, vì tại sao ở Sài Gòn đặt được…. mà Đà Nẵng thì không?!

Tôi đọc được các ý kiến tiêu cực từ một vài trang tin trên mạng xã hội, chì chiết, nhiếc móc không nhân nhượng mấy người là thành viên trong BTC Hội thảo ‘Chữ Quốc ngữ 100 năm ở Việt Nam’. Tôi hiểu rằng, họ đã dựa vào những nhận định tiêu cực về một hai thành viên BTC, nên họ đã giễu cợt luôn cả vai trò của chữ Quốc ngữ, thứ chữ mà chính họ đang dùng để đả phá hoạt động văn hóa xã hội của một dân tộc, một dân tộc có Quốc ngữ!

Đáng xấu hổ nữa, là bài viết ngày 21/12/2019 của Nguyễn Ngọc Quang, vẫn trên VNTPHCM số 576 và 577, với tiêu đề cực kỳ phản cảm, phản khoa học nếu không muốn nói là phản dân tộc‘Chữ Quốc ngữ và thảm họa văn hóa’. Đó, họ yêu nước đến mức gọi chữ viết mẹ đẻ là ‘thảm họa’…. Thì họ là ai?

Một người Việt Nam bình thường chắc sẽ không tin nổi một cơ quan văn hóa như tờ báo VNTPHCM, lại có thể dùng những câu chữ như vậy trong ấn phẩm của mình. Họ đã quá lộ liễu khi bộc lộ những mối thù cá nhân trên trang báo Nhà nước, danh chính ngôn thuận là cơ quan văn hóa của một thành phố lớn nhất ở Việt Nam.

Tôi nhận thấy có những nhóm người, thay vì xót xa cho nền văn hóa Việt Nam đang xuống cấp, họ vẫn tìm cách để hạ nhục bất kỳ đối tượng nào không cùng hệ tư duy như họ, mà ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phải ngán ngẩm than trên VnExpress ngày 12.1.2017 rằng, ‘Còn tồn tại thứ văn hóa thờ ơ trước các vấn đề xã hội’. Họ, những kẻ phản văn hóa được gì, khi đắm chìm vào con đường gây chia rẽ đồng loại, đi ngược với chủ trương hòa hợp dân tộc đó?!

Một góc cảnh đêm phía trước địa điểm diễn ra buổi hội thảo ngày hôm sau

Hết phần Một.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network