100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2), có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN – Phần cuối

Phần thứ ba (Phần cuối). Phần 2 Phần 1 ĐẮC Ý. Năm 1912, Nguyễn Văn Vĩnh gửi thỉnh cầu tới Triều đình Huế, xin được gặp trực tiếp quan đại thần Đông các đại học sĩ, ngài Thượng thư Bộ Học (Bộ Trưởng Giáo dục. B/t) Cao Xuân Dục (1843-1923), một người bảo thủ, muốn duy trì vai trò chữ Hán, không ủng hộ việc phát triển chữ Quốc ngữ. Tại buổi gặp vị Thượng thư Bộ Học, Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu những quan điểm của mình việc cần phổ cập chữ Quốc ngữ cho toàn dân, vì bản chất, tinh thần dân tộc, cùng với tính tiện lợi và dễ tiếp thu của loại chữ viết này. Đồng thời, Nguyễn Văn Vĩnh đã trân trọng kính dâng lên quan đại thần Cao Xuân Dục cuốn sách viết về cách học chữ Quốc ngữ. Ngày 22/6/1913 (thời vua Duy Tân – Nguyễn Phúc Vĩnh San), tại trường Quốc Tử Giám – Huế, đã tổ chức lễ tốt nghiệp cho các thí sinh trúng tuyển năm đó. Trong buổi lễ long trọng này, Đông Các đại học sĩ – Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục, đã đọc bài diễn văn dài, được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.

Chân dung Thượng thư Cao Xuân Dục (1843-1923)

Hạnh phúc ngập tràn ập đến với Nguyễn Văn Vĩnh khi ông nhận được tin này. Nguyễn Văn Vĩnh lập tức viết và cho đăng báo bài Quốc ngữ nguyên huânLe Triomphe du Quốc ngữ trên ĐDTC, trong đó có đoạn: “Ngày nay quan Học-bộ Thượng-thư ngài lại dùng ngay chữ quốc-ngữ mà diễn tại một tràng-học to nhất trong nước, thực chủ-nhân lấy làm hân-hạnh, khác nào như người đi giảng đạo mà đã mộ cho Chúa được một người sùng mới, cao sang quyền thế trong nước”. Nguyễn Văn Vĩnh nhận xét về nội dung của bài diễn văn là: “…vì là một bài văn hay, kỳ tích kỷ niệm cho lịch sử văn chương Quốc ngữ”. Những tiến bộ đạt được của hành trình quảng bá và phổ biến chữ Quốc ngữ, phát triển báo chí do Nguyễn Văn Vĩnh và các đồng chí của mình chính thức thực hiện tại phần phía Bắc Việt Nam mới được 10 năm (1906-1916), song kết quả ngày càng rõ rệt và mang không khí rầm rộ của một phong trào. Nguyễn Văn Vĩnh đã biết tận dụng triệt để hoàn cảnh và điều kiện cho phép của một Chủ bút, dựa vào lòng tin và lòng sùng ái do nể phục của ông chủ người Pháp François-Henri Schneider, người đứng chịu trách nhiệm pháp lý và tài chính (giai đoạn 1907 đến 1919), đồng thời Schneider cũng là người nhìn thấu đáo năng lực dồi dào của ông. Khi từ biệt Việt Nam (1922), Schneider đã thể hiện bằng sự biết ơn to lớn với Nguyễn Văn Vĩnh, và trao lại rất nhiều cơ sở vật chất của mình với mức giá tượng trưng, giúp Nguyễn Văn Vĩnh đi tiếp con đường sự nghiệp. Đến lúc này, Chính quyền đương thời, bằng nhiều quỷ kế, đã ngăn cản và giành lại không ít khối lượng tài sản của Schneider do ngày càng thấy rõ việc Nguyễn Văn Vĩnh không chấp nhận làm cộng sự trung thành với Chính phủ Bảo hộ, khác hoàn toàn sự tưởng tượng và suy diễn của dư luận xã hội đương thời. Nguyễn Văn Vĩnh đã cảm nhận được xã hội đang khát khao đổi mới, ông đã đẩy nhanh cuộc cách mạng chữ viết một cách rộng khắp và quyết liệt. Nhận thấy thời cơ để vươn xa, để phát triển con chữ “Chữ đâu mà hay thay! mà dễ đọc thay!”… (lời tựa Tam Quốc Chí  Diễn Nghĩa 1909) và biến nó thành sự bùng nổ. Năm 1915, ông cho ra đời tờ báo quan trọng đặc biệt in bằng Quốc ngữ, dấu ấn trong lịch sử phát triển nền văn hóa chữ Quốc ngữ, nhất là hai năm sau đó, khi tờ báo này trở thành tờ nhật báo đầu tiên ở Việt Nam, đó là tờ Trung Bắc Tân Văn (TBTV). TBTV với nội dung phong phú, mới lạ, gồm các thể loại văn hóa như thơ mới, truyện ngắn, bình luận văn học, khoa học thường thức, kỹ nghệ thực hành, kể cả một số bài viết chính trị theo sự áp đặt của Nhà Cầm quyền… Nhưng những nội dung này thực sự có ý nghĩa do được viết bằng văn chương Quốc ngữ, và công chúng chưa bao giờ được thấy, được biết. Điều này kích thích việc thi thố tài năng của xã hội trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, tuy là mới manh nha vào giai đoạn đầu ở phần phía Bắc Việt Nam, mở ra một môi trường ngôn ngữ văn hóa mới, đẩy chữ Hán, Pháp và Nôm sang một phía.

Tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam ‘Trung Bắc Tân Văn’. 

ĐDTC, Trung Bắc Tân Văn ra đời, đã lôi cuốn các nhân sĩ người Việt ở mọi miền đất nước, những người say mê văn học, ngôn ngữ, xuất bản và công nghệ truyền thông. Họ đã coi những tờ báo này là những mảnh ruộng đầu tiên ‘canh tác’ thí nhiệm, cơ hội để một bộ phận nhân sĩ có thiên hướng nghề nghiệp, tiếp cận với những kiến thức căn bản về làm báo, viết báo, phát hành báo…. Tạo sự lan tỏa, lớn mạnh và cuốn hút của thứ chữ dễ học là Quốc ngữ. Năm 1917, xét về mặt quy luật phát triển tự nhiên như một bào thai đủ năm, đủ tháng, phong trào báo chí Quốc ngữ đã đến thời điểm sinh sôi nảy nở. Thực tế này trùng hợp với ý đồ chính trị của Nhà Cầm quyền khi chính sách cai trị bị khủng hoảng, một phần, do họ đã không thể cưỡng bức được người dân bản xứ sử dụng tiếng Pháp, và họ bế tắc trong việc tìm cách loại bỏ vai trò của chữ Nho, thứ chữ chi phối nền giáo dục An Nam. Làng báo Việt Nam vui mừng khi ấn phẩm danh tiếng – Nam Phong Tạp Chí ở Bắc kỳ ra đời. Tờ báo dưới sự cầm cân của một người giàu năng lực văn hóa, một người đồng nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh (kém nhau 8 tuổi), một trong những thành viên đầu tiên của ĐDTC, đó là nhà báo Phạm Quỳnh (1890-1945). Tại Nam kỳ, tuy không có sự nở rộ về việc cổ súy cho chữ Quốc ngữ, nhưng đã xuất hiện tờ báo uy tín bằng chữ Quốc ngữ ở Sài Gòn, tờ Nữ Giới Chung do Sương Nguyệt Anh (Nguyễn Thị Khuê 1864-1921 – Con gái Nguyễn Đình Chiểu 1822-1888) làm Chủ bút. Người Chủ bút này đã khẳng định tôn chỉ hàng đầu của tờ báo là “Chú trọng phát triển chữ quốc ngữ….”. Có thể nói, đến những năm 1917, 1918, vai trò xã hội của Nguyễn Văn Vĩnh đã trở nên có ảnh hưởng đậm nét do sự hoạt động tích cực, thường niên về văn hóa với tầng lớp các nhân sĩ uyên bác về tri thức, uy tín về xã hội, cụ thể là Phan Châu Trinh. Cách nhìn này được định hình dưới con mắt chính trị của Chính phủ Thuộc địa đã đành, nhưng cũng đã trở nên ám ảnh đối với Triều đình Nhà Nguyễn về vai trò của tầng lớp các nhân sĩ tiến bộ, tạo sức ép nhiều mặt đối với Triều đình Huế, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, ngôn ngữ. Giữa ngàn, vạn tư liệu về Đông Dương, để hiểu thêm cái tâm lý lo ngại của người Pháp, khi bàn về các gương mặt có ảnh hưởng và cần ‘cảnh giác’ trong xã hội tri thức người Việt ở Bắc và Trung kỳ do khả năng đe dọa sự tồn tại của Chủ nghĩa Thực dân ở Đông Dương, chúng tôi xin trích dẫn một bằng chứng sinh động sau: Tài liệu ghi ngày 3/10/1911 của một quan chức Pháp thuộc Văn phòng Tổng Thư ký Hội Sở Quốc gia về Truyền bá tiếng Pháp tại các thuộc địa và nước ngoài  (Alliance Française Association Nationale pour la PROPAGATION DE LA LANGUE FRANçAISE Dans les Colonies et à L’Estranger). “… Quan điểm này, tôi đã trình bày vào tháng 7 năm 1908 với ngài Miliere Lacroix, và theo mong muốn của ngài Lacroix, tôi cũng đã trình bày với ngài Klobukovsky (Toàn Quyền Đông Dương 1855-1934. B/t) (15), tuy nhiên, mặt khác, tôi cũng hết sức tránh không coi nhà Nho này và bạn bè của ông ta là những người tán thành với các tư tưởng của người Pháp. Tại Hà Nội, tôi đã nói chuyện với ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhân vật thân tín của Phan Châu Trinh (chính ông Vĩnh cũng thừa nhận như vậy). Tôi đã nói chuyện ở đây với ngay chính ông ta. Ấn tượng của tôi ở năm 1911 vẫn nguyên vẹn như của năm 1908. Những nhân vật Bắc kỳ này là những người theo Chủ nghĩa Dân tộc…. Không phải ngẫu nhiên mà Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đã viết vào năm 1907 ‘Câu chuyện Aguinaldo’(16) và cho phát hành trong Đông Kinh Nghĩa Thục (Là Hội Ái hữu Bắc kỳ)”…. (Nguyễn Như Phong dịch. Bản chụp tư liệu gốc người b/t.giữ). Như vậy, nhìn vào những hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh, không đơn thuần chỉ là những hoạt động văn hóa, hoặc phát triển và quảng bá chữ Quốc ngữ trong suốt chục năm đầu ở thế kỷ 20. Những tác động đối với xã hội của Nguyễn Văn Vĩnh, là kết quả nhận thức của ông về nền văn minh nhân loại, nhờ khả năng tiếp thu những kiến thức tiến bộ của thế giới thông qua ngoại ngữ. Ông những muốn tìm cách để chuyển tới cho đồng bào của mình những ánh sáng văn hóa của nhân loại bằng con đường viết lách, in ấn và phát hành, một mặt của đời sống tinh thần còn rất mới lạ ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Tiếp thu khối lượng lớn kiến thức về xã hội, giáo dục, khoa học, triết học, văn hóa, quyền con người…. Nguyễn Văn Vĩnh đã bị kích thích đến tột cùng vì phải chứng kiến quá nhiều sự bất công ở một đất nước mà khi ông lớn lên, đã tận mắt phải nhìn cảnh người dân‘sống ngâm da, chết ngâm xương’ (17), ở đâu cũng thấy sự hà hiếp bởi các thiết chế hà khắc của đời sống phong kiến, của nền giáo dục‘Tầm Chương’ (18), ‘Khoa cử’ (19)…. Ông muốn thay đổi, muốn cải tạo cái xã hội bệnh hoạn do người dân không có chữ và không được học hành này. Nguyễn Văn Vĩnh không vì miệt thị Nho giáo, không vì mâu thuẫn với Vương Triều Nhà Nguyễn, và cũng không vì cái Khai hóa của người Pháp Thực dân để dấn thân vào cuộc canh tân này. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ vì một sự tiến bộ, một sự thoát thai của một dân tộc, làm sao để người dân đủ sức lực, đủ trí tuệ, nhận ra được sự lừa dối, sự nhũng lạm và tàn ác của kẻ khác, nhất là khi họ ỷ thế mạnh hơn, lớn hơn mình. Nguyễn Văn Vĩnh chắc chắn rằng, điều cần nhất cho đồng bào của ông để có thể thay đổi được cuộc sống, là tri thức. Ông lý giải, người Việt Nam kém hơn người phương Tây nói chung và người Pháp nói riêng, xét về văn hóa chứ không phải chủng tộc! Cuộc đời đói khổ, nghèo hèn mà đồng bào của ông phải chịu đựng, không phải là định mệnh, không phải là số giời, mà đó là vì thiếu tri thức. Quan niệm của Nguyễn Văn Vĩnh cũng cho rằng, văn hóa là phương thức mô tả sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới một cách tốt nhất, và ông muốn thay đổi tận gốc cách suy nghĩ, cách nhận thức của người dân để làm sao họ có được văn hóa, sống văn hóa và chết cũng phải văn hóa, nay chúng ta gọi chung là xã hội nhân văn. Mặc nhiên, những hành xử đối với xã hội của Nguyễn Văn Vĩnh, lịch sử gọi đó là Cách mạng. Vâng, vào những khoảnh khắc quan trọng đó của quá khứ, người ta đã ghi lại trong cuốn số 17 của ‘Khải Định chính yếu’, những tâm tư của Khải Định (1885-1925) vị  vua bị mang tiếng là ‘lai căng’, nhưng ngài cũng đã không vô cớ bộc bạch về việc cần phải thay đổi hệ thống thi cử An Nam: “Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt”. Trong cái bối cảnh cả xã hội chờ đợi một sự đổi thay, mong chấm dứt cái cảnh ‘Lều’, ‘Chõng’ (20) ấy, Nguyễn Văn Vĩnh không lệ thuộc, hoặc bị chi phối bởi ngài Toàn quyền Anbert Sarraut (1872-1962) như tạp chí Nam Phong số 21 năm 1919 truyền đạt: “Bộ Học yêu cầu các tỉnh Trung kỳ bãi bỏ hết các viên quan giáo huấn trong các trường giáo huấn, vì các vị này chỉ biết chữ Nho hoặc chữ Quốc ngữ, nên không đủ tư cách làm thầy giáo…”. Giật mình nhìn lại lịch sử lĩnh vực này, người ta mới hay, rằng nước Nhật Bản đã bãi bỏ chế độ khoa cử theo Nho học từ năm 1868, nước Triều Tiên từ năm 1894, và nước Trung Hoa từ năm 1900 (Khoa cử Việt Nam, NXB Văn Học 2007 của Nguyễn Thị Chân Quỳnh). TỰ THƯỞNG. Trước Nguyễn Văn Vĩnh gần thế kỷ, nhà thơ nổi tiếng Cao Bá Quát (1809-1855), khi đi sứ sang Tân Gia Ba (Singapore) đã nhận ra cái hủ lậu và bế tắc của một nền giáo dục ở quê nhà, nên ông đã than vãn trong tập thơ của mình (trang 22. B/t):“Đáng phàn nàn cho ta bấy lâu chỉ lo đóng cửa gọt rũa câu văn, lải nhải từng câu từng chữ có khác nào con sâu đo muốn đo cả Trời Đất?”. Vậy nên, việc Triều đình Nhà Nguyễn quyết định hủy bỏ các khoa thi Hội và thi Đình vào năm 1919, Nguyễn Văn Vĩnh đã nhìn thấy một cơ hội ngàn vàng việc lên ngôi của chữ Quốc ngữ, thứ chữ không phải chỉ dành cho những kẻ không biết chữ Nho và chữ Pháp, mà cho cả nền văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt. Nguyễn Văn Vĩnh sung sướng vì vô hình chung, đó chính là lý tưởng mà ông theo đuổi. Vậy làm sao ông lại không mãn nguyện?! Nhà nghiên cứu danh tiếng Phạm Thế Ngũ (1921-2000), trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên ( NXB. Đồng Tháp 1998), đã đồng tình, nhìn nhận những nỗ lực, ý chí và giá trị của những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện trong công cuộc quảng bá chữ Quốc ngữ, động viên cuộc cải cách giáo dục như sau: “Tại sao lại là việc sống chết? Vì quốc ngữ là cái cầu bắc sang văn minh Tây phương, là con đường thoát ra khỏi sự lao lung của chữ Tầu, tức là của Hán học cổ lỗ, của phong kiến tối tăm, con đường đưa tới tiến bộ, tới duy tân. “Chữ nho chính là hàng rào chắn ngang đường văn minh”. Nguyễn Văn Vĩnh đã viết câu ấy ngay từ 1907 trên báo Đăng cổ…. Ông thấy chỉ có một cách là giáo dục. Không phải là giáo dục các ông Tổng ông Lý hách dịch rởm, lý sự cùn, vì việc đó khó, mà là giáo dục bọn con nít, thế hệ mới từ trong trứng ra”. Để có một ngày, chữ Quốc ngữ vượt lên trước các loại chữ viết khác đã có trong lịch sử Việt Nam, rồi trở thành yếu tố quyết định trong giáo dục, thi cử, năm 1944, nhà văn nổi tiếng Vũ Bằng (1913-1984) đã ca ngợi Nguyễn Văn Vĩnh trên Trung Bắc Chủ Nhật (TBCN), ông nhắc lại cái lý tưởng giáo dục mà ông Vĩnh đã theo đuổi, được thể hiện trong một bài diễn thuyết từ năm 1907: Còn như học để tìm lấy điều hay cho xã hội, học để tra khảo tạo hoá cho tạo hoá có điều gì bí hiểm phải xưng ra cho nhân loại thêm kiến thức mà bổ cách sống ở đời cho thêm sung sướng, bớt tật bệnh, hết khổ não, thì cái học ấy ở nước Nam ta không có ai. Nhà văn Vũ Bằng còn an ủi vong hồn Nguyễn Văn Vĩnh cũng trên tờ TBCN số 205 và 206 năm 1944: Chúng ta phải đợi đến hai mươi năm sau, mới thấy Nguyễn Văn Vĩnh nói đúng như thế nào và đến bây giờ, nếu Nguyễn Văn Vĩnh còn, tất ông phải lấy làm sung sướng được thấy cái mộng tưởng của ông về chữ Nho đã thành trong muôn một. Nguyễn Văn Vĩnh đã vui mừng, sung sướng và mãn nguyện trước quyết định của Triều đình Huế. Ông chắc chắn cho sự độc tôn của chữ Quốc ngữ, thứ chữ mà theo ông, là điềm hay cho nước Tổ Việt ta… nên ông đã quyết định tự thưởng cho chính mình bằng cách thuê những người thợ mộc tài ba từ quê nhà, ra sống tại nhà ông ở Hà Nội, cùng ông làm đôi ghế tràng kỷ theo phong cách đồ gia dụng truyền thống. Đôi ghế được làm bằng gỗ gụ, nhưng để vinh danh cái con chữ mà ông tâm đắc, ông lặn lội đội nó lên đầu, ông chứng minh với người đời, rằng con chữ này đủ để  đưa dân tộc này tiến hóa, để chuyển tải mọi cái tinh hoa của trí tuệ nhân loại, dù ở đâu, từ bao giờ, hay của bất cứ dân tộc tộc nào. Vì thế, ông đã cho khảm trai lên chỗ tựa của hai chiếc ghế, hai câu chuyện đặc trưng của nhà thơ trứ danh người Pháp là Jean de la Fontaine ( La Phông Ten 1621-1695).

Chiếc tràng kỷ khảm trai chuyện Chó rừng và chó nhà.

Hai câu chuyện hàm súc mà Nguyễn Văn Vĩnh lựa chọn để khắc ghi trên đôi ghế, như một tượng đài ghi danh chữ Quốc ngữ, cái thứ chữ đã ‘dũng cảm’ đương đầu với lịch sử, với các ‘ông lớn’, với các bộ óc siêu bảo thủ nhưng cốt lõi vẫn là gián tiếp đồng lõa với các thế lực muốn đồng hóa dân tộc nghèo khó này. Chúng ta không thể nhắm mắt để không nghĩ tới cái thông điệp mà Nguyễn Văn Vĩnh muốn để lại cho hậu thế, rằng cuộc đời này còn gì đắt hơn sự tự do? (Chuyện con chó rừng và chó nhà). Dù là con người hay con vật, lòng biết ơn mãi là cái đạo, cái đức, cái yếu tố quyết định nhân cách của mỗi thằng người! (Chuyện con chó rừng và con cò).

 Lời thoại của hai câu chuyện trên hai chiếc tràng kỷ

Nhưng vượt lên trên tất cả, Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định điều mình tâm đắc từ hơn chục năm trước đó rằng, “Chữ quý hóa chưa…?”, thứ chữ viết hôm nay chúng ta dùng quý hóa chưa….? Và đó là tháng 12 năm 1919, cái năm là dấu mốc để từ đó trở đi, khi lựa chọn nhân tài cho việc gánh vác giang sơn gấm vóc, phải là sự học, sự thi đích thực, chấm dứt lối học hình thức của nền giáo dục Nho học kéo dài gần chục thế kỷ ở đất nước này. 100 năm sẽ là dài với những kẻ vô trách nhiệm, vô ý thức, vô công dỗi nghề, nhưng với lịch sử tồn tại và phát triển một nền văn hóa của một dân tộc, một quốc gia… có lẽ chỉ là một cái chớp mắt. Đã có kẻ lắm bạc thừa tiền, muốn giữ riêng cho mình cái kỷ vật không có hai này, đã dại dột nói với chủ nhân của đôi ghế, rằng đây không phải đồ cổ… Tôi chỉ muốn trả giá và mua như một thứ đồ vật thôi! Đúng, kẻ đó đã nói đứng, và hãy cho là kẻ đó đúng, rằng những kẻ coi đồng tiền là nhất… Thì văn hóa làm gì có giá trị gì! Lịch sử là cái gì chứ? Ngồi trên đôi ghế tràng kỷ, sản phẩm của tư duy văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh cách đây 100 năm, làm sao bằng ngồi trên cái xe ôtô có giá một tỉ đồng….?! ?! ?! KẾT Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp và cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh, khó có ai bác bỏ được một sự thật kiêu hãnh về con người này, đó là sự dâng hiến đến tận cùng năng lực, trí tuệ, đức độ cho một sự thoát thai của một nền văn hóa, nền văn học chữ Quốc ngữ. Chính vì sống cho một lý tưởng ngời sáng như vậy, nên Nguyễn Văn Vĩnh chưa bao giờ biết sợ bất cứ điều gì, nghèo túng, bất hạnh, uy quyền, danh vọng, tiền tài cũng không làm con người này nao núng, nghiêng ngả, vị tình, luồn cúi…. Có thể, lý do này là căn bản nhất để tất cả các chế độ chính trị đã tồn tại trên đất nước này từ thế kỷ 19 không muốn nhìn gần Nguyễn Văn Vĩnh, vì đây là thằng người không thuần phục bất cứ một hệ tư tưởng nào ngoại lai nào, một thuyết lý chính trị nào, ngoài ước vọng tạo dựng cho đồng bào của mình nền tảng hướng tới một nền văn hóa tiến bộ, không chịu thua kém bất cứ dân tộc nào trên trái đất. Chắc chắn Nguyễn Văn Vĩnh không bận lòng về sự hiềm khích của các thế lực gần xa, bởi lẽ nhìn lại tờ báo TBTV từ những năm 1917 đến 1920, người đọc đều không thể không ngạc nhiên khi thấy ở rất nhiều bài viết ký tên NVV, đều có một câu thú nhận: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI THƯỜNG! TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI THƯỜNG….! Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Hội Trưởng Hội Trí Tri, Hội Trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ, chuyên gia văn học cổ Việt Nam, Bộ Trưởng Bộ Cứu tế Xã Hội của VNDCCH 1945, người cùng thời, người đồng chí, nhân chứng số một của giai đoạn lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh tồn tại, đã viết: “…. kể từ năm 1905, sau khi đã rũ bỏ được những công việc của nhà nước, có phần nào, ông cũng rũ bỏ được những âu lo chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ còn sống cho đồng bào, cho những người bạn đã được ông rất khéo chọn, và cho công việc học hành của chính ông. Thực ra, ông đã lao vào những việc này ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông đã không bao giờ rời bỏ những mục tiêu của mình, ngay cả khi trong cuộc đời, nhiều lúc ông đã phải đương đầu với những cuộc đấu tranh cam go nhất để trở thành con người của công chúng” (21). Để kết thúc bài viết này, xin được nhắc lại đoạn điếu văn của nhà văn Phan Trần Chúc (1907-1946), người thay mặt giới nhà báo Bắc kỳ, đọc tại tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 ở số nhà 107 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội: “Theo ý tiên sinh thì nước không phải là của một người hay của riêng một bọn người. Nước là của chung tất cả mọi người sinh ra trên dải đất này. Đối với Tổ quốc, phái trí thức và phái bình dân, cái trách nhiệm to ngang nhau và quyền hạn như nhau. Tư tưởng cộng hòa phát triển trong óc tiên sinh từ hồi đó, nghĩa là từ lúc người Việt Nam chưa biết có một chính thể nào khác ngoài chính thể quân chủ chuyên chế….”. Để có được một nền giáo dục tiến bộ, xây dựng được một quốc gia phát triển, và một dân tộc hạnh phúc, Nguyễn Văn Vĩnh đã vui mừng khi thấy ánh sáng của văn minh, của văn hóa ập vào đất nước của ông, đẩy lùi cái bóng tối tâm hồn của đồng bào ông, làm sao ông lại không mãn nguyện….?! Hà Nội tháng Giêng năm 2019. Chú thích:
  1. 15. Antony Wladislas Klobukowski (185501934), được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương từ tháng 8.1908 đến tháng 1.1910. Trước khi được bổ nhiệm, đã từng làm việc trong Nam kỳ với Thomson là Thống đốc Nam kỳ. Sau giai đoạn ở Đông Dương về Pháp, Klobukowski làm Đại sứ Pháp ở Vương quốc Bỉ.
  2. 16. Emilio Aguinaldo y Famy (23/3/1869 – 6/2/1964) là một nhà cách mạng, nhà chính trị, và thủ lĩnh quân sự người Philippines. Ông chính thức được công nhận là tổng thống đầu tiên của Philippines (1899–1901) và lãnh đạo quân Philippines chiến đấu chống lại Tây Ban Nha trong nửa sau của Cách mạng Philippines (1896–1897), trong Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ (1898), và sau đó chống lại Mỹ (1899–1901). Ông bị quân Mỹ bắt vào năm 1901, khiến nhiệm kỳ của ông kết thúc.
  3. 17. Câu ca dao phản ánh sự cơ cực của người nông dân vùng trũng ở đồng bằng Bắc bộ, do nước ngập nên khi canh tác luôn phải ngâm mình trong nước (sống ngâm da), còn khi chết, việc chôn cất phụ thuộc vào mùa, nếu vào mùa khô, nơi chôn người chết không bị ảnh hưởng gì nhiều, nhưng vào mùa mưa, mồ mả luôn ngập trong nước (chết ngâm xương).
  4. 18. Tầm chương-trích cú, chỉ cách thể hiện khi làm văn Hán Nôm thường sao chép của người xưa những cách nghĩ sáo mòn, không coi trọng tính nội dung, thiên về hình thức.
  5. 19. Khoa cử, là hệ thống thi cử để làm quan, hoàn toàn không mang tính học thuật (Xem chú thích mục 7 ở phần Một của bài viết..
  6. 20. Lều – Chõng, tên một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ngô Tất Tố (1894-1954) xuất bản 1952 tại Hà Nội. Nội dung nói về các sĩ tử triều Nguyễn ngày đên ôn luyện để đi thi với hy vọng đỗ đạt để thành quan. Nghĩa đen của cụm từ này khá rõ ở chữ ‘lều’, song ở từ ‘chõng’ thế hệ sau này ít cảm nhận được hơn vì đây là sản phẩm của sự nghèo túng một thời cảu người dân Việt. Thực tế nó cũng giống như chiếc giường làm bằng tre, song có kích thước nhỏ hơn để đáp ứng cả việc ngồi và nằm ngủ khi cần.
Trên wikipedia khi nói đến tác phẩm ‘Lều Chõng’, đã trích dẫn một đoạn tâm sự của Ngô Tất Tố, đủ để người đọc hình dung được cái bối cảnh học hành, thi cử trong chế độ Phong kiến Việt Nam từ ngàn xưa: “Ngày nay nghe đến hai tiếng “Lều”, “Chõng” có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những vật ấy từ biệt chúng ta mà đi đến chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, “Lều” “Chõng” vẫn làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta vẫn khoe là “bốn nghìn năm văn hiến”. Những ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám lều chõng mà ra. Lều Chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật, đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kì rất dài đã phát hiện ra nhiều cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp
  1. 21. Xem chú thích mục 10 & 11 ở phần Hai của bài viết.
Hết NGUYỄN LÂN BÌNH.

One Response

  1. Đọc xong bài viết thấy choáng ngợp, cảm phục những cống hiến hết mình của NVV để phát triển chữ quốc ngữ, với mục tiêu khai dân trí nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ, dân tộc Việt nam văn minh. Bài viết cũng đầy ắp những tư liệu lịch sử quý, được tác giả sưu tầm, sử dụng để chứng minh cho sự thật đó. Thật đáng trân trọng!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  
July 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Social Network