100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2), có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN – Phần cuối

Phần thứ ba (Phần cuối).
Phần 2
Phần 1
ĐẮC Ý.

Năm 1912, NVV gửi thỉnh cầu tới Triều đình Huế, ông xin được gặp quan đại thần, Đông các đại học sĩ, Thượng thư Bộ Học (Bộ Trưởng Giáo dục. B/t) Cao Xuân Dục (1843-1923), một người bảo thủ, muốn duy trì vai trò chữ Hán, không ủng hộ việc phát triển chữ Quốc ngữ.

Tại buổi gặp vị Thượng thư Bộ Học, NVV đã nêu những quan điểm của mình về việc cần phổ cập chữ Quốc ngữ cho toàn dân, vì bản chất, tinh thần dân tộc, cùng với tính tiện lợi và dễ tiếp thu của loại chữ viết này. Đồng thời, NVV đã trân trọng dâng lên Quan đại thần Cao Xuân Dục cuốn sách viết về cách học chữ Quốc ngữ do chính NVV biên soạn.

Ngày 22/6/1913 (thời vua Duy Tân – Nguyễn Phúc Vĩnh San), tại trường Quốc Tử Giám – Huế, trong lễ chào mừng các thí sinh trúng tuyển năm đó, lần đầu tiên Đông Các đại học sĩ – Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục, đã đọc bài diễn văn dài được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.

Chân dung Thượng thư Cao Xuân Dục (1843-1923)

Hạnh phúc ngập tràn ập đến với NVV khi ông nhận được tin này. NVV lập tức viết bài Quốc ngữ nguyên huân – Le Tripomphe du Quốc ngữ đăng trên ĐDTC 1913, trong đó có đoạn:

“Ngày nay quan Học-bộ Thượng-thư ngài lại dùng ngay chữ quốc-ngữ mà diễn tại một tràng-học to nhất trong nước, thực chủ-nhân lấy làm hân-hạnh, khác nào như người đi giảng đạo mà đã mộ cho Chúa được một người sùng mới, cao sang quyền thế trong nước”.

NVV còn khẳng định về nội dung của bài diễn văn của Thượng thư Cao Xuân Dục là: “…vì là một bài văn hay, kỳ tích kỷ niệm cho lịch sử văn chương Quốc ngữ”.

Hành trình quảng bá và phổ biến chữ Quốc ngữ, phát triển báo chí do NVV và các đồng chí của mình thực hiện tại phần phía Bắc Việt Nam kéo dài có 10 năm (1906-1916), nhưng kết quả là rõ rệt và mang không khí rầm rộ của một phong trào.

NVV đã tận dụng hoàn cảnh và điều kiện cho phép của một Chủ bút, dựa vào lòng tin và sự nể phục của F. H. Schneider, người nhìn rõ năng lực của mình.

Với sự tỏa sáng của ĐDTC, cùng với lòng tin ngày càng tăng của F. H. Schneider, NVV nhận thấy thời cơ để vươn xa trên con đường phát triển con chữ tiếng Việt “Chữ đâu mà hay thay! mà dễ đọc thay!”… (lời tựa Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa 1909) đã có tư thế vững vàng. Năm 1915, NVV đã cho ra đời tờ báo quan trọng đặc biệt in bằng Quốc ngữ, dấu ấn, nền tảng phát triển nền văn hóa chữ Quốc ngữ, đó là tờ Trung Bắc Tân Văn (TBTV).

TBTV sau bốn năm hoạt động, đã trở thành tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, với nội dung phong phú, hiện đại, đúng phong cách báo chí ở các nước tiên tiến, gồm các thể loại như thơ mới, truyện ngắn, bình luận văn học, chính trị, khoa học thường thức, kể cả một số bài viết chính trị theo đòi hỏi của Nhà Cầm quyền… Những nội dung này thực sự có ý nghĩa do được viết bằng văn chương Quốc ngữ, manh nha tạo làn sóng thi thố tài năng của toàn xã hội trong lĩnh vực văn học nghệ thuật vào giai đoạn đầu ở phần phía Bắc Việt Nam.

Hai tờ ĐDTC, Trung Bắc Tân Văn, đã có sức lôi cuốn các nhân sĩ người Việt ở mọi miền đất nước, những người say mê văn học, ngôn ngữ, xuất bản và công nghệ truyền thông. Họ đã coi đây là những mảnh ruộng đầu tiên ‘canh tác’ thí nhiệm, cơ hội để tiếp cận với những kiến thức căn bản về làm báo, viết báo, phát hành báo…. Những yếu tố đẩy nhanh sự lan tỏa, lớn mạnh và cuốn hút của thứ chữ dùng chữ cái La tinh – Quốc ngữ và chuẩn bị cho một sự thay đổi lớn về giáo dục.

Tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam ‘Trung Bắc Tân Văn’. 

Năm 1917, đúng với quy luật phát triển tự nhiên như một bào thai đủ năm, đủ tháng, phong trào báo chí Quốc ngữ đã đến thời điểm sinh sôi nảy nở. Thực tế này trùng hợp với ý đồ chính trị của Nhà Cầm quyền trong chính sách cai trị, phần do họ đã không thể cưỡng bức được người dân bản xứ sử dụng tiếng Pháp, trong khi họ cũng không muốn để chữ Nho chi phối nền giáo dục An Nam, nhờ vậy mà ấn phẩm danh tiếng – Nam Phong Tạp Chí ở Bắc kỳ được ra đời, góp phần nâng cao vị thế của chữ Quốc ngữ. Tờ báo được một người giàu năng lực văn hóa đứng làm Chủ bút, một người bạn của Nguyễn Văn Vĩnh (kém nhau 8 tuổi), một trong những thành viên đầu tiên của ĐDTC 1913, đó là Phạm Quỳnh (1890-1945).

Tại Nam kỳ, tuy không có sự nở rộ thành phong trào cổ xúy cho chữ Quốc ngữ, nhưng đã có thêm nhiều tờ báo in Quốc ngữ, trong đó có dấu ấn đặc biệt của tờ báo chuyên đề về phụ nữ là tờ Nữ Giới Chung do Sương Nguyệt Anh (Nguyễn Thị Khuê 1864-1921 – Con gái cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu 1822-1888) làm Chủ bút với tôn chỉ hàng đầu là “Chú trọng phát triển chữ quốc ngữ….”.

Có thể nói, đến những năm 1917, 1918, vai trò xã hội của NVV đã trở nên đậm nét do sự hoạt động tích cực, thường niên cùng tầng lớp các nhân sĩ uyên bác về tri thức, uy tín về xã hội, nổi bật là Phan Châu Trinh. Quan điểm này được định hình dưới con mắt cảnh giác chính trị của Chính phủ Thuộc địa đã đành, nhưng cũng đã trở thành sức ép đối với Triều đình Nhà Nguyễn, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, giáo dục và chữ viết.

Thông qua khối tư liệu khổng lồ về Đông Dương do phía Pháp lưu giữ, đã có nhiều ghi chép chứng minh sự lo lắng của họ khi nói tới các gương mặt có ảnh hưởng mạnh trong xã hội người Việt ở Bắc và Trung kỳ, cụ thể:

Tài liệu ghi ngày 3/10/1911 của một quan chức Pháp thuộc Văn phòng Tổng Thư ký Hội Sở Quốc gia về Truyền bá tiếng Pháp tại các thuộc địa và nước ngoài  (Alliance Française Association Nationale pour la PROPAGATION DE LA LANGUE FRANçAISE Dans les Colonies et à L’Estranger).

“… Quan điểm này, tôi đã trình bày vào tháng 7 năm 1908 với ngài Miliere Lacroix, và theo mong muốn của ngài Lacroix, tôi cũng đã trình bày với ngài Klobukovsky (Toàn Quyền Đông Dương 1855-1934. B/t) (15), tuy nhiên, mặt khác, tôi cũng hết sức tránh không coi nhà Nho này và bạn bè của ông ta là những người tán thành với các tư tưởng của người Pháp.

Tại Hà Nội, tôi đã nói chuyện với ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhân vật thân tín của Phan Châu Trinh (chính ông Vĩnh cũng thừa nhận như vậy). Tôi đã nói chuyện ở đây với ngay chính ông ta. Ấn tượng của tôi ở năm 1911 vẫn nguyên vẹn như của năm 1908. Những nhân vật Bắc kỳ này là những người theo Chủ nghĩa Dân tộc…. Không phải ngẫu nhiên mà Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đã viết vào năm 1907 ‘Câu chuyện Aguinaldo’(16) và cho phát hành trong Đông Kinh Nghĩa Thục (Là Hội Ái hữu Bắc kỳ)”…. (Người dịch: Nguyễn Như Phong. Bản chụp tư liệu gốc người b/t.giữ).

NVV đã không đơn thuần chỉ là nhà hoạt động văn hóa, phát triển và quảng bá chữ Quốc ngữ, mà còn là người giàu khả năng tiếp thu những kiến thức tiến bộ của nhân loại, nhờ hiểu sâu ngôn ngữ Pháp với nguyện vọng nâng cao dân trí cho người dân Việt Nam, một khía cạnh nhạy cảm dưới con mắt của Chính phủ Thuộc địa.

Với khối lượng kiến thức đồ xộ về văn hóa xã hội và chính trị…. NVV đã bị kích thích khi chứng kiến quá nhiều sự bất công ở một đất nước với cảnh người dân ‘sống ngâm da, chết ngâm xương’ (17), ở đâu cũng tràn ngập sự bất công do xã hội phong kiến tạo ra, cùng nền giáo dục ‘Tầm Chương’ (18), ‘Khoa cử’ (19)…. NVV muốn cải tạo cái xã hội cổ hủ này.

NVV hành động, dấn thân vào cuộc canh tân này không vì sự đối đầu đối với Nho giáo, cũng không vì mâu thuẫn với Vương Triều Nhà Nguyễn, và lại càng không vì cái Khai hóa của người Pháp Thực dân. NVV nhắm đến sự lột xác của một dân tộc bằng học vấn, để họ đủ sức, đủ trí tuệ, nhận ra được sự lừa dối tinh vi, sự tàn ác của kẻ khác khi chúng ỷ thế mạnh của thiết chế quyền lực, và sự yếu kém của dân trí.

NVV cho rằng, người Việt Nam kém hơn người phương Tây nói chung và người Pháp nói riêng, xét về văn hóa chứ không phải chủng tộc. Sự đói khổ, nghèo hèn mà đồng bào của ông phải chịu đựng, không phải là định mệnh, theo ông, đó là vì họ không được học hành, không có kiến thức để hiểu, để cắt nghĩa vạn vật, từ đó cứ lầm lũi chịu đựng.

NVV quan niệm, văn hóa là phương thức mô tả sự khác biệt giữa các dân tộc một cách vô tư nhất, ông muốn thay đổi tận gốc cách suy nghĩ của một “giống  dân” cả đời chấp nhận bán lưng cho giời, bán mặt cho đất… Có lẽ vô tình, từ góc độ lịch sử, những việc làm của NVV người ta gọi đó là Cách mạng.

Vâng, nói về quá khứ lịch sử, có nhiều điều trong cuốn số 17 của ‘Khải Định chính yếu’, đã nói lên tâm tư của vị vua bị mang tiếng là ‘lai căng’, nhưng không vô cớ, ngài đã ghi lại sự bức bối của mình về việc cần phải thay đổi hệ thống thi cử của đất nước An Nam:“Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt”.

Đã đến lúc, xã hộ khao khát sự đổi thay, đất nước An Nam mong sớm chấm dứt cái cảnh ‘Lều’, ‘Chõng’(20), NVV đã không lệ thuộc, không bị chi phối bởi ngài Toàn quyền Anbert Sarraut (1872-1962) như tạp chí Nam Phong số 21 năm 1919 truyền đạt: “Bộ Học yêu cầu các tỉnh Trung kỳ bãi bỏ hết các viên quan giáo huấn trong các trường giáo huấn, vì các vị này chỉ biết chữ Nho hoặc chữ Quốc ngữ, nên không đủ tư cách làm thầy giáo…”.

Nhìn lại lịch sử các nước lân bang, người ta mới hay, rằng Nhật Bản đã bãi bỏ chế độ khoa cử theo Nho học từ năm 1868, nước Triều Tiên từ năm 1894, và nước Trung Hoa từ năm 1900 (Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Khoa cử Việt Nam – NXB Văn Học 2007).

TỰ THƯỞNG.

Trước Nguyễn Văn Vĩnh gần thế kỷ, nhà thơ nổi tiếng Cao Bá Quát (1809-1855), khi đi sứ sang Tân Gia Ba (Singapore) đã nhận ra cái hủ lậu và bế tắc của nền giáo dục ở quê nhà, ông đã than trong tập thơ của mình (trang 22. B/t):“Đáng phàn nàn cho ta bấy lâu chỉ lo đóng cửa gọt rũa câu văn, lải nhải từng câu từng chữ có khác nào con sâu đo muốn đo cả Trời Đất?”.

Vậy nên, việc Triều đình Nhà Nguyễn quyết định hủy bỏ các khoa thi Hội và thi Đình vào năm 1919, đã làm NVV nhìn thấy một cơ hội ngàn vàng của việc lên ngôi của chữ Quốc ngữ, thứ mà ông coi là máu thịt, thứ chữ không phải chỉ dành cho những kẻ không biết chữ Nho và chữ Pháp, mà cho cả nền văn hóa của một dân tộc.

Nhà nghiên cứu danh tiếng Phạm Thế Ngũ (1921-2000), trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên ( NXB. Đồng Tháp 1998), đã đồng tình, nhìn nhận những nỗ lực, ý chí và giá trị của những gì NVV đã thực hiện trong công cuộc quảng bá chữ Quốc ngữ, động viên cuộc cải cách giáo dục như sau:

“Tại sao lại là việc sống chết? Vì quốc ngữ là cái cầu bắc sang văn minh Tây phương, là con đường thoát ra khỏi sự lao lung của chữ Tầu, tức là của Hán học cổ lỗ, của phong kiến tối tăm, con đường đưa tới tiến bộ, tới duy tân. “Chữ nho chính là hàng rào chắn ngang đường văn minh”. Nguyễn Văn Vĩnh đã viết câu ấy ngay từ 1907 trên báo Đăng cổ….

Ông thấy chỉ có một cách là giáo dục. Không phải là giáo dục các ông Tổng ông Lý hách dịch rởm, lý sự cùn, vì việc đó khó, mà là giáo dục bọn con nít, thế hệ mới từ trong trứng ra”.

Để có một ngày chữ Quốc ngữ soán ngôi các loại chữ viết khác đã có ở Việt Nam, rồi trở thành nhân tố quyết định của một nền giáo dục, thi cử, năm 1944, nhà văn nổi tiếng Vũ Bằng (1913-1984) đã ca ngợi NVV trên Trung Bắc Chủ Nhật (TBCN), ông nhắc lại cái lý tưởng giáo dục mà ông Vĩnh đã theo đuổi, được thể hiện trong một bài diễn thuyết của ông từ năm 1907: “Còn như học để tìm lấy điều hay cho xã hội, học để tra khảo tạo hoá cho tạo hoá có điều gì bí hiểm phải xưng ra cho nhân loại thêm kiến thức mà bổ cách sống ở đời cho thêm sung sướng, bớt tật bệnh, hết khổ não, thì cái học ấy ở nước Nam ta không có ai”.

Vũ Bằng còn an ủi NVV trên tờ TBCN số 205 và 206 năm 1944: “Chúng ta phải đợi đến hai mươi năm sau, mới thấy Nguyễn Văn Vĩnh nói đúng như thế nào và đến bây giờ, nếu Nguyễn Văn Vĩnh còn, tất ông phải lấy làm sung sướng được thấy cái mộng tưởng của ông về chữ Nho đã thành trong muôn một”.

NVV đã sung sướng, tỏ ra mãn nguyện khi thấy lịch sử chữ viết và giáo dục của đất nước An Nam thay đổi, chấm dứt lối học, lối thi cử chỉ dành cho một nhúm người.

Ông chắc chắn cho vai trò của cái thứ chữ mà theo ông, là điềm hay cho nước Tổ Việt ta, nên ông đã quyết định tự thưởng cho chính mình bằng cách thuê thợ mộc tài ba từ quê nhà, ra sống tại nhà ông, cùng ông đóng một đôi ghế tràng kỷ theo phong cách truyền thống bằng gỗ gụ, và để vinh danh cái con chữ mà ông đã lặn lội đội nó lên đầu, chứng minh rằng, con chữ này đủ sức chuyển tải mọi điều tinh hoa của trí tuệ nhân loại, dù là ở đâu, dù là từ bao giờ, bằng việc đã cho khảm trai lên chỗ tựa của hai chiếc ghế, hai câu chuyện bất hủ của nhà thơ ngụ ngôn người Pháp Jean de la Fontaine (La Phông Ten 1621-1695).

Chiếc tràng kỷ khảm trai chuyện Chó rừng và chó nhà.

Hai câu chuyện hàm súc mà NVV lựa chọn để khắc ghi trên đôi ghế, như một tượng đài ghi danh chữ Quốc ngữ, cái thứ chữ đã ‘dũng cảm’ đương đầu với lịch sử, với các ‘ông lớn’, với các bộ óc siêu bảo thủ nhưng cốt lõi vẫn là gián tiếp đồng lõa với các thế lực muốn đồng hóa dân tộc An Nam bằng văn hóa.

Chúng ta không thể không nghĩ tới cái thông điệp mà NVV muốn để lại cho hậu thế trên đôi ghế tràng kỷ đó, rằng cuộc đời này còn gì đắt hơn sự tự do (Chuyện con chó rừng và chó nhà), và dù là con người hay con vật, lòng biết ơn là sự phản ánh cái đạo, cái đức, cái yếu tố quyết định nhân cách của mỗi thằng người (Chuyện con chó rừng và con cò).

 Lời thoại của hai câu chuyện trên hai chiếc tràng kỷ

Nhưng vượt lên trên tất cả, NVV đã khẳng định điều mình tâm đắc từ hơn chục năm trước đó rằng, “Chữ quý hóa chưa…?”, thứ chữ viết hôm nay chúng ta dùng quý hóa chưa….? Và đó là tháng 12 năm 1919, cái năm là dấu mốc để từ đó trở đi, khi lựa chọn nhân tài cho việc gánh vác giang sơn, phải là sự học, thi cử minh bạch, chấm dứt lối học thuộc lòng, không cần tư duy suy luận của nền giáo dục Nho học kéo dài gần chục thế kỷ ở đất nước này.

100 năm sẽ là dài với những kẻ vô trách nhiệm, vô ý thức, vô công dỗi nghề, nhưng với lịch sử tồn tại và phát triển nền văn hóa của một dân tộc, một quốc gia… có lẽ chỉ là một cái chớp mắt.

Nhìn lại sự nghiệp và cuộc đời của NVV, khó có quý vị nào đó bác bỏ được một sự thật về con người này, rằng đó là sự dâng hiến đến tận cùng năng lực, trí tuệ, đức độ cho một sự thoát thai của một nền văn hóa, nền văn học của đất nước An Nam.

Nhờ sống với cái lý tưởng ngời sáng, NVV chưa bao giờ biết sợ bất cứ điều gì, nghèo túng, bất hạnh, uy quyền, danh vọng, tiền tài cũng không làm con người này nao núng, nghiêng ngả, vị tình, luồn cúi…. Có thể, những lý do này là căn bản nhất để các chế độ chính trị đã tồn tại trên đất nước này từ thế kỷ 19 không muốn vinh danh ông, vì Nguyễn không thuần phục bất cứ một hệ tư tưởng nào, một thuyết lý chính trị nào, ngoài ước muốn tạo dựng cho đồng bào của ông nền tảng văn hóa tiến bộ, để có quyền đứng ngang với bất cứ dân tộc nào trên trái đất.

Chắc chắn NVV không bận lòng về sự vô ơn của ai đó, bởi lẽ nhìn lại tờ báo TBTV từ những năm 1917 đến 1920, người đọc không thể không ngạc nhiên khi thấy ở rất nhiều bài viết ký tên NVV, đều có một câu thú nhận:

TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI THƯỜNG…!

Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Hội Trưởng Hội Trí Tri, Hội Trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ, chuyên gia văn học cổ Việt Nam, Bộ Trưởng Bộ Cứu tế Xã Hội của VNDCCH 1945, người cùng thời, nhân chứng số một của giai đoạn lịch sử NVV tồn tại, ông đã viết:

“…. kể từ năm 1905, sau khi đã rũ bỏ được những công việc của nhà nước, có phần nào, ông cũng rũ bỏ được những âu lo chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ còn sống cho đồng bào, cho những người bạn đã được ông rất khéo chọn, và cho công việc học hành của chính ông. Thực ra, ông đã lao vào những việc này ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông đã không bao giờ rời bỏ những mục tiêu của mình, ngay cả khi trong cuộc đời, nhiều lúc ông đã phải đương đầu với những cuộc đấu tranh cam go nhất để trở thành con người của công chúng” (21).

Kết thúc bài viết này, tôi xin được nhắc lại đoạn điếu văn của nhà văn Phan Trần Chúc (1907-1946), người thay mặt báo giới Bắc kỳ, đọc trước linh cữu NVV ngày 8/5/1936 ở số nhà 107 phố Gambetta (Trần Hưng Đạo), Hà Nội:

“Theo ý tiên sinh thì nước không phải là của một người hay của riêng một bọn người. Nước là của chung tất cả mọi người sinh ra trên dải đất này.

Đối với Tổ quốc, phái trí thức và phái bình dân, cái trách nhiệm to ngang nhau và quyền hạn như nhau. Tư tưởng cộng hòa phát triển trong óc tiên sinh từ hồi đó, nghĩa là từ lúc người Việt Nam chưa biết có một chính thể nào khác ngoài chính thể quân chủ chuyên chế….”.

Chú thích:

15. Antony Wladislas Klobukowski (1855-1934), được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương từ tháng 8.1908 đến tháng 1.1910. Trước khi được bổ nhiệm, đã từng làm việc trong Nam kỳ với Thomson là Thống đốc Nam kỳ. Sau giai đoạn ở Đông Dương về Pháp, Klobukowski làm Đại sứ Pháp ở Vương quốc Bỉ.

16. Emilio Aguinaldo y Famy(23/3/1869 – 6/2/1964) là một nhà cách mạng, nhà chính trị, và thủ lĩnh quân sự người Philippines. Ông chính thức được công nhận là tổng thống đầu tiên của Philippines (1899–1901) và lãnh đạo quân Philippines chiến đấu chống lại Tây Ban Nha trong nửa sau của Cách mạng Philippines(1896–1897), trong Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ (1898), và sau đó chống lại Mỹ (1899–1901). Ông bị quân Mỹ bắt vào năm 1901, khiến nhiệm kỳ của ông kết thúc.

17. Câu ca dao phản ánh sự cơ cực của người nông dân vùng trũng ở đồng bằng Bắc bộ, do nước ngập nên khi canh tác luôn phải ngâm mình trong nước (sống ngâm da), còn khi chết, việc chôn cất phụ thuộc vào mùa, nếu vào mùa khô, nơi chôn người chết không bị ảnh hưởng gì nhiều, nhưng vào mùa mưa, mồ mả luôn ngập trong nước (chết ngâm xương).

18. Tầm chương-trích cú, chỉ cách thể hiện khi làm văn Hán Nôm thường sao chép của người xưa những cách nghĩ sáo mòn, không coi trọng tính nội dung, thiên về hình thức.

19. Khoa cử, là hệ thống thi cử để làm quan, hoàn toàn không mang tính học thuật (Xem chú thích mục 7 ở phần Một của bài viết..

20. Lều – Chõng, tên một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ngô Tất Tố (1894-1954) xuất bản 1952 tại Hà Nội. Nội dung nói về các sĩ tử triều Nguyễn ngày đên ôn luyện để đi thi với hy vọng đỗ đạt để thành quan. Nghĩa đen của cụm từ này khá rõ ở chữ ‘lều’, song ở từ ‘chõng’ thế hệ sau này ít cảm nhận được hơn vì đây là sản phẩm của sự nghèo túng một thời cảu người dân Việt. Thực tế nó cũng giống như chiếc giường làm bằng tre, song có kích thước nhỏ hơn để đáp ứng cả việc ngồi và nằm ngủ khi cần.

Trên wikipedia khi nói đến tác phẩm ‘Lều Chõng’, đã trích dẫn một đoạn tâm sự của Ngô Tất Tố, đủ để người đọc hình dung được cái bối cảnh học hành, thi cử trong chế độ Phong kiến Việt Nam từ ngàn xưa: 

“Ngày nay nghe đến hai tiếng “Lều”, “Chõng” có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những vật ấy từ biệt chúng ta mà đi đến chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, “Lều” “Chõng” vẫn làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta vẫn khoe là “bốn nghìn năm văn hiến”.

Những ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám lều chõng mà ra. Lều Chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật, đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kì rất dài đã phát hiện ra nhiều cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp.

21. Nguyễn Văn Tố viết bằng tiếng Pháp – Tạp chí Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh số 1 và 2 năm 1936 (người dịch nhà giáo Phạm Toàn)

                                                                                    Hà Nội tháng Giêng năm 2019.

NGUYỄN LÂN BÌNH

(Chỉnh sửa lần cuối 10/2025).

HẾT

One Response

  1. Đọc xong bài viết thấy choáng ngợp, cảm phục những cống hiến hết mình của NVV để phát triển chữ quốc ngữ, với mục tiêu khai dân trí nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ, dân tộc Việt nam văn minh. Bài viết cũng đầy ắp những tư liệu lịch sử quý, được tác giả sưu tầm, sử dụng để chứng minh cho sự thật đó. Thật đáng trân trọng!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network