Thưa các quý vị và các bạn!
Ngày 28 và 29 tháng Mười Hai 2019, Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng đã tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề ‘100 năm chữ Quốc ngữ ở Việt Nam‘.
Ban Tổ chức Hội thảo đã trân trọng mời ông Nguyễn Lân Bình, nhân danh là Chủ nhiệm trang tin chuyên đề về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người Việt Nam đã trọn đời cống hiến tất cả sức lực và trí tuệ cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ. BBT chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với các quý vị và các bạn, toàn văn bản tham luận do ông Nguyễn Lân Bình trình bày tại Hội thảo.
Bản tham luận này cũng được in trong kỷ yếu của Hội thảo, đồng thời BBT chúng tôi đã nhờ cộng sự chuyển ngữ sang tiếng Anh. Do đề tài về sự nghiệp học giả Nguyễn Văn Vĩnh cực kỳ đồ sộ, với nhiều cứ liệu lịch sử phức tạp và đa dạng, cộng với năng lực có hạn và thời gian gấp gáp, nên chất lượng chuyển ngữ chưa thỏa mãn được những yêu cầu khắt khe của một văn bản dịch thuật. Tuy nhiên, để thuận lợi cho các độc giả là người Việt ở xa quê hương, ít dùng tiếng mẹ đẻ cũng có thể cảm nhận được nội dung đặc biệt này, nên BBT chúng tôi vẫn xin được mạnh dạn giới thiệu bản tiếng Anh. Nếu có thiếu sót, xin các quý vị và các bạn độ lượng khi đánh giá, và chia sẻ với chúng tôi nếu có thể.Biết ơn Tạo hóa, Trời, Phật và các Thánh thần, đây là công việc cuối cùng, kết thúc một năm lao động của chúng tôi, năm 2019. Xin được chân thành cảm ơn sự quan tâm của các quý vị và các bạn trong năm qua đối với trang tin Tannamtu.com!
Xin được hẹn các quý vị và các bạn vào năm 2020 với nhiều thông tin hữu ích và ý nghĩa hơn, liên quan đến nội dung trang tin.Kính chúc các quý vị và các bạn đón năm mới vui vẻ, khỏe mạnh!
Trân trọng!
LÝ TƯỞNG SỐNG CÒN CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH (1882-1936)
VỚI SỰ NGHIỆP PHỔ CẬP CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TK 20 Ở VIỆT NAM
Nguyễn Lân Bình
1. Bối cảnh chữ viết ở Việt Nam thế kỷ XIX
Thế kỷ XVII, các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt Nam đã nhận ra sự bất hợp lý giữa ngôn ngữ nói và chữ viết mượn của người dân bản địa, họ đã quyết định dùng hệ chữ cái Latin để ghi lại âm giọng của người dân, mục đích ban đầu, để giúp cho việc truyền giáo được thuận lợi.
Thứ chữ viết mới này được hoàn thiện dần dần, và chỉ được sử dụng tại những khu vực của giáo dân theo đạo Thiên Chúa.
Hơn 200 năm sau, năm 1858, thực dân Pháp đặt chân đến phía nam Việt Nam. Việc cai trị ở một xứ thuộc địa mới, gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là chữ viết, thứ công cụ không thể thiếu trong hoạt động xã hội. Sự đan xen giữa chữ Hán và chữ Nôm do lịch sử phong kiến để lại cùng chữ Pháp, càng làm cho kẻ cai trị lúng túng dẫn tới khủng hoảng hệ thống hành chính, văn tự.
Lịch sử xuất hiện Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), người có năng lực siêu phàm về trí tuệ, đã trở thành người Việt đầu tiên tham gia xuất bản tờ Gia Định Báo là công báo in chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái Latin đầu tiên ở Nam Kỳ.
Nam Kỳ, vùng đất được hưởng quy chế thuộc địa, khác hẳn với Trung Kỳ và Bắc Kỳ theo quy chế bảo hộ.
Thực tế cho thấy, sự khác biệt về chế độ chính trị của ba miền Việt Nam trong thế kỷ XIX, và việc xuất hiện chữ Quốc ngữ trên một phương tiện truyền thông là báo chí ở dạng công báo, là một khái niệm xa lạ so với nền giáo dục Nho học phong kiến dùng Hán văn ở Trung và Bắc Kỳ.
Với 118 tác phẩm trong cuộc đời, Petrus Ký đã đóng góp quan trọng vào lịch sử học vấn, tri thức của người Việt thông qua chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp, nổi tiếng là tác phẩm sử học về Việt Nam được viết bằng tiếng Pháp (Petit Cours d’histoire d’Anam, xuất bản 1875/1877), và 2 tác phẩm viết bằng tiếng Việt là Truyện đất Nam Kỳ lịch sử Đàng Trong (1864), và Đại Nam Việt quốc triều sử ký (1879). Trương Vĩnh Ký đã dốc sức cùng sự hậu thuẫn của chính quyền nhằm quảng bá chữ viết tiếng Việt bằng chữ cái Latin, nhưng ngày nay, tại số nhà 520 đường Trần Hưng Đạo (quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh), khách thăm viếng nơi an nghỉ của nhà báo đầu tiên ở Nam Kỳ đều băn khoăn với dòng chữ Latin trên cổng vào: “Miseremini mei saltem vos acimic mei” (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi).

Thật buồn, khi những nỗ lực của ông đã không đem lại một thay đổi cần thiết trong việc xã hội hóa con chữ tiếng Việt dùng chữ cái Latin, một lối thoát hiểm trước sự Hán hóa ngàn năm không thành của nước Trung Hoa phong kiến.
Không thể không thấy cay đắng, khi chúng ta đọc lại bài thơ cuối đời có tên Cuốn sổ bình sanh (Poésie in extremis)của Trương Vĩnh Ký, có những câu văn xót xa đến tận cùng của số phận, như:
… Học thức gởi tên: con mọt sách
Công danh rốt cuộc cái quan tài
… Rằng tuy ăn ở cùng Tần
Bâng khuâng nhớ Hán muôn phần xót xa
Lịch sử luôn có những điều trớ trêu đối với định mệnh không phải cho một người, mà đôi khi còn đối với một dân tộc!
Nam Kỳ tồn tại trong môi trường một xã hội chính trị với bộ máy cai trị theo tư duy võ biền, đã áp đặt, ép bộ máy hành chính ‘phải’ sử dụng chữ viết Quốc ngữ trong giao dịch văn bản như một mệnh lệnh.
Năm 1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ. Nghị định 82, ký ngày 6/4/1878 của Thống đốc Nam Kỳ Lafont, đòi dân chúng phải chuyển hẳn việc giao dịch văn bản sang chữ Quốc ngữ với thời hạn là 4 năm , tức 1882.[1]
Sự áp đặt xã hội chấp nhận dùng một thứ chữ là phản tự nhiên, đó không phải là hành trình cách mạng hóa một thứ chữ viết… Nó đã không lan tỏa, không sinh sôi nảy nở, và không vượt qua được mảnh đất miền Trung, nơi triều đình phong kiến bảo thủ cắm chốt, nói gì đến Bắc Kỳ xa xôi hiểm trở, nghèo đói và thất học…
Cuối thế kỷ XIX, ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam dân chúng không hề có khái niệm về chữ Quốc ngữ, không biết báo chí, sách in…là những phương tiện truyền thông quan trọng bậc nhất để chuyển tải và phổ biến thông tin, kiến thức của nhân loại, cộng đồng dân cư ở Trung và Bắc Kỳ thiếu hẳn nền dân trí hiện đại!
2. Bắc Kỳ đầu thế kỷ 20 với Nguyễn Văn Vĩnh
Trên một tờ báo phát hành ngày 28/7/1935 ở Hà Nội, nhà báo Thái Phỉ (Nguyễn Đức Phong), chủ bút tờ báo Tin Văn đã phỏng vấn Nguyễn Văn Vĩnh nhân danh là người làm báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ ở Bắc Kỳ (1907), về cuộc đời dịch thuật và làm báo của ông. Bài phỏng vấn đã được báo Tin Văn đăng trên 9 trang báo liền.
Mọi người đã ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Văn Vĩnh tâm sự:
“Tôi học lấy nhiều. Nhưng tôi phải thú thật rằng tôi chịu ảnh hưởng của thày đồ chữ Hán của tôi là cụ Phan-hữu-Đại cũng lắm. Tôi phải thành-thực nói rằng cụ Phan-hữu-Đại là một nhà hiền-triết nhất nước Nam…
… Mà ông phải biết rằng thời bấy giờ các nhà nho ta đã bắt đầu đọc những sách của Khang hữu-Vi và Lương khải-Siêu mà họ gọi là ‘tân thư’ và đã nhiễm những tư-tưởng dân-quyền rồi đấy. Thế riêng cụ Phan hữu-Đại có nhiều những tư-tưởng khác họ. Những ý-kiến tôi đem ra viết báo bấy giờ, khi ấy, cụ đã có rồi. Tuy vậy cụ thích đọc lịch-sử nước Pháp ở ngay chữ Pháp diễn nôm ra.
Chiều ý cụ, tôi liền dịch một quyển Pháp-sử ra quốc-ngữ để đọc cho cụ nghe. Cái ý-kiến dịch sách tây của tôi nảy ra từ đó, nhất là từ năm 1899 và 1900, khi mới có 17, 18 tuổi tôi cả gan dịch ‘Contrat social’ của J.J. Rousseau và ‘Esprit dé lois’ của Montesquieu, được ông Nguyễn dực Văn, ký-lục, bạn đồng tòa của tôi ở Bắc-Ninh khuyến-khích. Ông Văn đọc những sách ấy ở các sách Dân-ước và Vạn-pháp tinh-lý hay Pháp-ý của Tàu dịch ở sách tây ra, rồi đem so-sánh hai bản dịch thì thấy bản dịch của tôi cũng đúng. Tuy vậy, thấy chỗ nào đáng ngờ, hai chúng tôi lại đem ra bàn-bạc với nhau, cái trí phê-bình của tôi phát ra từ độ ấy. Tôi lại dịch cả tập thứ nhất cuốn ‘Traité de l’Esprit’ của Helvétius nữa. Hồi ấy nhằm vào năm 1905”.2

Nguyễn Văn Vĩnh là người may mắn khi trở thành thông ngôn từ lúc 15 tuổi cho Tòa xứ Lao Cai (1897), rồi Tòa xứ Hải Phòng (1898 – 1903), là các cơ quan hành chính cai trị của người Pháp, cái nôi để ông được tiếp cận với văn hóa Pháp.
Cũng chính cái môi sinh văn hóa ấy, cùng với năng khiếu, đã giúp Nguyễn Văn Vĩnh đọc được và được đọc những tư tưởng khoa học triết học tiến bộ thông qua sách báo tiếng Pháp, hiểu được ý nghĩa và khái niệm về thế nào là quyền làm người? Thế nào là tự do báo chí, và thế nào là tự do, bình đẳng và bác ái?
Không vô cớ năm 1907, Phan Châu Trinh (1872 – 1926) nhà cách mạng nổi danh, đã đến tận nhà riêng của Nguyễn Văn Vĩnh ở 39 phố Mã Mây, Hà Nội, để tỏ lòng thán phục và cảm ơn do đã dịch sang tiếng Pháp Bản kiến nghịđòi cải cách xã hội viết bằng chữ Hán của ông gửi Toàn quyền Đông Dương, mà lịch sử gọi là Đầu Pháp chính phủ thư, hay Thư trước tác hậu bổ (Lettre de Phan Chu Trinh au gouverneur général en 1906). Nguyễn Văn Vĩnh đã có cơ hội đặt chân lên nước Pháp, tham dự hội chợ thuộc địa (đấu xảo) ở thành phố cảng Marseille năm 1906. Tại đây, lần đầu tiên ông được tiếp xúc với nền công nghiệp in ấn và làm báo, một thực tế quá mới lạ đối với người An Nam thời đó. Khoảnh khắc lịch sử này là một diễn biến định mệnh, đưa Nguyễn Văn Vĩnh đến con đường làm văn hóa, ngôn ngữ và xuất bản.

Nguyễn Văn Vĩnh đã nghĩ gì về một dân tộc không có chữ viết riêng, vậy làm sao để đọc được những kiến thức nhân loại viết ra trên giấy? Theo ông, việc con người không được đọc, không được học, là nguồn gốc của sự u mê, lạc hậu, đói nghèo. Không có kiến thức thì không thể tạo ra sinh khí của một giống nòi, Nguyễn Văn Vĩnh ta thán:
“Chữ quốc-ngữ có non nửa thế-kỷ mà vẫn ít dùng [nhìn từ nghị định của Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký năm 1869], vì văn chương từ trát, vẫn cứ theo lệ cổ dùng chữ nho… Thường có kẻ binh chữ nho nói rằng: chữ nho nghĩa lý sâu-sắc, có thể làm ra văn-bài hay. Ta tưởng cái sâu-sắc bởi ở sự dùng chữ mà ra… Cũng có người vì trọng đạo đức Khổng-tử cho nên muốn dữ chữ nho… đạo đức Khổng thực là hay, nhưng nếu dịch ra tiếng bản-quốc, để cho cả nước, đàn-ông, đàn-bà, con-trẻ cũng nghe được cả mới phải; hà tất phải cứ giữ chữ nho mấy học được, có phải chỉ ai biết chữ nho thì mới hiểu được du?”.3
Nguyễn Văn Vĩnh xác định, báo chí và sách in là thứ công cụ đắc dụng nhất dùng để chuyển tải tư tưởng con người nhờ chữ viết. Nguyễn Văn Vĩnh có ý nguyện táo bạo này trong thư viết từ Marseille ngày 27/6/1906, gửi cho người bạn thân của mình là Phạm Duy Tốn (1883 – 1924) ở Hà Nội, khi ông quan sát các hoạt động của máy in, cách làm báo được trưng bày trong các gian hàng tại hội chợ. Ông quyết sẽ theo đuổi việc cải cách xã hội Việt Nam, bằng cách phổ biến chữ viết Quốc ngữ qua phương tiện báo chí như sau:
“… người mình bướng quá. Muốn làm cho họ thấy sự tiến bộ, thật là khó quá. Chúng ta không chịu nhận chúng ta thua kém các dân tộc khác. Vả lại, nhận lỗi của mình, có phải là một sự nhục nhã gì cho cam!… Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó, để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”.4
3. Những hoạt động chính của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa
Cuối năm 1906, Nguyễn Văn Vĩnh trở về từ Pháp với lòng tin, rằng chỉ có báo chí sẽ chứng minh được với người dân thứ chữ viết bằng chữ cái Latin dễ học đến nhường nào, và nó hay đến thế nào…?!
Ông đánh giá, người An Nam chịu sống trong một thể chế chính trị với hai tầng áp bức là phong kiến và thực dân, thực chất vì họ thiếu kiến thức, không hiểu biết đến mức, không biết làm người thì con người có những quyền gì?
Hãy giúp mọi người nhận ra điều đó bằng chính cái giá trị của những học thuyết tiến bộ do chính kẻ cai trị đem tới. Người Việt phải có chữ viết của mình và Nguyễn Văn Vĩnh bắt tay thực hiện nhiệm vụ này.
Ông khác với nhóm những nhà cách mạng tiên phong cùng thời trong cách thức động viên dân chúng. Họ giương cao những khẩu hiệu có nội dung thống thiết, gay gắt đòi nhà cầm quyền phải cải cách đường lối cai trị, quan tâm đến cuộc sống dân sinh, phải trừng phạt đội ngũ quan lại nhũng lạm, ăn hại. Nhưng mỉa mai thay, những sự hô hào đó lại chỉ được viết bằng chữ Hán, thứ chữ quá ít người biết.
Ông khác cả khuynh hướng vận động cách mạng của những nhà yêu nước chống lại sự bất công, muốn thay đổi toàn diện một đất nước tăm tối bằng sức mạnh cơ bắp, tổ chức cuộc cách mạng lật đổ với sự trợ giúp của ngoại bang, hòng tìm đến ấm no, hạnh phúc…. Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ đã thấm những tư tưởng cách mạng Pháp từ lúc còn mười tám – đôi mươi, người hiểu rõ sự trả giá của các cuộc cách mạng máu, người mà sau giai đoạn hồng hoang về văn hóa của đất nước này cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, đã dám viết cuốn sách động viên cách mạng tư tưởng bằng chữ Quốc ngữ: ‘DÂN ĐẠO và DÂN QUYỀN’ – “Một giống dân không biết quyền lợi của mình là một giống dân không đáng sống”.5

Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh có thể làm gì để giúp đồng bào của ông hiểu được những chân lý đó, nếu không có chữ và sách báo?!
Nguyễn Văn Vĩnh chịu đựng sự dèm pha, cản trở của bộ phận các Nho sĩ, quan lại, những kẻ được hưởng lợi nhờ những thiết chế của hệ thống chính trị phong kiến, những kẻ dè bỉu: chữ viết tiếng Việt bằng ký tự Latin là sản phẩm của ngoại bang, của bọn xâm lược…!
Cũng như Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh hiểu rõ sức ỳ, bản chất nhu nhược, ích kỷ của người dân, ông xác định, chữ Quốc ngữ là phù hợp nhất trong khả năng tiếp thu của đồng bào ông, một dân tộc đói nghèo.
Trong lời tựa cuốn Tam quốc chí diễn nghĩa do ông và Phan Kế Bính (1875 – 1921) dịch từ chữ Hán ra Quốc ngữ xuất bản tại Hà Nội năm 1909, ông khẳng định cái giá trị cao quý của chữ viết:
“Cái hạnh-phúc ấy, cái điềm hay cho hậu vận nước Tổ-Việt ta ấy, là nhờ ở như chữ quốc-ngữ. Chữ đâu mà hay thay! mà dễ đọc thay! gốc hai mươi ba chữ, năm dấu soay vần, mà tiếng nước Nam bao nhiêu cũng viết được đủ…”.
Điều mà ông đã nêu trên Đăng Cổ Tùng Báo ngày 28/3/1907, khi hô hào dân chúng học chữ quốc ngữ:
“Sáng ý thì chỉ vài ngày, ngu đần thì trong một tháng cũng phải thông”.
Ông còn kêu gọi:
“Ở thế-dan này, xem trong các nước, phàm nước nào đã gọi là nước văn-minh, là cũng có văn-chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà cái văn-minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để chuyển sự hay đi trong nước ai ai đều đọc được cả”.6
Cũng năm 1907, dù mới 25 tuổi, ông quyết định thôi việc tại Tòa Đốc lý Hà Nội. Ông không muốn bị ràng buộc với chính quyền khi trở thành nhà báo tự do.
Đích đến của ông trong cuộc cách mạng này, là người dân phải có chữ để học, để có tri thức, trí tuệ, nhằm thay đổi vận mạng của một giống nòi.
Nguyễn Văn Vĩnh chống lại thuyết số phận. Ông lên án chủ thuyết áp đặt của tư tưởng phong kiến coi dân chúng là tôi tớ, vua quan là cha mẹ dân (Vua – Tôi)!7
Nguyễn Văn Vĩnh với hai bàn tay trắng, không vốn liếng nhà xưởng, ông chỉ là dân của một nước bị đô hộ nhưng dám quyết định hợp tác với một người Pháp gốc Đức – François Henry Schneider(1831 – 1929) – là chuyên gia của ngành in và xuất bản, kẻ đã có mặt ở Nam Kỳ từ năm 1882 với bản hợp đồng 3 năm, ký với Hải quân Pháp8 về việc tạo dựng nghề in và xuất bản ở Nam Kỳ.
Schneiderđã từng hợp tác không chính thức với Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của (1830 – 1908), song đã không đạt được những kết quả cần thiết và bản hợp đồng đó đã kéo dài đến 6 lần tính đến lúc gặp Nguyễn Văn Vĩnh.
Với danh nghĩa của người thuộc phái tân học, Nguyễn Văn Vĩnh đã giao du có tính hội đoàn với nhiều nhân sĩ tiến bộ và nổi danh như: Phan Kế Bính, Dương Bá Trạc (1884 – 1944), Nguyễn Đỗ Mục (1882 – 1951), Hoàng Tăng Bí (1883 – 1939), Phạm Duy Tốn (1881 – 1924), Trần Trọng Kim (1883 – 1953)… cả trước, trong và sau Đông Kinh Nghĩa Thục (1907).
Sự cộng hưởng giữa chủ trương của nhà cầm quyền, đòi hỏi bức thiết của các nhân sĩ yêu nước, cùng với thiện ý của Toàn quyền Paul Beau (1857 – 1927) về một cuộc cải cách giáo dục xã hội, đã đặt Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút tờ báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ – tờ Đăng Cổ Tùng Báo, ra đời vào năm 1907.
Ông đã giành được một loại phương tiện truyền thông đắc dụng. Tờ báo như một cỗ xe văn hóa, chuyển động bằng nguyên liệu là sự hợp tác hai bên cùng có lợi. Phía Schneider cần hoàn thành bản hợp đồng đã ký, còn Nguyễn Văn Vĩnh là chủ trương phổ biến chữ viết dùng ký tự Latin cho đồng bào mình. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ có năng lực, trí tuệ và lòng húy tâm văn hóa.
Ông đã hồn nhiên thực hiện lý tưởng của mình, kêu gọi, cổ vũ việc dân chúng hãy sử dụng chữ viết Quốc ngữ qua bài viết Người Annam nên viết chữ Annam9, ông coi tờ báo là cơ hội để hoàn thiện thứ chữ viết này và hướng đến khả năng văn học của nó.
Nhờ Đông Kinh Nghĩa Thục, dân chúng đón nhận tờ báo một cách tự nhiên. Nguyễn Văn Vĩnh tin rằng, khi đủ sức hấp dẫn, loại chữ này sẽ tự thay thế các loại chữ viết khác đã có trước đó, mà không phải bằng sự áp đặt của các nghị định, thông tư ….
Nhưng khi nhìn lại lịch sử, thật trớ trêu vì đó lại là ý do để xã hội phong kiến Việt Nam, cùng các lực lượng thân Hán, những kẻ chống lại sự tiến bộ của dân tộc này đã quy kết Nguyễn Văn Vĩnh là tội đồ, là kẻ ra sức cổ xúy chữ Quốc ngữ, làm đứt mạch văn hóa Hán – Nôm, công cụ Hán hóa được nhân danh cội nguồn.
4. Các bước chiến thuật của Nguyễn Văn Vĩnh trong chiến lược phổ cập chữ viết quốc ngữ
Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi chiến lược lâu dài quảng bá chữ quốc ngữ, ông dùng báo chí từ khi xã hội Việt Nam chưa hề có khái niệm về lĩnh vực này. Chiến lược của Nguyễn Văn Vĩnh, được thể hiện qua nội dung của Đăng Cổ Tùng Báo (1907) ở Bắc Việt Nam bao gồm:
1. Viết bài bằng chữ Quốc ngữ về mọi lĩnh vực, có tính biểu trưng phê phán sự yếu kém, lạc hậu trong văn hóa, giáo dục, giao thương, chính trị, khoa học… Bằng một loại văn phong giản dị, dễ hiểu, không có sự khác biệt với ngôn ngữ đối thoại thường ngày của người dân, nhắm đến chủ trương khai dân trí.
2. Nêu những vấn đề xã hội nổi bật, về những nhân vật có danh, những thông tin liên quan đến Đông Kinh Nghĩa Thục, thực hiện vai trò của một cơ quan ngôn luận. Đây là việc làm nhạy cảm về chính trị, vì chỉ sau bốn tháng từ khi có phong trào, nhà cầm quyền nhận thấy sự nguy hại của nền dân trí bùng phát, tư tưởng mới xuất hiện, đi ngược với chính sách, nên họ đã ngăn chặn Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguyễn Văn Vĩnh muốn thực hiện chủ trương chấn dân khí.
3. Chứng minh với người Pháp sự hướng thiện, khát khao thay đổi của người dân bản xứ trước ảnh hưởng của những tiến bộ có thật ở xã hội phương Tây, thông qua việc dịch các bài viết về các danh nhân, những nhà khoa học ở châu Âu, mở mang thế giới quan, nhắm đến chủ trương hậu dân sinh.
4. Đăng các thông báo hành chính xã hội, liên quan đến chế độ và chính sách của nhà cầm quyền, thực hiện nghĩa vụ của tờ báo trước nhà đầu tư. 5. Dịch chọn lọc các bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine từ tiếng Pháp, giáo dục lòng nhân hậu, bênh vực lẽ phải, khinh bỉ sự dối trá, sự độc ác. “Đồng thời, đặt chiếc cầu nối giữa tiếng Pháp và tiếng Việt”.10

Song, ý đồ lớn hơn của Nguyễn Văn Vĩnh, là chứng minh sự phong phú, khả năng thể hiện những nội dung tinh tế của chữ viết tiếng Việt trong thể loại văn vần, cơ sở để hình thành thơ mới cho nền văn học chữ Quốc ngữ, đồng thời giới thiệu quan niệm đạo lý phương Tây, so sánh với tâm lý người Việt nhờ sự dí dỏm, hài ước trong nội dung tác phẩm.
Đăng Cổ Tùng Báo là bước khởi đầu đầy khí chất của nền văn học chữ Quốc ngữ, là lời hiệu triệu với dân chúng An Nam, rằng chúng ta cũng có chữ, để đọc được và học được những gì cần thiết, đặc biệt là học quyền làm người. Nguyễn Văn Vĩnh chứng minh, cuộc sống có thể thay đổi không phải chỉ bằng bạo lực. Rõ ràng, Đăng Cổ Tùng Báo là mối đe dọa tinh thần đối với chế độ độc đoán nửa thực dân, nửa phong kiến.
Người ta thấy, trong văn bản ngày 3/10/1911 của Tổng Thư ký Hội sở quốc gia truyền bá tiếng Pháp (ở 186, đại lộ Saint Germain, Paris), trao đổi với những nhân vật quan trọng về sự liên quan giữa Phan Châu Trinh với Ủy hội Paul-Bert nêu như sau:
“Không phải ngẫu nhiên mà Phan Chu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đã viết vào năm 1907, ‘Câu chuyện Aguinaldo’ trong các ấn phẩm do Đông Kinh Nghĩa Thục phát hành…”.11
Sau bước khởi đầu hệ trọng này, Nguyễn Văn Vĩnh gặp ngay sự vô chính trị và tàn ác của Chính quyền thực dân đột ngột dập tắt Đông Kinh Nghĩa Thục, đóng cửa Đăng Cổ Tùng Báo, đứa con đầu đời của nền báo chí Quốc ngữ ở Bắc và Trung Kỳ.12
Nguyễn Văn Vĩnh đã không nao núng, không thất vọng. Quan hệ giữa ông với F.H. Schneider còn nguyên vẹn. Cả hai đều đang tràn đầy sự hưng phấn sau gần 20 năm tìm kiếm để tạo ra cuộc kết duyên lịch sử như hai nửa cần nhu….
Năm 1908, họ ra tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (Tờ báo của chúng ta), và năm 1910 ra tờ Notre Revue (Tạp chí của chúng ta). Lần đầu tiên, trên hai tờ báo này, Nguyễn Văn Vĩnh đã giới thiệu về chùa Hương và Truyện Kiều của Nguyễn Du, là hai đại diện nổi bật của nền văn hóa vật thể và phi vật thể của người Việt.
Năm 1911, để để tránh lãng phí thời gian (có thể hiểu là tận dụng), F.H.Schneider đưa Nguyễn Văn Vĩnh vào Sài Gòn, trợ giúp cho Lục Tỉnh Tân Văn, tờ báo tiếng Việt do Schneider tạo dựng từ 1907.
Nguyễn Văn Vĩnh không phải là kẻ thỏa hiệp, không ngồi yên trước việc cỗ xe văn hóa bị chặn lại, ông lao vào dịch thuật, chứng minh khả năng phong phú của chữ Quốc ngữ, nhất là trong những tác phẩm văn học đỉnh cao có tính tư tưởng lớn của phương Tây. Ông coi đó là cách thức để bổ sung, hoàn thiện về ngữ pháp, đặt ra cách viết văn xuôi tiếng Việt có tính nguyên tắc.
Năm 1912, Nguyễn Văn Vĩnh đã xin gặp Thượng thư bộ Học (Bộ Giáo dục) Cao Xuân Dục (1843 – 1923) của triều đình Huế. Ông hiểu hơn ai hết, uy tín và ảnh hưởng của ngài Thượng thư không phải chỉ trước triều đình, mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục Nho học. Cao Xuân Dục người mang tư tưởng bảo thủ, phản đối gay gắt dùng Quốc ngữ thay chữ Hán. Tại buổi gặp quan trọng này, Nguyễn Văn Vĩnh đã tặng ngài Thượng thư một cuốn sách Cách học chữ quốc ngữ.
Nguyễn Văn Vĩnh đã xúc động mạnh, khi nhận tin, tại lễ tốt nghiệp và trao phần thưởng cho các thí sinh của trường Quốc Tử Giám (Huế) ngày 22/6/1913, Học bộ Thượng thư Cao Xuân Dục đã đọc bài diễn văn được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ. Nguyễn Văn Vĩnh đã giãi bày như sau:
“Ngày nay quan Học-bộ Thượng-thư ngài lại dùng ngay chữ quốc-ngữ mà diễn tại một tràng-học to nhất trong nước, thực chủ-nhân lấy làm hân-hạnh, khác nào như người đi giảng đạo mà đã mộ cho Chúa được một người sùng mới, cao sang quyền thế trong nước”.13
Cũng lúc này, ở Bắc và Trung Kỳ xảy ra những biến cố chính trị nghiêm trọng, điển hình là cuộc khởi nghĩa Quang Phục Hội do Phan Bội Châu lãnh đạo.
Theo ý chí chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Châu Trinh vốn theo đuổi xu hướng đấu tranh ôn hòa, việc động viên cách mạng bằng bạo lực là bất hợp lý trong hoàn cảnh Việt Nam. Phan Châu Trinh khi chứng kiến sự thất bại của Phong trào Cần Vương 1895, đã kêu lên rằng: “Dùng vũ trang để chống Pháp, người Việt Nam đã làm rồi, chẳng được gì ngoài chết chóc”.
Nguyễn Văn Vĩnh mong muốn thực hiện cuộc cách mạng văn hóa tri thức trong điều kiện một xã hội thăng bằng, dù ở mức thấp.
Chính phủ thuộc địa đã cay cú nhận ra, rằng chính việc người dân không biết chữ, là rào cản trong việc cai trị thuộc địa. Họ khẩn cấp cho ra đời tờ báo thuần Việt đầu tiên Đông Dương tạp chí vào năm 1913, với mục đích trấn áp tâm lý xã hội.14
Cuộc sống, một lần nữa trùng lặp giữa mưu đồ và ý đồ, giữa kẻ cai trị và kẻ bị trị. Nguyễn Văn Vĩnh thêm một cơ hội ngàn vàng khi được làm chủ bút của Đông Dương tạp chí.
“… Đông Dương tạp chí đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tìm cách phổ biến chữ Quốc ngữ trong mọi tầng lớp dân chúng và thay đổi lối hành văn trong cách viết. Đồng thời tạp chí cũng truyền bá tư tưởng Âu Tây bằng cách dịch những tác phẩm hay và nghiên cứu tư tưởng nền văn học Á Đông trên tinh thần mới. Đặc biệt, tờ báo còn đóng một vai trò lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học 30 năm đầu thế kỷ XX…”.15
Năm 1917, Nguyễn Văn Vĩnh lại làm chủ bút của Trung Bắc Tân Văn, tờ báo trở thành tờ nhật báo tiếng Việt đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam.16. Trên tờ báo này, Nguyễn Văn Vĩnh đã kêu gọi người đọc học cách tư duy logic châu Âu, một phạm trù mới với tư duy người Việt.
Năm 1919, Nguyễn Văn Vĩnh tiếp tục cho ra đời tờ báo sư phạm đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam mang tên Học Báo.
Cũng cái năm 1919, triều Nguyễn chính thức chấm dứt toàn bộ các khoa thi của nền giáo dục Nho học là thi Hội và thi Đình, dọn đường cho nền giáo dục hiện đại lên ngôi bằng việc sử dụng chữ viết Quốc ngữ.
Để tự thưởng, Nguyễn Văn Vĩnh đã thuê đóng những thứ đồ gia dụng bằng gỗ, khảm lên các đồ vật đó những câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine. Nổi bật nhất là đôi tràng kỷ với hai câu chuyện tiêu biểu về lòng biết ơn (Chó rừng và con cò), và giá trị của tự do (Con chó rừng và chó nhà).
Đây
là những kỷ vật duy nhất ở Việt Nam được minh họa nội dung bằng chữ Quốc ngữ,
với những câu chuyện giáo dục đạo đức của phương Tây.

5. Sau năm 1919
Toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định ngày 18/9/1924, chính thức đưa chữ Quốc ngữ vào dạy cấp tiểu học trên toàn cõi Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh được sự hỗ trợ của E. Vayrac (Trưởng phòng Báo chí Bản xứ) đã thành lập Trung tâm xuất bản, phổ biến văn hóa đọc mang tên La pensée de l’Occident (Âu Tây tư tưởng) tại Hà Nội năm 1926.
Tại đây, ông chọn nội dung các tác phẩm ông đã dịch suốt 20 năm liền, phù hợp với nhu cầu phát triển trí tuệ của người dân, ông hướng họ đến chủ trương thoát Á, một khía cạnh của tinh thần Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản.
Để chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh, hòa nhập được với cộng đồng quốc tế trong giao lưu và xuất bản, năm 1927, Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công trong việc cải tiến chữ Quốc ngữ theo nguyên tắc oo = ô, aa = â, ow = ơ… dùng trong ngành điện tín.17
Nguyễn Văn Vĩnh luôn sống với tư tưởng đòi dân chủ, đòi tự do báo chí và quyền bình đẳng thông qua ngòi bút, những điều đã biến thành những lý do dẫn ông đến mâu thuẫn chính trị nghiêm trọng với chính phủ thuộc địa.
Năm 1930, sau thời gian dài, nhà cầm quyền đã không đạt được mục đích thu phục Nguyễn Văn Vĩnh trở thành thành phần gắn bó toàn diện với nền chính trị thuộc địa. Họ càng không thể chấp nhận những hoạt động văn hóa tư tưởng của ông, người đã tạo ra những ảnh hưởng rộng lớn lên tầng lớp tinh hoa ở một nước thuộc địa. Ông cần sự độc lập, dân chủ bằng tri thức và trí tuệ. Chính quyền đã đưa ra những mặc cả đắt giá, song đều thất bại, và họ đã cấm Nguyễn Văn Vĩnh viết báo, đăng bài bằng chữ Quốc ngữ, một sự mỉa mai lịch sử đến tận cùng.
Năm 1931, để chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định lập một tờ báo riêng có tính đối lập, xuất bản bằng tiếng Pháp, lấy tên là L’Annam Nouveau (Nước Nam mới), xuất bản số đầu tiên vào ngày21/1/1931.
Mặc dù phát hành bằng tiếng Pháp, được ra đời từ mâu thuẫn chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn duy trì chuyên mục liên quan đến yêu cầu hoàn thiện tiếng Việt và chữ viết Quốc ngữ.
Trên số 100, báo L’Annam Nouveau ra ngày 10/1/1932, ông viết bài: Để có được bộ từ vựng đồng nhất dùng cho báo chí bản xứ (Pour un vocabulaire uniforme à l’usage des journaux indigènes). Từ số 115 – 118, ông viết bài Chữ Quốc ngữ đổi mới (Le Quốc ngữ modifié). Trên số báo 146 ngày 24/6/1932, ông lưu ý người muốn dùng chuẩn tiếng Việt Nam bằng bài viết Một số những lưu ý khi học tiếng An Nam (Notes pour un cours d’Annamite)…
Chính quyền không tiêu diệt được tình yêu tiếng Việt, không phá hủy được lòng tự tôn giống nòi An Nam của Nguyễn Văn Vĩnh, đơn giản như ông từng tự nhận trên mặt báo là: NGƯỜI NHÀ QUÊ CHÚNG TÔI…
Nguyễn Văn Vĩnh chưa khi nào nhận mình là gì đó trên cõi đời này!L’Annam Nouveau là tờ báo duy nhất xuất bản bằng tiếng Pháp, được Giải thưởng Lớn (GRAND PRIX) tại Hội chợ Quốc tế Báo chí Thuộc địa tại Paris năm 1932.18

Năm 1935, chính phủ thuộc địa hết kiên nhẫn trước một kẻ học trò xuất sắc của nền văn minh Pháp, nhưng luôn đòi tinh thần đó cho chính đồng bào của ông. Để bẻ gãy ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh, họ đặt ra sự đòi nợ số tiền ông đã vay ngân hàng Đông Dương xây dựng trung tâm Âu Tây tư tưởng, rồi họ tịch biên tài sản và… xiết nợ, đẩy Nguyễn Văn Vĩnh đến việc chấp nhận kịch bản, một là ngồi tù, hai là làm quan và ba là đi tìm vàng tại Nam Lào để trả nợ cho Chính phủ.
Sau hơn một tháng trong cảnh rừng sâu núi thẳm, qua một đêm mưa gió trên dòng sông Sê Pôn, nơi chân cầu Sê Băng Hiêng, người ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh một mình một thân, trên một con thuyền độc mộc, với thân thể tím đen, một tay vẫn cầm bút và tay kia vẫn giữ chặt quyển sổ viết giở…. Đó là ngày 1/5/1936. Ngày 2/5/1936, nhà cầm quyền loan báo: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét và kiết lị….!!!

Thưa các quý vị và các bạn!
Để nhìn nhận, đánh giá đúng những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã dâng hiến cho sự nghiệp chữ viết Quốc ngữ, tôi không đủ trình độ để kết luận.
Với chúng tôi, những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã để lại cho nền văn học chữ Quốc ngữ, đó là sự hiến tặng cho tương lai của nền tri thức của một giống nòi, hòng xây dựng một đất nước tiến bộ với nền dân trí phát triển.
Nhìn lại những hành xử của các thể chế chính trị ở Việt Nam với Nguyễn Văn Vĩnh, từ triều đình phong kiến nhà Nguyễn, đến chính phủ thuộc địa của người Pháp thực dân, và tới chế độ xã hội của những người theo chủ thuyết vô sản, mọi người đều nhận thấy sự ứng xử với ông là những định kiến tàn nhẫn, và sự đố kị dai dẳng. (Thực tế này đã không xảy ra ở chế độ Việt Nam Cộng hòa).
Cần tính từ việc Nguyễn Văn Vĩnh từ chối nhận kim khánh của vua Khải Định vào năm 1918, đến việc quay lưng với đề nghị của triều đình nhà Nguyễn và chính phủ Bảo hộ gắn chức Thượng thư (Bộ trưởng) vào năm 1932, đến việc ông xin lỗi không nhận Bắc Đẩu Bội Tinh của chính phủ Pháp (năm 1932), với hồi kết tàn độc dành cho ông, một cái chết không bình thường, trên dòng sông Sê Pôn bên nước Lào hoang vu năm 1936, đều không làm cho Nguyễn Văn Vĩnh động lòng, nản chí hay thất vọng, thậm chí vong hồn ông có lẽ cũng không thấy ân oán gì. Bởi lẽ, với Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ đã từng tình nguyện dấn thân vào cuộc cách mạng tư duy của một dân tộc thông qua chữ viết, từ khi mới 24 tuổi, ông đã đặt lý tưởng của mình lên trên hết thảy trong thư viết từ Marseille gửi về Hà Nội ngày 27/6/1906, rằng:
“… Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó, để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”.
Lịch sử không thể quay lưng với những cống hiến, hy sinh của một con người lao động chân chính, không vì danh và cũng chẳng vì lợi như Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi xin được nhắc lại những suy nghĩ, những nhận định về Nguyễn Văn Vĩnh của cả người ngày xưa, và người hôm nay:
“Dịch những tác phẩm của Victor Hugo, của Alexandre Dumas, của Lafontaine ra một tiếng nước ngoài đã là một nhiệm vụ đầy khó khăn. Và khi mà thứ tiếng đó lại là tiếng An Nam, là chữ quốc ngữ, một thứ tiếng độc âm, một thứ chữ viết mới được sáng tạo ra chỉ để trao đổi những ý nghĩ đơn sơ nhất, điều đó tưởng như một phương thức không thể nào thực hiện được.
Nguyễn Văn Vĩnh đã làm được điều kỳ diệu đó. Nhưng trước tiên, ông đã phải xây dựng nên một thứ ngôn ngữ viết, thay thế cho chữ Nôm cổ xưa, được coi như một loại chữ viết của dân tộc thiểu số Trung Hoa.
Từ một thứ chữ viết chưa thành hình nó bó buộc ông, ông đã thực là một người thợ kim hoàn kiên nhẫn, và đã mài rũa để nó trở nên bóng bẩy, long lanh, phản ánh được mọi thứ màu sắc tinh túy nhất của ánh sáng mặt Trời”. 19
“Chúng ta hãy bằng lòng để nói rằng, ông Vĩnh viết rất nhiều cả bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng Pháp về sự cần thiết phải thống nhất và hệ thống hóa chính tả, cũng như ngữ pháp tiếng Việt để gia tăng tính hiệu quả và nâng cao tính công dụng của nó. Ông đã xúc tiến và cổ vũ cho việc chuẩn hóa tiếng Việt trong các nhà trường để việc tiếp thu được dễ dàng hơn. Ông muốn tìm được nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và chính xác đối với tất cả các từ vựng, đặc biệt là có xuất xứ vay mượn từ tiếng Hán. Ông viết thận trọng về ngữ âm, về phiên âm, về sự cải biên và khi dịch tiếng Pháp cũng như tiếng Hán ra tiếng Việt.
… Ông là người biện hộ rất sớm việc học tiếng Việt của người Pháp. Theo Nguyễn Văn Vĩnh, hoạt động giáo dục giữa các dân tộc cần phải được tiến hành bằng cả hai chiều, và đặt lên hàng đầu trong kế hoạch tạo sự hòa nhập giữa người Việt và người Pháp, bất chấp cái hố sâu ngăn cách của chủng tộc và thuộc địa, điều mà ông đã ý thức được trong thực tế”.20
“… Bởi vậy, riêng việc ông toàn tâm toàn ý phát triển chữ quốc ngữ, chỉ riêng việc đó thôi, đã bộc lộ toàn bộ cái giá trị của một con người đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ ai, để khiến cho cái thứ chữ đó trở thành một trong những thành tựu bền lâu của trí tuệ con người”.21
Trong
bộ phim tài liệu lịch sử độc lập Mạn đàm về người Man Di hiện đại (2007),
nói về Nguyễn Văn Vĩnh, nhà sử học Phan Huy Lê (1932 – 2018), Chủ tịch Hội Khoa
học Lịch sử Việt nam, đã nhận định:
“Theo tôi, cái
cống hiến lớn nhất của Nguyễn Văn Vĩnh trước tiên đó là tư tưởng, ông và Phan
Châu Trinh là những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. Hai ông đã tiếp
thu rất sớm tư tưởng dân chủ ở phương Tây. Cách vận động tư tưởng dân chủ của
Phan Châu Trinh đã thấm vào Việt Nam, nhưng qua con đường văn hóa của Nguyễn
Văn Vĩnh, nó thấm sâu hơn vào lòng người”.

Xin thành thật cảm ơn Ban tổ chứ hội thảo khoa học vinh danh 100 năm chữ Quốc ngữ, đã tạo điều kiện để tôi được trình bày những nhận thức này!
Xin cầu chúc cho dự án vinh danh chữ Quốc ngữ thành công, và thực sự là niềm kiêu hãnh đối với mỗi người dân Việt Nam!
N.L.B.
* Chủ nhiệm trang tin Tannamtu.com.
Chú thích:
1. Phan Trọng Báu, Giáo dục Việt Nam thời cận đại, (Hà Nội: Khoa học xã hội, 2006), 51-52.
2. “Một giờ với Nguyễn Văn Vĩnh”, Tin Văn, 28/7/1935.
3. “Người An Nam nên viết chữ An Nam”, Đăng Cổ Tùng Báo, 28/3/1907.
4. Vũ Bằng, “Trích nhật ký Nguyễn Văn Vĩnh”, Trung Bắc Chủ Nhật, từ ngày 7/5 đến 11/6/1944 ở Hà Nội.
5. Nhà in Xưa – Nay, Sài Gòn, 1925.
6. Diễn văn của Nguyễn Văn Vĩnh tại buổi thành lập Hội dịch sách ở Hội Quán Trí Tri số 59 (nay là 47) phố Hàng Quạt, Hà Nội, 4/8/1907. Đăng Cổ Tùng Báo, số ra ngày 15 và 22/8/1907.
7. Lời khai của Nguyễn Văn Vĩnh trước Cơ quan an ninh Phủ Toàn quyền Đông Dương, (CAOM, mã số SPCE 374).
8. Thu Hằng, Chương mục Văn hóa, RFI, 7/8/2015.
9. Đăng Cổ Tùng báo, ra ngày 25/7/1907.
10. (Đánh giá của Abdou DIOUF, Tổng Thư ký Hội Pháp ngữ – Francophonie 2008).
11. Emilio Aguinaldo y Famy (1869 – 1964), nhà chính trị cách mạng, Tổng thống đầu tiên của Philippines 1899 -1901). Người dịch Nguyễn Như Phong.
12. Thư Nguyễn Văn Vĩnh gửi Đốc lý Hà Nội 11.12.1907. CAOM. Người dịch Đào Bá Cung.
13. “Quốc-ngữ nguyên huân /Le Tripomphe du Quốc-ngữ”. Đăng Cổ Tùng Báo, 1913.
14. “Đông Dương Tạp chí tờ báo chữ Quốc ngữ sớm nhất ở Hà Nội”. Văn hóa Nghệ An, 9/3/2017
15. Văn hóa Nghệ An, 9/3/2017.
16. Báo chí Hà Nội 1905 -2000, (Hà Nội: Chính trị quốc gia, 2004), 480.
17. Tạp chí Bưu điện Việt nam, số tháng 11/2011.
18. L’Annam Nouveau, số 190 ngày 24/11/1932.
19. Trích điếu văn của ngài Delmas,Chủ tịch Hội Nhân quyền Hà Nội, tại lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ở Hà Nội. Người dịch: Nguyễn Kỳ.
20. Trích bài viết bằng tiếng Pháp “Người Man Di hiện đại” của GS. Christopher E. Goscha, giảng viên khoa Đông phương học, Đại học Montreal (Canada), RFHOM,T.88, số 332-333, 2001. Người dịch: Đào Hùng.
21. Trích từ bài viết bằng tiếng Pháp “Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh”, của Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947), Tạp chí của Hội Tương tác giáo dục Đông Kinh, số 1 và 2, in năm 1936 ở Hà Nội. Người dịch: Phạm Toàn.