100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2), có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN – Phần 1

Kinh chào các quý vị và các bạn độc giả!

Để tiếp tục sự nghiệp phục dựng chân dung thực của dịch giả, nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin gửi tới các quý vị và các bạn bài viết nhân 100 năm Triều đình Phong kiến Việt Nam hủy bỏ chế độ khoa cử theo Nho học 1919 – 2019.Đây là sự kiện lịch sử, cơ sở để chữ Quốc ngữ lên ngôi và thiết lập nền giáo dục hiện đại ở Việt Nam, phục vụ mục tiêu khai dân trí và chấn dân khí của các nhà cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20.Bài viết được chia thành ba phần và sẽ được giới thiệu liên tục trong tuần lễ cuối cùng của năm Mậu Tuất.Kính chúc các quý vị và các bạn đón Tết vui vẻ và khỏe mạnh!

BBT.Tannamtu.com

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Phần thứ nhất

 100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2),

có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN.

Việc đặt đầu đề bài viết là một sự quá sức đối với tác giả, song bản chất, nó liên quan trực tiếp đến ngày hôm nay, đến một nền giáo dục dùng thứ chữ viết được gọi là QUỐC NGỮ, thứ chữ đã thế chân chữ Hán trong lịch sử, và trở thành Quốc tự, tác nhân quan trọng của mọi sự đổi thay tại Việt Nam ở thế kỷ 20.

Chữ viết tiếng Việt theo mẫu tự chữ cái La Tinh, được hình thành từ giữa thế kỷ 17, nhờ sự sáng tạo của các giáo sỹ Bồ Đào Nha đến Đàng trong ở Việt Nam để truyền giáo và giao thương.

Thực dân Pháp đánh chiếm Nam kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi Triều đình Nhà Nguyễn cai quản, lịch sử xác định đó là cuộc chiến tranh xâm lược, tạo nên sự mặc cảm đối với người dân Việt Nam, một dân tộc lạc hậu đã lập tức tỏ ra căm ghét hình ảnh của lũ người ‘Tây lông’ kỳ quặc, với súng ống, lửa khói đáng sợ, để lại một bức tranh tiêu cực dài lâu trong tiềm thức của dân chúng.

Triều đình Nhà Nguyễn chịu ảnh hưởng tư tưởng, văn hóa, ngôn ngữ của phong kiến Trung Hoa gần cả ngàn năm. Chữ Hán được dùng làm văn tự trong hệ thống cai trị và giáo dục. Điều này mặc nhiên trở thành sự đối đầu với văn hóa phương Tây do người Pháp mang tới, tạo ra sự mâu thuẫn giữa hai dòng tư tưởng cũ và mới, Đông và Tây, Nho giáo và Công giáo.

Gần 200 năm sau, tính từ lúc chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh ra đời, đến khi xuất hiện cuộc chiến tranh xâm lược của Thực dân Pháp, xã hội Phong kiến Việt Nam đã gán tội cho chữ Quốc ngữ là sản phẩm của bọn xâm lược, và mặc nhiên đã trở thành đối tượng để bài xích. “Họ quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, là công cụ truyền bá đạo Thiên chúa, không phải là đạo gốc của dân tộc. Họ muốn duy trì học chữ Hán….” (Nguyễn Thiện Giáp ĐHQG.HN).

Hình ảnh của Người Pháp Thực dân đã đè nặng lên tâm lý người Việt Nam từ đó. Cuộc sống luôn là hai mặt, nhìn ở mặt tích cực, đó là sự xuất hiện của một nền văn minh mới lạ. Điều này còn ảnh hưởng mạnh tới cả Nhật Bản(3), Trung Quốc(4) cùng một số các quốc gia châu Á khác. Nhưng với các nhân sĩ tiến bộ người Việt, những người có tư tưởng cách mạng vốn là sản phẩm của nền giáo dục Nho học, đã thực sự nao núng, tạo nên mối quan tâm sâu sắc về khả năng đối phó và thích ứng trước những sự đổi thay không chỉ về chính trị, mà cả về văn hóa, kinh tế, kỹ thuật, khoa học, giáo dục và thương mại…. do người Pháp du nhập vào.

Tuyến đường sắt Lào Cai – Vân Nam do người Pháp xây dựng những năm 1897-1898.

Tuy nhiên, cũng vào giai đoạn lịch sử đó, để xử lý những mâu thuẫn này, cả người Pháp và chính chúng ta, đã thiếu hẳn một loại phương tiện làm cầu nối giữa kẻ cai trị và kẻ bị trị, hạn chế cơ hội để hiểu biết, để thuyết phục lẫn nhau, giúp giảm bớt sự hằn thù, và chiếc cầu nối đó là một loại chữ viết phổ thông.

Sự khác nhau về chế độ chính trị ở ba miền Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hoàn toàn là hệ quả của quá trình cai trị mà Thực dân Pháp sắp đăt. Nó càng trở nên khác biệt một phần do cách tiếp cận của Triều đình Nhà Nguyễn, trong khi người Pháp Thực dân muốn thuận lợi cho công cuộc cai trị và đồng hóa, nên đã chia Việt Nam thành ba miền theo các quy chế riêng (Nam kỳ là thuộc địa, Trung và Bắc kỳ là bảo hộ). Thực tế này đã mang tới không ít hậu quả cho người dân Việt Nam, nhưng cũng nhen nhóm khát vọng một cuộc đổi thay toàn xã hội.

Bản đồ Đông Dương thế kỷ 19. Nam kỳ được ghi tên riêng là Cochinchine

VĂN HÓA, XÃ HỘI VIỆT NAM cuối THẾ KỶ 19 đầu 20.

Các sĩ phu phía Bắc đã gián tiếp chịu ảnh hưởng của các tư tưởng tiến bộ phương Tây, thông qua các loại sách báo tư tưởng của châu Âu được dịch ra chữ Hán, nhờ hai nhà tư tưởng nổi tiếng người Trung Quốc là Lương Khải Siêu (1873-1929) và Khang Hữu Vi (1858-1927). Nhưng để hiểu và nhận thức thấu đáo những nội dung, giá trị của nguyên tác luôn bị giới hạn, do phải thông qua thứ ngôn ngữ trung gian.

Ở phía Nam, nhờ quy chế thuộc địa, đã xuất hiện sớm những nhân sỹ, những nhà văn hóa xuất chúng ủng hộ vai trò của chữ viết quốc ngữ. Tuy nhiên, các yếu nhân tiến bộ ở Nam kỳ ngày ấy, đã không chuyển tải được những ý tưởng của việc phổ biến thứ chữ mới này một cách có hệ thống, thiếu tính quy mô chiến lược, và thiếu cả các phương pháp chiến thuật, nên đã không tạo được trào lưu, mất cơ hội phổ cập cho toàn xã hội.

Tầng lớp cai trị và rất nhiều nhân sĩ Nho học bảo thủ khác, do bị mặc cảm đến mức thù ghét người Pháp thực dân, đã ngăn cản dân chúng tiếp thu và sử dụng chữ quốc ngữ, cùng những kiến thức xã hội, khoa học mới đến từ Tây phương.

Năm 1885, chính họ đã gửi kiến nghị tới Hội đồng Quản hạt Nam kỳ “Đề nghị bãi bỏ chữ quốc ngữ….”, họ lập luận: “Theo thiển ý chúng tôi, hiện nay chỉ có hai thứ tiếng có thể được ở Nam kỳ, tiếng Pháp mà chúng tôi muốn học và tiếng Annam nôm na mà chúng tôi đều biết viết bằng chữ Nôm….”.

Thực tế này đã tạo ra những xáo trộn nghiêm trọng trong nội bộ chính trị Việt Nam, và cả trong các mối quan hệ xã hội khác.

Trả giá cho những xung đột này của lịch sử, chính là các nhân sĩ cấp tiến, những người khát khao đòi cải cách và thay đổi lối sống, lối suy nghĩ cố hữu của một dân tộc thuần nông bị bao bọc trong các thiết chế Nho giáo, cái thiết chế áp đặt người dân sống với ý thức vua tôi (5). Dân chúng An Nam ngày đó, đã tự coi mình là kẻ hèn mọn như một định mệnh, họ không cần tư duy biện chứng, khoa học, không quan tâm đến khả năng phản ứng, đừng nói tới phương pháp đấu tranh đòi công bằng, họ trung thành và thần phục tầng lớp cai trị, chủ trương của học thuyết phong kiến Nhân trị.

Đành rằng, trong hoàn cảnh đó, vẫn có không ít các nhân sĩ tiến bộ người Việt đã nhen nhóm việc hướng dân chúng tìm đến một xã hội dân chủ, bình đẳng, tự do, những điều mà họ thu lượm được từ việc đọc các sách chữ Hán về cuộc Cách mạng Tư sản Pháp năm 1789.

SỰ CAN DỰ CỦA CÁC NHÂN SĨ.

Để đối phó với những hủ tục xã hội khoác áo phong tục, tập quán do chế độ Phong kiến thiết lập, từ những năm 1898, 1899, để không phải tiếp thu các học thuyết tiến bộ phương Tây một cách gián tiếp từ những bản dịch chữ Hán, các nhân sĩ ở Bắc kỳ, đã trực tiếp chuyển ngữ một số tác phẩm kinh điển của các triết gia danh tiếng thế giới sang quốc ngữ như: Contrat social (Khế ước xã hội-Còn được gọi là Dân ước của J.J. Rousseau ‘1772-1778’, nhà triết học), Esprit dé lois (Tinh thần Pháp luật của Montesquieu ‘1689-1755’, nhà tư tưởng chính trị), Traité de l’Esprit (Hiệp ước Thánh linh của Helvétius ‘1715-1771’, nhà triết học) (6).

Theo Phan Châu Trinh, người đả kích kịch liệt chế độ quân chủ đã cắt nghĩa về chế độ ‘Thiên tử’ như sau: “Nó được truyền từ Nhà nước Phong kiến Trung Hoa, và đó là chế độ Nhân trị: Nhân trị nghĩa là cai trị một cách rộng rãi hay nghiêm khắc, chỉ huy tùy theo lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.”

Nhiều nhân sĩ tiến bộ người Việt đã nhận ra, rằng cần phải có cuộc canh tân về văn hóa tư tưởng đối với đồng bào mình.

Còn với Chính quyền Thực dân, nhờ sự thắng thế của công cuộc khai thác thuộc địa, đã thúc đẩy họ phải lựa chọn một thứ ngôn ngữ viết phù hợp với người dân bản xứ. Họ phải chịn loại chữ viết nào dễ tiếp thu, dễ truyền bá để dùng làm phương tiện cai trị, đồng thời là cơ sở để dần rời xa ảnh hưởng văn hóa Phong kiến phương Bắc.

Sự trùng lặp ngẫu nhiên giữa mưu đồ của kẻ cai trị và ý đồ của kẻ bị trị trong việc phát triển vai trò của một loại chữ viết ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ 19, là phương thức tương kế tựu kế trong thời khắc định mệnh của lịch sử, và đương nhiên điều này có lợi cho cả hai phía.

Nền giáo dục Phong Kiến Việt Nam từng bước bị tác động, bị lấn át, một nền giáo dục khoa cử (7) sử dụng chữ Hán, và hoàn toàn chỉ phục vụ cho nhu cầu của bộ máy cai trị, tuyệt nhiên không vì lợi ích quốc kế dân sinh và phát triển xã hội, ở các ghi chép lịch sử đều thống nhất nhận định này.

.

Bức ảnh chụp các tân khoa cuối cùng của nền giáo dục khoa cử phong kiến 1919

Tại Nam kỳ, vào thập niên 60, 70 thế kỷ 19, họ đã đi trước một bước dài trong việc tìm kiếm cơ hội phát triển và phổ cập chữ Quốc ngữ mà đỉnh cao là tập Giáo trình thực hành tiếng Annam (1868) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898), rồi Huỳnh Tịnh Của (1830-1908), Trương Minh Ký (1855-1900), đều là những người tài tâm huyết với vai trò của chữ Quốc ngữ. Đáng tiếc, họ đã không đẩy lên được thành phong trào, rồi để biến thành cao trào, và không có cao trào thì không có Cách Mạng!

Cuối đời, chính nhân sỹ xuất chúng và tiêu biểu nhất thời đó là Trương Vĩnh Ký, đã không dấu được cái tâm tư giằng xé do tâm lý thiếu nhất quán, thiếu cả sự kiên định trong lập trường cách mạng, khi thấy cơ đồ của mình dang dở, ông đã phải cay đắng thốt lên: “Rằng tuy ăn ở cùng Tần, bâng khuâng nhớ Hán muôn đời xót sa”.

Ở Trung Kỳ đầu thế kỷ 20, với cuộc vận động Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu (1867-194) phát động, rồi Duy Tân Tự Cường do Phan Châu Trinh (1872-1926) lãnh đạo cùng các nhân sĩ danh tiếng như Trần Quý Cáp (1870-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)…. Nhưng thật đáng tiếc vì đã không có được cơ duyên để thành công trong việc tổ chức cuộc cách mạng chữ viết.

VIỆT NAM SỬ LƯỢC là cuốn sách đầu tiên viết về lịch sử Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ từ năm 1919 của nhà sử học Trần Trọng Kim (1883-1953). Cuốn sách này từng là sách giáo khoa thời Pháp thuộc và ở chế độ Việt Nam Cộng hòa cho đến 1975. Sách được in tại nhà in Trung Bắc Tân Văn ở Hà Nội năm 1920.

Trung kỳ, một mảnh đất nghèo khó, lại gắn liền với sự áp đặt, kìm kẹp về tư tưởng của Triều đình Phong kiến, luôn mượn danh truyền thống, tập quán để đặt người dân vào những khuôn mẫu của tư tưởng Vua – Tôi. Cuối cùng, các nhân sĩ tiến bộ Trung kỳ đều đã quyết định tìm ra phía Bắc để thực hiện khát vọng của mình.

Nguyên khí của tầng lớp nhân sĩ tinh hoa Việt Nam đầu thế kỷ 20, vô hình chung đã tụ lại ở Đông kinh (Hà Nội), với dấu ấn là sự ra đời Phong trào Đông kinh Nghĩa thục (ĐKNT) 1907. Sự kiện này đã đưa Thăng Long trở thành nơi đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hình thành một phương thức giáo dục mới bằng việc sử dụng chữ viết quốc ngữ, khác hoàn toàn so với nền giáo dục Nho học truyền thống.

Ngôi trường ĐKNT là nơi dạy học theo phương thức tự nguyện. Chương trình dạy cả tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, cho dù Thục Trưởng Lương Văn Can (1854-1927) là Nho sĩ, cùng các nhân sĩ tiêu biểu như Nguyễn Quyền (1869-1941), Lê Đại (1875-1951), Dương Bá Trạc (1884-1944), Phạm Duy Tốn (1881-1924), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936)…. mặc dù có người trong số họ được mệnh danh là Tân học, nhưng đều còn rất trẻ và được đào tạo với những phương thức rất sơ khai, chưa có bài bản của hệ thống giáo dục hiện đại. Đây là áp lực lớn đối với nền giáo dục Nho học.

Thực tế, qua gần một ngàn năm cai trị của Phong kiến Trung Hoa, chữ Hán đã không thể trở thành quốc tự của người Việt, đây là một sự cản trở lớn của nền giáo dục bản xứ và cũng chính là nguyên nhân để chữ Quốc ngữ rộng đường đua chen. Bên cạnh đó, dù Hán ngữ khó học, nhưng dân chúng với tâm lý bất mãn vì là kẻ bị trị, lại quá nghèo khổ, nên họ đã không thể đầu tư cho Hán học một cách rộng rãi.

Trong quá khứ, các nhân sỹ đề cao lòng tự tôn dân tộc đã tạo ra một loại chữ viết riêng cho đồng bào của mình, được gọi là chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm vẫn dựa trên cơ sở hình tượng của chữ Hán, kết hợp với âm ngữ người Việt, và thứ chữ viết đó đã không hội tụ đủ các yếu tố khoa học để hoàn thiện, trở thành văn tự truyền đời cho một “giống dân”, điển hình là bản kiến nghị vào thập niên 70 thế kỷ 19 của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871).

Việc xã hội hóa chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh, kể từ năm 1865 (Thời của Petrus Ký) đến 1906 như một sự trải nhiệm của lịch sử, của Nhà Cầm quyền. Họ đã từng tỏ ra bế tắc, bất chấp sự nỗ lực của các nhân sĩ hàng đầu người Việt, và các chuyên gia đầy kinh nghiệm người Pháp như François-Henri Schneider (1851-1931), Ernest Babut (1878-1962)….

Cuối cùng, chính những nguyên nhân dễ nhận thấy nhất của lịch sử phát triển chữ Quốc ngữ, đã đẩy các nhân sỹ yêu nước, yêu văn hóa Việt, quyết tâm phát động cuộc cách mạng hoàn thiện và phổ cập chữ viết tiếng Việt dùng ký tự chữ cái La Tinh, phục vụ chủ trương: Khai dân trí và xây dựng nền giáo dục hiện đại!

Chú thích:

1: Triều đình Phong kiến Việt Nam tổ chức thi Hội, là khoa thi Nho học thường lệ 3 năm 1 lần tại trung ương để tuyển chọn người tài. Người đỗ cả bốn kỳ của khoa thi Hội là đậu đại khoa sẽ được xếp hạng Tiến sĩ. Tiến sĩ sẽ được bổ nhiệm giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị.

2: Thi Đình, là khoa thi Nho học cao cấp nhất của Triều đình dành cho những người đỗ kỳ thi Hội. Người đỗ đầu (thủ khoa) còn được gọi là Đình Nguyên. Gọi là thi Đình, vì được tổ chức trong cung điện của nhà Vua. Người đỗ thi Đình sẽ được bổ nhiệm làm quan trong Triều đình.

3: Năm 1868, Nhật Bản chấm dứt 265 năm Phong kiến, bắt đầu kỷ nguyên Minh Trị Thiên Hoàng và thực hiện công cuộc hiện đại hóa, xây dựng đất nước theo các học thuyết chính trị của Anh và Pháp.

4: Mùa Thu năm 1891, Lương Khải Siêu đến gặp Khang Hữu Vi và tôn Khang Hữu Vi làm thầy. Từ đây, hai vị nhân sĩ này trở thành những người lính xung kích của trường phái Tân học ở Trung Quốc. Trong thời gian này, họ còn soạn ra bảng thống kê có đề mục: Tây học như mục biểu, gồm 300 cuốn sách đã dịch từ tiếng Anh, Pháp ra Hán văn để mọi người tìm đọc. Từ Hi Thái Hậu (1835-1905) đứng đầu phái bảo thủ đã chống đối quyết liệt những tư tưởng duy tân của hai nhà cách mạng này, họ đã phải lưu vong sang Nhật Bản.

5: Về quan hệ vua tôi, Khổng Tử viết: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” (Wikipedia).

6: Phỏng vấn của nhà báo Thái Phi, đăng trên báo TIN VĂN, là Tuần báo văn học

và mỹ thuật phát hành tại Hà Nội ngày Chủ Nhật 28/7/1935).

7: Nền giáo dục khoa cử, do Nhà Lý (năm 1075) là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam xác lập hệ thống giáo dục khoa cử có hệ thống. Từ đầu công nguyên thời Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc đã truyền bá chữ Nho (Hán), mở trường học tại Việt Nam, với quan niệm là công cụ đồng hóa. (Wikipedia).

Bản thân chữ khoa cử đã mô tả đúng như nghĩa đen của từ.

Hết phần thứ nhất.

4 Responses

  1. Thật thú vị. Cám ơn anh Lân Bình. Chúc anh và gia đình năm mới anh khang, thịnh vượng.
    Vũ Xuân Tửu

  2. Sự kiện 100 năm Việt Nam chấm dứt nền học vấn khoa cử đánh dấu bước ngoặt của VN sang nền văn minh mới, nền văn minh phương Tây.Đúng là người ta đã cố tình không muốn nhắc đến sự kiện này.Đây là điều thât đáng tiếc. Tôi vừa đi nằm điều trị dài ngày ở bệnh viện về,sẽ xin đề cập đến sự kiện quan trọng này vào một dịp khác.
    Xin gửi đến anh Nguyễn Lân Bình,cùng các bác,các bạn những lời Chúc Mừng Xuân Kỷ Hợi tốt đẹp nhất !
    Phạm Khiêm Ich

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network