Thưa các quý vị và các bạn!
Sự nghiệp đồ xộ về văn hóa lịch sử của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người nổi tiếng với vai trò tiên phong trong lĩnh vực dịch văn học nước ngoài ra chữ Quốc ngữ ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, khi chữ Quốc ngữ còn chưa trở thành phổ thông, người được mệnh danh là kẻ khai sinh nền in ấn và xuất bản văn học chữ Quốc ngữ ở đầu thế kỷ XX, người bị hầu hết các thể chế chính trị ở Việt Nam mang định kiến nặng nề đến mức đối đầu, để lại những khó khăn vô vàn trong việc sưu tập và tổng hợp các tư liệu về ông.
Từ bốn chục năm trước, các con Nguyễn Văn Vĩnh đã từng khổ tâm, cay đắng trước những dị nghị không có cơ sở và thiếu minh bạch của lịch sử đối với cha mình, đã dồn tất cả nhửng khả năng hạn hẹp để quyết tâm đi tìm các cứ liệu ở các trung tâm lưu trữ bằng các phương pháp thô sơ nhất, nhưng tốn kém nhất, với mong muốn chứng minh những gì là thật về Nguyễn Văn Vĩnh, và không chỉ dành cho hậu duệ trong gia tộc, mà còn để đối diện với các diễn ngôn lịch sử trong quá khứ.
Tuy nhiên, dù nỗ lực đến tận cùng, việc lan tỏa và phát huy những kết quả có được trong hoạt động này của các con học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã bị giới hạn ở nhiều khía cạnh, trong đó có cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan, và nguyên nhân nào cũng giữ vai trò quan trọng.
Trong hơn hai chục năm kế thừa những kết quả sưu tập của các bậc cha chú, đến nay, số lượng các cứ liệu và các dữ liệu có cơ sở khoa học chắc chắn về con người và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã đạt đến khối lượng lớn, trong đó có tới ½ do duyên phận và số phận của chính đề án đem lại. Đó là nhờ sự hiển linh của các vong hồn đã khuất, nhờ sự trung thực của chính các hành vi mà Nguyễn Văn Vĩnh đã hành xử với đời lúc sinh thời, và nhờ lòng kính trọng cũng như ngưỡng mộ của người đời đối với Nguyễn Văn Vĩnh.
Để tưởng nhớ và hiểu thêm về con người xuất chúng của lịch sử, nhân 90 năm ngày Nguyễn Văn Vĩnh qua đời (1936-2026), trang tin chuyên đề Tannamtu.com, xin giới thiệu với các quý vị và các bạn một bài phỏng vấn trực tiếp Nguyễn Văn Vĩnh năm 1935, khi ông vào dự họp Đại Đồng Hội Kinh tế Đông Dương ở Sài Gòn. Bài phỏng vấn được thực hiện bởi nhà báo người Nam bộ có bút danh Ôn Đình, được đăng trên TUẦN BÁO TÂN VĂN Sài gòn ngày 4/4/1936.
Trân trọng!
MỘT GƯƠNG TỰ HỌC
(Tuần báo Tân Văn Sài Gòn ngày 4/4/1936).
Một buổi chiều về mùa Đông năm ngoái ở Sài-Thành bữa đó, tôi còn nhớ, tấm màn tối tuy đã phủ kín mặt đất mà trời vẫn còn nóng bức, như vào buổi trưa ngày Hạ vậy.
Giữa lúc mọi người bị cái không khí nung nấu và nặng nề ở trong nhà nó xua đuổi ra lề đường bờ sông hứng gió, thì trước băng ba một căn phòng sạch sẽ, rộng rãi ở tầng thứ nhất cái khách sạn đồ-xộ, nguy-nga ngó thẳng qua sở xe-lửa Saigon – khách-sạn Đại-Nam – một ông già quắc thước, tráng-kiện và đầu tóc đã điểm mai như nhuốm màu “tiêu muối” đang ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi: ông Nguyễn-văn- Vĩnh chủ-nhiệm báo “An-nam Nouveau”.
Tiên-sanh vô Nam để dự Đại-hội-nghị nhóm ở phòng Thương-mãi Saigon.
Những bữa mà tôi tới thăm tiên-sanh, Hội-nghị đã bế mạc từ mấy ngày rồi. Tôi lại còn được tin thêm rằng Nguyễn tiên-sanh cũng sắp cáo biệt Sài-thành để trở ra Bắc.
Bởi vậy, khi bước tới cữa khách-sạn, ngó thấy bóng tiên-sanh ở trước hàng ba, tôi liền lật đật đi thẳng lên phòng trọ của tiên-sanh ngay.
Lúc bước vô phòng thấy đồ đạc và quần áo của tiên-sanh nằm ngổn ngang trên bộ ván gỗ, như có ý như trông đợi chủ nhơn động vô nghĩ trong mấy chiếc va-ly lớn, tôi bèn lấy việc đởm đầu cho câu chuyện:
- “Tôi coi chừng như tiên-sanh sửa soạn để trở về Bắc thì phải, nhưng tôi thiển-nghĩ không mấy khi tiên-sanh có dịp rảnh rang cất mình vô Nam thì những dịp nầy, tiên-sanh nên ở lại thêm ít ngày đi chơi Lục-tỉnh (chỗ có tiếng là mến khách), cho được biết cái tình-hình sanh-hoạt và trình-độ dân trí ở Nam-Phương gần đây thay đổi ra thế nào?”.
- “Có, tiên-sanh đáp, điều đó khi mới vô đây tôi có nghĩ tới trước nhứt và hiện đã có làm rồi. Vì có đem xe hơi riêng theo, sau khi Hội Nghị bế mạc, nghĩa là cách hơn tuần nay, tôi có đi chơi được mấy tỉnh như Hà-Tiên, Long-Xuyên, Sa-Dec, My-tho…
Nhân dịp đó, tôi được thăm viếng mấy bạn đồng-chí củ như ông Võ-Hoành ở Sa-Dec và ông suôi-gia với tôi ở Long-Xuyên. Khi qua Sa-Dec tôi định đi cả Bến-Tre nữa, vì ở Bến-Tre tôi cũng có ông bạn đương ngụ ở đó, ông Nguyễn Quyền, nguyên chưởng giáo Đông-kinh nghĩa thục. Nhưng bởi không tiện đường nên sau khi ở nhà ông Võ ra tôi về thẳng Saigon. Tôi cũng mới tới đây hồi hôm”.
- “Nếu không có điều chi trở ngại, tôi rất lấy làm may mắn được tiên-sanh cho biết sơ cái quan niệm của tiên-sanh về nhơn vật ở xứ nầy?”
- “Khi ở Saigon, cũng như khi đi chơi Lục-Tỉnh, tuy chỉ ở mỗi nơi được ít ngày mặc dầu, tôi cũng được gặp gỡ một số đông đồng bào trong nầy. Theo như sự thấy riêng của tôi, anh em ở Lục-Châu vẫn còn bảo thủ những lễ nghi và phong-tục xưa. Người ta vẫn còn giữ cái vẻ thuần phác và chơn thật lắm. Sự hoạt động của các chân thành chưa hề làm lay chuyển cái đời sanh-hoạt êm đềm của đồng-bào ta”.
- “Nhưng ở những chốn đô-hội như Saigon là chốn tụ hội của các sắc dân (ville conmopollite), cái tâm-tánh, cái chí-hướng cùng sự cử động của người ta lại khác. Từ đi đứng, ăn nói cho tới suy nghĩ, người ta cố ý ‘chép’ theo người Tây. Hạng người làm tiêu-biểu về dư-luận và chánh-trị cho quần-chúng mà ông cũng như tôi đã thấy đó lại càng ‘tùy dư’ hơn ai hết. Họ có học rộng, tài cao, cái đủ chúng ta phải nhận như vậy. Nhưng tài ấy không phải là tài sáng tạo, mà là tài bắt chước và cái học ấy tuy có thừa bề rộng mà thiếu bề sâu”.
Nói tới đây, tiên-sanh ngừng lại và sẻ nhoẻn miệng cười, cười một cách kín đáo, như điểm xuyết thêm cho bức tranh phác họa nhơn vật trên nầy.
Rồi chẳng đợi cho tôi hỏi tiếp, tiên-sanh đã quay ra đàm đạo và bình-luận với tôi về những việc xa gần, mất gần một tiếng đồng hồ.
Sau câu chuyện riêng, thấy tiên-sanh có vẻ giản-dị, thành thiệt và quang-cố đến người bạn đồng nghiệp trẻ, tôi bèn này cái ý-kiến muốn nhơn dịp này được tiên-sanh cho biết về cái sự nghiệp học-vấn của tiên-sanh.
Tại sao tôi lại có mong muốn đó? – Bởi tôi tự nghĩ đem thuật lại việc mà tiên-sanh đã tại được cái vốn lớn về tinh-thần bằng sự học lấy, biết đâu chẳng phải là đem treo cao một bó đuốc đặng rọi sáng đường cho kẻ hiếu học noi theo.
Nghĩ vậy rồi, tôi mới đành bạo cất tiếng hỏi tiên-sanh:
- “Theo như chỗ biết và thấy của tôi, tiên-sanh chỉ nhờ ở sự tự học mà có được cái học cao siêu như ngày nay, bởi vậy tôi mong tiên-sanh cho biết qua công-trình tự-học mà tiên-sanh đã mất đà công đeo đuổi?”.
Vốn tánh khiêm nhường và ghét sự quảng cáo, lại như chẳng muốn phô trương cái học của mình cho ai hay, Nguyễn Tiên-sinh đáp câu hỏi của tôi trước nhứt bằng sự nhún vai và cười. Nhưng có lẽ vì cái lòng chơn-thành của khách, sau một phút do dự, tiên-sanh đã vui vẻ và ôn tồn thuật chuyện một cách chậm rãi:
- “Cái đời học của tôi? Nếu nói kỹ thì nó dài lắm. Tôi xin phép ông nói sơ về những chỗ thiết yếu thôi.
“Tôi đi học sớm lắm. năm 1892 khi mới có 10 tuổi, tôi đã thi đậu ra trường Thông-ngôn (Collége des Interprètes) nhưng khi đó còn nhỏ tuổi quá thành ra nhà trường lưu lại học thêm đến năm 14 tuổi mới được ra. Tôi nhớ khi thi ra trường đậu số 1. Trường Thông ngôn hồi đó hóa thân ra trường Bưởi (Collége du Protectorat) ngày nay.
Nhưng sự khi đó so với bây giờ khác nhau xa. Về toán học, về địa-dư, về sử-học và khoa-học, người ta dạy ít lắm. Trong mấy năm theo học ở trường, chúng tôi chĩ để thì giờ chuyên tập pháp văn thôi. Vì đó, về lớp trước, những người xuất thân ở trường Thông ngôn ra viết Pháp văn thường là khá cã, nếu chẳng được hay nữa.
Nhà trường tuy dạy về khoa-học, sử-học sơ sài mặc lòng, nhưng vì cái chí háo-học, chúng tôi cũng không chịu kém cõi về mấy môn đó. Ngoài những sách mượn được chúng tôi lại gửi qua bên Pháp mua nữa để học thêm, để bổ-cứu những chỗ dự đoán của mình. Nhờ ở sự học lấy đó, về khoa-học cũng như về văn học, chúng tôi đều thông tỏ cả, lại dễ như về văn-học-sử của nước Pháp, chúng tôi hầu hết thuộc lòng những áng văn kiệt-tác của các danh sĩ từ thế-kỷ thứ 17 đên thế-ky 19. Về toán-học cũng vậy, ngay ở các trường trung-học bây giờ, người ta chỉ dạy có sơ-đẳng toán-học (mathematique en elementaires) mà khi trước, chúng tôi lại biết cả Cao-đẳng toán-học (math.supérieures).
Sự học dạy ở trường Thông-ngôn hồi trước tuy vẫn mang tiếng là thua kém ở các trường cao-đẳng tiểu-học (primaire superieu) ngày nay xa, nhưng tôi dám nói rằng trình độ học vấn của học trò khi đó còn cao hơn những học trò thi đậu văn-bằng tú-tài bây giờ.
“Tôi dám làm sự so sánh thế ấy là vì chính tôi có mấy đứa con, đứa thi đậu tú tài văn chương, đứa thi đậu tú-tài khoa-học, nhưng xem ra sự biết của chúng còn thua xa sự biết của lớp chúng tôi về trước.
“Chúng tôi lại còn vì một cái nguyên-nhân – hay nói chó đúng cái động-lực – sau này nó làm cho sự học khá thêm nữa: hồi tôi được đổi ra làm thông-ngôn ở sở Đốc-lý Haiphong, năm 1897. Hội Trí Tri (tức như hội Khuyến-học ở Nam-kỳ) tại châu-thành nầy có mới những người làm việc các ty, các sở mà có tiếng là học giỏi đến nhà Hội dạy dùm. Tôi cũng là một thầy giáo ở trường Trí Tri, đâu khi đó tôi còn nhỏ tuổi.
“Trong khi dạy học, nhà trường không ủy cho ai chuyên giảng một khoa nào. Hễ ai gặp khoa nào phải dạy khoa ấy. Bởi vậy, thấy thiếu sót về một mặt nào, thầy giáo phải tự học thêm tức thì. Chúng tôi thường có một cái quan-niệm chung: khi nào thấy thua, kém một bạn đồng-sự nào khác môn gì, chúng tôi như là một nhục lớn và lấy làm phẫn uất vô cùng!
“Ấy! Cái học-trào và cách tự học của lớp chúng tôi khi trước đại-khái là như thế. Nhưng nói cho đúng ra, chúng tôi cũng chẳng theo một phương pháp nào cả, nhưng chỉ vì khao khát ham biết, ham học, rồi hễ vớ được sách là cúi đầu mà đọc, mà học, nên chi mới có được mớ tri thức như ngày nay.
“Cách học như vậy tuy không có quy cũ và chẳng khỏi hao tốn công phu và nhứt là ngày giờ nếu người theo học không có óc xét đoán và ý-thức, nhưng nó có lợi lắm, vì trong sự học phương tây, các khoa học có cái tương-quan mật-thiết với nhau, nếu có học được đầy đủ thì sự học mới khấu-triệt. Ngày nay người ta bắt buộc học-sanh trước khi vô các trường Cao-đẳng phải có bằng tú-tài, chính là vì lẽ đó, bởi có học tới bậc tú-tài, người học trò mới có đủ kiến-thức phổ-thông đặng theo đuổi sự học ở các trường cao hơn.
“Nhưng tiền-đồ học-nghiệp của tôi tới đây chưa phải đủ chấm cái dấu sau chót. Lúc làm việc và dạy học ở Hải-Cảng, tôi có cái duyên may mắn được ông Chúa Sông Nguyễn-hữu-Thu – ông nầy cũng có nhiều tầu chạy như ông Bạch-Thái-Bưởi tri ngộ về hàn tài (ko rõ từ này/bt). Ông Thu thiệt là một người hào-hiệp và có dạ chơn-thành khuyến khích thanh niên cầu học. Thấy tôi học đã khá mà lại thông-minh hiếu học, ông hết sức khuyên tôi nên qua Pháp mà học thêm và có hứa sẽ giúp tôi học phí, nếu tôi có đủ tài, đủ sức mà đi theo sự học cho đến cùng.
Ở trước cũng như nay, về mặt chánh trị, tôi chẳng ngần ngại gì mà nói thiệt với ông rằng – tuy tôi với ông Thu, mỗi người một quan-niệm riêng hay nói cho thiệt ra, có khi hai bên còn nghịch với nhau như kẻ đứng ở đầu này và người đứng ở đầu kia đường trực-kính nữa, nhưng riêng với sự thành tâm trợ-cấp cho bọn trò ham học thì, đến nay, ông Thu dẫu là người thiên-cổ rồi mặc lòng, tôi vẫn nhận ra nước ta vẫn ít có được người giàu lòng nghĩa hiệp, và sốt sắn với việc đào-tạo nhơn tài như ông vậy.
“Vốn tánh ham học và được người hứa giúp, lại nhơn dịp năm 1906, được cử vô phái-bộ đi dự cuộc đấu-xảo Marseille, tôi bèn lợi dụng ngay dịp đó để qua Pháp học.
Lúc ở Paris, tôi đã đi học thi vô trường Cao-đẳng Sư-phạm (École normale supé rieure), trường mà cậu Phạm-duy-Khiêm đã theo học.
Chẳng những tôi muốn thi vô học trường đó được mới thỏa chí nguyện mà chính ông Thu bình sanh cũng có nuôi cái mong được ngó thấy một người Việt-Nam vô được trường nầy. Nếu ông còn sống đến nay và được thấy trường cao nhứt của nước Pháp đã ghi tên hai người Việt-Nam là cậu Khiêm về văn khoa, và một người nữa – mà tôi quên lững mất tên – về khoa học thì thiết tưởng đời ông không còn lấy gì làm vui mừng cho bằng.
“Nhưng rủi ro thay! Tôi đang sữa soạn việc thi vô trường và theo đòi học tập chưa đặng một năm thì ở nhà, bà thân (sinh) tôi bởi (mới) sinh hạ được có mỗi mình tôi là trai, ngày nào cũng tới nhà ông Thu nằm vạ và một hai buộc ông phải làm thế nào kêu được tôi về!
Đương ở Paris như cá được gặp nước, tôi tuy thỏa cái vẫy vùng trong biển học, nhưng nghĩ đến cảnh mẹ già trông con, tôi không cầm lòng ở yên theo học, nên qua năm 1907, tôi đành phải từ giã sự học mà đáp tàu về nước.
“Dầu không tạo được chí nguyện mặc lòng, cái cơ-hội qua Pháp lần thứ nhứt đó đã khiến cho tôi học được thêm chẳng ít và hơn nữa, sáng mắt ra cũng nhiều. Thiệt vậy, nhờ được ngó rộng thấy xa, nhất là thấy được sự hoạt động của các nhà báo bên đó, tôi mới dám “ly dị” với nghề cạo giấy và bắt đầu mến một nghề mới nó hạp với chí-hướng mình: nghề làm báo.
Bởi vậy sau khi về nhà, tôi bèn đễ tâm ngay vào những việc dịch sách, viết báo cho đến ngày nay. Những sách mà tôi đã dịch, ông chắc đã coi, tôi không cần nhắc lại cái khổ tâm về sự tìm tiếng, lựa chữ lúc buổi đầu ra sao, ông chắc đã thừa rõ rồi. Còn về nghề viết báo, tôi chẳng dám kể công nhưng lấy làm mừng được là người đã sáng tạo ra trước nhứt lối văn nghị-luận ở nước Nam.
“Nhưng tôi còn một điều nữa muốn nói thêm với ông mà điều đó tôi cho là quan hệ: trong cái đời học lấy của tôi về sự học thì đó là tôi tự chuyên tập lấy đã đành, nhưng về tư-tưởng và hành-vi thì tôi chịu ảnh hưởng ở một ông đồ nho là ông Phan-văn-Đại rất nhiều. Cũng vì ổng tôi mới để mình vô việc dịch sách. Ổng là người đã làm khuôn mẫu cho đời tôi và – điều mà tôi không bao giờ quên được – đã để lại cho tôi một cái gia phả rất lớn: nhơn phẩm.
“Làm người, theo như tôi, cần có đức dục hơn trí dục, “Sĩ khả sát, bất khả nhục”, kẻ sĩ nào cũng cần lấy câu châm ngôn đó làm cuốn kinh thự-tụng. Người học trò mà thiếu nhơn cách, không tiết tháo thì có học cũng như không, mà tệ hơn nữa là còn có hại cho nòi giống!”.
Nguyễn tiên-sanh nói tới đây thì tiếng chuông đồng hồ ở căn phòng bên đổ 3 tiếng như có ý nhắc cho chúng tôi hay rằng đêm đã khuya rồi. Lại hơi người trộn với khói thuốc tỏa ra trong phòng cũng như muốn hối khách ra về. Tôi bèn cáo từ tiên-sanh để người còn có chút giờ nghĩ mà lấy sức trong buổi mai trên con đường thiên-lý…
ÔN-ĐÌNH
(Xin cảm ơn ông Võ Xuân Quế người đã sao lục bài báo này!)
Viết lời dẫn và chép sang bản mềm (word): Nguyễn Lân Bình.
