Lời dẫn:
Nhờ duyên số, hơn hai chục năm qua tôi có chút dan díu, gắn bó với với báo giới do dấn thân vào việc tìm hiểu, khảo cứu về nhà dịch thuật, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).
Trong suốt quãng thời gian lăn lộn với những tư liệu lịch sử liên quan đến đề tài, tôi tuy không phải là nhà này, nhà nọ… nhưng may mắn được làm quen, thậm chí có được cả sự thân thiết với báo giới, và không phải chỉ ở Việt Nam…
Đã có không ít các tổ chức xã hội, các nhà nghiên cứu, nhà báo, khi tiếp cận với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, đã không dấu nổi sự ngưỡng mộ, mang đến cho họ lòng kính trọng đặc biệt, khơi dậy lòng trắc ẩn của không ít người, với đủ các thứ bậc của tuổi tác, danh vị, cả trong làng văn hóa cùng giới nghiên cứu, học tập… Họ đã tự nguyện, kiên nhẫn hợp tác cùng tôi trong từng giai đoạn, họ động lòng và thống nhất việc chứng minh, Nguyễn Văn Vĩnh không phải như đánh giá mà dòng sử cầm quyền từng nhìn nhận qua lăng kính của các chế độ chính trị trong lịch sử, họ tin rằng, ông là một hình ảnh khác trong lịch sử văn hóa của đất nước này vào đầu thế kỷ 20!
Sự kiện:
Năm 1996, nhân 60 năm ngày Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, lúc đó, không khí cực đoan, tư tưởng bảo hoàng của những người làm công tác văn hóa tư tưởng trong bộ máy cầm quyền còn rất nặng nề, việc viết rõ, viết sâu về Nguyễn Văn Vĩnh là điều khó cho những người chịu trách nhiệm phê duyệt nội dung để đăng đàn.
Có một nhà báo của Báo “Người Cao Tuổi”, đã tỏ ra sót xa khi nghĩ rằng, một cái mốc quan trọng như thế của một con người tuyệt vời như thế, một nhà hoạt động với nhân cách cao thượng cùng những cống hiến hàng đầu trong lịch sử báo chí, nhưng sự thật về con người này luôn bị che lấp và im lặng, mà giới làm báo, giới văn hóa không có lấy một chữ nào về sự kiện này, thì liệu như thế có phải là lương tâm, là đạo lý của một xã hội không? Thôi, vậy chí ít, như một nén hương dành cho một người đã khuất với công lao hiện hữu, nhà báo Lê Văn Ba đã quyết định viết bài.
Để khắc phục những trở ngại trong tư duy ngày đó của các cơ quan quản lý, để tự giải phóng nỗi niềm của chính mình, nhà báo Lê Văn Ba cùng nhà báo Lê Xuân Kỳ, vốn là những người am hiểu và từng suy ngẫm nhiều năm về con người và sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, đã quyết định thực hiện một việc mang tính đạo lý này.
Nhưng nếu viết thẳng thắn để khẳng định vai trò Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử, thể hiện thái độ hàm ơn và vinh danh Nguyễn Văn Vĩnh nhân lần giỗ thứ 60, thì đầu đề bài viết sẽ gây khó cho những người đồng nghiệp của ông khi phê duyệt. Vì vậy, hai ông đã chọn cách đi vòng, bằng việc đặt đầu đề bài báo mang tính gián tiếp: “Trò chuyện với con trai Nguyễn Văn Vĩnh”.
Người con trai của Nguyễn Văn Vĩnh mà họ muốn nói tới đó, là một kẻ có danh, với những dâng hiến lịch sử có giá trị độc nhất trong cuộc cách mạng cướp chính quyền diễn ra vào tháng Tám năm 1945, và không ai phủ nhận hay bác bỏ, và đó là Nguyễn Dực (1921-2000).

Phản ứng xã hội:
Chỉ chưa tới 10 ngày trôi qua kể từ khi bài báo ra đời, vào một ngày đi làm bình thường, Lãnh đạo Bệnh viện Hữu nghị cho người đến nhà Nguyễn Dực thông báo: Mời bác Nguyễn Dực đến gặp Vụ Tổ chức Cán bộ – Bộ Y tế.
Ngập tràn sự lo lắng, hồi hộp, bởi lẽ Nguyễn Dực cho rằng, mình đã nghỉ hưu bao nhiêu năm rồi, không biết có chuyện gì nữa mà họ lại cho gọi mình?
Trong cuộc đời theo cách mạng của Nguyễn Dực, ông đã có tới ba lần bị tuyên án tử hình (8/1945, 1948 và 1955), không kể vô vàn những lần cấp có thẩm quyền ở những nơi ông từng công tác như Trường Đại học Bách khoa (niên khóa 1958-1960), Cục Vật tư, Bộ Văn hóa (giai đoạn 1963-1970)… đã không ít lần yêu cầu ông viết kiểm điểm, tường trình những mối quan hệ xã hội, dòng họ, chỉ vì ông là con trai của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (bồi bút – Theo quan điểm chính trị của Nhà Cầm quyền giai đoạn 1955-1975).
Phức tạp và ám ảnh hơn nữa, Nguyễn Dực còn là em trai của người tù chính trị Nguyễn Phổ (1917-1997), người từng bị tù 17 năm liền từ 1955 đến 1972 (sau này Chính phủ, Nhà nước VN đã xin lỗi… vì… ‘nhầm’!). Nguyễn Phổ là tình báo Ngoại tuyến của Cục Hai – Bộ Quốc phòng VN trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, người cùng tiểu đội với Trần Quốc Hương (Mười Hương 1924-2020) và nhà văn Vũ Bằng (1913-1984).
Một quá khứ ‘nhuốm màu’ như thế, thử hỏi hôm nay, việc Vụ TC Cán bộ cho gọi đến, làm gì mà Nguyễn Dực không…hoảng hốt…?!
Ông đạp xe tới Bộ Y tế, vào Vụ TC CB gặp người có trách nhiệm. Ông đã thuật lại với tôi ngay sau sự việc (tôi là con trai lớn) bằng một thái độ có phần…ngộ nghĩnh:
“Bình biết không, cha không kịp nói, cũng chưa kịp hỏi rằng có chuyện gì…? Vị cán bộ của Vụ TC CB đã nhanh nhảu… Chúng tôi xin lỗi bác, vì lỡ ‘quên’ xem xét hồ sơ của bác suốt mấy chục năm rồi, mà cũng không có ai nhắc cả… Các đồng chí Lãnh đạo Vụ, đọc được bài báo trên báo “Người Cao Tuổi”, đã lập tức báo cáo Bộ và chỉ đạo chúng tôi xem xét cụ thể trường hợp của bác.
Thưa bác, xét các tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước về chế độ với Người có công với Cách mạng, trường hợp của bác được công nhận là “Cán bộ Tiền Khởi nghĩa”, người có công với Cách mạng, vì bác tham gia Cách mạng từ trước 19/8/45.
Toàn bộ các quyền lợi tính theo chế độ trên cơ sở 51 năm tham gia cách mạng, bác được lĩnh 3 triệu 700 ngàn đồng, và nhận tiền tại Phường, nơi bác sinh sống! Chúng tôi xin lỗi bác, và xin được trao lại toàn bộ các hồ sơ giấy tờ chứng nhận của bác…”.
Cha tôi kể với giọng điệu có chút ngạc nhiên, tôi không thấy ông có biểu hiện của sự xúc động, càng không phải sự hồ hởi hay vui mừng… Rồi ông nói tiếp:
“Con ạ, hình như họ đọc nội dung bài báo “Người Cao Tuổi”, trong đó cha có kể lại ngắn những hoạt động chính của mình trong thời gian kháng chiến, cha chỉ nói ít thôi vì cơ bản, đa phần nội dung bài báo là nói về ông nội mà…”.
Xin trích dẫn:
“Tôi đi Việt Minh từ trước tháng 8 năm 1945, có mặt trong cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 và đã kéo còi ở Nhà Hát Lớn thành phố báo tin cuộc Cách mạng Tháng 8 mở đầu. Ngày 2/9/1945, Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Máy móc điện đài là do tôi chuẩn bị. Với điều kiện, (máy móc lúc ấy tất cả là của nhà, đi mượn và sửa chữa) mà lắp đặt máy cho Bác nói và hàng chục vạn người nghe rõ ràng, là một cố gắng lớn. Tôi cũng là người làm kỹ thuật cho Đài Tiếng nói Việt Nam ở Bạch Mai truyền đi những tin tức đầu tiên về cuộc cách mạng tháng 8/1945 đến với cả nước và thế giới…
Toàn quốc kháng chiến, tôi đi theo một bộ phận của Đài vào khu 4 để thành lập một trung tâm phát mới. Sau này tôi chuyên môn làm điện đài, tăng âm, khi về hưu ở Bệnh viện Hữu nghị, cũng làm loa đài phục vụ các hội nghị và máy móc y tế, bây giờ lương hưu được hơn 200 ngàn đồng”.
Tôi cảm nhận thấy, qua cái chất giọng của ông, hình như, cha tôi chỉ tỏ ra hàm ơn những người viết báo. Theo ông, có lẽ những cán bộ có trách nhiệm của Bộ Y tế khi đọc nội dung bài báo cảm thấy… mủi lòng, vì khi tiếp ông, người cán bộ của Vụ TC CB đã hỏi ông như thế này (trích từ bài báo):
“Tôi thấy ông quen rất nhiều cán bộ cấp cao, cả Hồ Chủ tịch và Chủ tịch Xu Pha Nu Vông cũng yêu quý thăm hỏi, mà sao lương ông thấp thế…???”.
Lời kết:
Vậy là, chỉ qua một bài báo thôi, cha tôi được nhìn nhận là một người khác, theo quan điểm của chế độ chính trị mà ông tồn tại.
Ba mươi năm đã trôi qua sau cái sự kiện ‘động trời’ ấy của gia đình tôi, hàng năm, họ luôn náo nhiệt tổ chức kỷ niệm ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam” cho dù có không biết bao nhiêu luồng ý kiến khác nhau về sự kiện này. Từ khi thế giới truyền thông được phát triển trên không gian kỹ thuật số, cộng đồng người dùng càng có cơ hội được tiếp cận với những quan điểm trái chiều từ các lực lượng xã hội khác nhau, cùng với bao nhiêu câu hỏi còn bỏ ngỏ về sự thật lịch sử của ngành báo ở Việt Nam… Nhưng ở một góc be bé, tôi vẫn cảm ơn thật lòng các nhà báo, các cơ quan truyền thông cả của TW lẫn địa phương, những người có tấm lòng, có dũng cảm, trong việc đã mạnh dạn đề cập đến những sự thật bị vùi lấp về gia đình chúng tôi nói riêng, và gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh nói chung!
Ghi chú:
Công việc cuối cùng của ông Nguyễn Dực trước khi nghỉ hưu là: Chuyên viên Vô Tuyến điện, phụ trách hệ thống máy điện tim Nihon Kohden (Nhật Bản), là giải pháp hàng đầu trong chẩn đoán tim mạch, với công nghệ phân tích sóng ECAPS 12C và phần mềm synECi18.
Đây là hệ thống máy điện tử hiện đại, do Đảng Cộng sản Nhật Nhật Bản tặng cho Đảng Lao động Việt Nam vào đầu thập niên 70 ở thế kỷ trước. Người bệnh nhân đầu tiên được xử dụng hệ thống này chính là nữ anh hùng Võ Thị Thắng (1945-2014).
Người tiếp theo được đưa vào xử dụng hệ thống thiết bị này là Hoàng thân Xuphanuvông (1909–1995) – Nguyên Chủ tịch đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Nguyễn Lân Bình.
