Thưa các quý vị và các bạn!
Xấp xỉ một thế kỷ trước, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nhân danh cá nhân để bày tỏ với các đồng nghiệp Nam kỳ, với làng ngôn ngữ tiếng Việt nỗi niềm khi nói về sự cần phải đầu tư có khoa học cho sự phát triển và hoàn thiện chữ Quốc ngữ.
Nhân 90 năm ngày giỗ của NVV, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của ông để một lần nữa chứng minh: Ông là ai trong nền văn hóa chữ Quốc ngữ ở TK 20?
Trân trọng!
NLB
ĐỂ CÓ MỘT BỘ TỪ VỰNG DÙNG NHƯ QUẦN ÁO ĐỒNG PHỤC CHO CÁC TỜ BÁO BẢN XỨ
“Pour un vocabulaire uniforme à l’usage des journaux indigènes”
(L’A. No 100 – 10/1/1932).
Nguyễn Văn Vĩnh
(Người dịch: Nhà giáo Phạm Toàn)
Tại một buổi tiệc ở Chợ Lớn do các đồng nghiệp người Nam ở Nam Kỳ khoản đãi chúng tôi, gồm các ông Phạm Quỳnh, Lê Văn Phúc, và tôi, ông Nguyễn Văn Bá của tờ Công-Luận-báo, trong lời chào mừng rất dễ thương của mình, đã nêu ra một vấn đề nghề nghiệp đang được tất cả mọi người rất quan tâm:
Làm cách gì để có một bộ từ vựng thống nhất như là những bộ đồng phục, sao cho các bạn đọc tội nghiệp không hoang mang rối bời khi đọc, họ chẳng biết đâu mà lần giữa vô vàn tân từ ngữ (néologisme) biến đổi theo các quốc gia, thậm chí đổi thay theo từng tác giả, đến độ là cùng một từ có nguồn gốc Âu châu, nhưng từ ngữ đó chưa bao giờ có trong ngôn ngữ đáng thương của chúng ta, khi được dịch sang tiếng Nam lại theo những cung cách khác nhau, khó mà đếm cho xuể…
Nghĩ đến nền báo chí bản xứ, thực tế nó đã hình thành các tổ chức cả ở Nam Kỳ cũng như Bắc Kỳ, với số lượng đông đảo đồng nghiệp của chúng tôi như đã được tuyển dụng, tôi đã đáp lại các bạn đồng nghiệp Nam Kỳ của mình, với câu trả lời có vẻ như đã làm các vị khách hơi thất vọng.
Đúng thế, tôi đã nói với mọi người, rằng ngày nào chúng ta cũng đang tạo ra các từ ngữ mới. Ai trong chúng ta cũng đều đinh ninh, rằng chỉ những tân từ ngữ do chính mình tạo ra mới là ngôn ngữ ra hồn, và tôi đã nghĩ rằng, với một liên minh tinh thần như thế, có lẽ là không thể được!
Chúng ta hãy cứ sáng tạo ra các từ mới, như những người thợ phụ chuẩn bị sẵn các viên đá đủ hình đủ dạng, để những người thợ xây sau đó, họ có thể chọn ra những mẫu hình làm vật liệu xây dựng, phù hợp nhất với tòa nhà ngôn ngữ của nước Nam trong tương lai. Trong hàng trăm, hàng nghìn viên đá được lựa chọn mỗi ngày đó, sẽ có khá ít viên được đem ra dùng, nhưng với số lượng lớn, chúng sẽ dễ dàng giúp cho việc lựa chọn quyết định cuối cùng, sau những mò mẫm, hiệu chỉnh liên tục một cách bền bỉ, đưa những ‘viên đá’ ấy thực hiện nhiệm vụ bù vào những chỗ trống trong tòa nhà ngôn ngữ của chúng ta.
Còn việc để tạo ra một cách hoàn chỉnh với dạng thức chuẩn mực khả dĩ, đặt vào mọi bối cảnh và với từng con người, tôi thấy điều đó chỉ có thể diễn ra trong chúng ta, ở hoàn cảnh mà mỗi chúng ta đang hình thành việc tạo lập cách tư duy chính xác cho riêng mình mà thôi.
Ngoài nỗi lo về sự chính xác luôn luôn có ở trong óc mỗi nhà văn, khi tạo ra những từ mới một cách chuẩn mực, nhằm diễn đạt được đúng đắn tư tưởng của mình, họ luôn muốn cho từ ngữ đó có chỗ đứng trong cuộc sống, thì với cả những người đọc cũng cần phải có chung nỗi âu lo như của nhà văn, để hiểu các từ ngữ đó và để đánh giá sự đúng đắn của người viết khi họ chọn lựa những từ ngữ mới.
Điều này là một trình độ, khả năng tư duy riêng và chỉ được hình thành qua các trải nghiệm khoa học theo cách chính xác, trong một tiến trình dài lâu; thậm chí có thể nói, đó là một thói quen chính xác bền bỉ.
Xem xét dưới góc độ này, người Trung Hoa thực sự đã tiến xa hơn chúng ta cả hai chục năm, vậy mà hãy nhìn xem, đó cũng vẫn mới chỉ là những chữ dùng làm từ nối, làm những từ mã hóa khi xuất bản, những từ dẫn nhập các tân từ ngữ trong các sách giáo khoa và các giáo trình.
Chúng ta hãy xem kỹ báo chí Trung Hoa và sẽ thấy rằng, những từ biểu đạt các tư tưởng mới theo cách chính xác nhất, đều vẫn còn lâu mới ổn định. Các từ ngữ mới đó sinh ra, rồi lại sớm bị rơi vào cảnh bị lãng quên, một số từ cũng được dùng rộng rãi ít lâu, rồi cũng biến mất tăm, nhường chỗ cho những từ ngữ mới khác có vẻ chính xác hơn.
Ngay cả những từ ngữ đã dùng lâu năm và rộng rãi ở các quốc gia láng giềng cũng có những biến thể.
Chúng ta chớ nên quên rằng, trong các ngôn ngữ đơn âm tiết của mình với các thanh âm khác nhau, cần thiết phải có các âm biến thể để tránh những cấu âm chướng tai. Trong câu nói phát ra, các âm tiết ‘nặng nề’ (vần trắc) cần có sau nó những âm tiết ‘vang xa’ (vần bằng) để tạo ra một nhịp điệu chấp nhận được.
Một tiếng vần trắc phát ra sau hai hoặc ba tiếng cũng vần trắc, cần được thay thế bởi một tiếng vần bằng, tạo thành một biến thể, để có được sự hài hòa về âm thanh. Cũng như vậy, một chuỗi bốn hoặc năm âm tiết vần bằng,sẽ tạo ra một phát âm đơn điệu rất khó chịu. Đó là lý do tồn tại của vô số những từ ghép hai âm tiết mang thanh đối lập.
Nói vậy, hẳn bạn sắp lên án tôi rằng, muốn biểu đạt một ý tưởng thì chỉ cần một và duy nhất một từ thôi. Có thể bạn có lý đấy, nhưng cái ngôn ngữ được bạn tạo ra theo những nguyên tắc đó, có nguy cơ trở thành một đặc ngữ không bao giờ được những cái lỗ tai khó tính chấp nhận.
Trong một số nội dung, sự dư thừa tính chính xác khiến cho ngôn ngữ có một cung cách bác học và kiêu kỳ sẽ không làm mọi người hài lòng.
Chính là trong văn chương báo chí, và nhất là trong đối thoại mà con người thường bắt buộc phải tạo ra những lời nói hài hòa, êm tai. Cái hoà âm này được tạo ra chính là nhờ việc chọn lựa khôn khéo các biến thể để người nói năng khéo léo, đôi khi lại thay thế bằng những biểu đạt có hình ảnh hoặc những cách nói vòng vèo có tác dụng làm lọt tai, tạo ra sự cân bằng cần thiết.
Như vậy, và cũng để chúng ta không bị ru ngủ trên hoang tưởng, dường như ít ra cũng là khả năng để chúng ta không vội thống nhất một bộ từ vựng, và cũng đừng áp đặt thực sự các từ ngữ, giúp trong tương lai, chúng ta sẽ linh hoạt khi dịch tiếng của nước khác không có từ tương quan trong tiếng Nam thông dụng.
Chúng ta chấp nhận sự cần thiết xuất bản một bộ từ vựng với một số lượng thuật ngữ nhất định, các tân từ ngữ (néologisme) thể hiện sự diễn đạt có tính bác học, rút từ ngôn ngữ triết học Trung Hoa, các văn bản cổ điển mà những người nước ngoài đã may mắn hiểu cách sử dụng chúng, để chúng ta dịch tốt hơn từ vựng chính trị, triết học hoặc khoa học.
Khi nào có được sự thừa nhận cao quý này rồi, chúng ta sẽ xây dựng một liên minh tinh thần giữa những người làm báo, hội tụ được những điều kiện về trình độ và nếu cần, thì có thể gia nhập vào một tổ chức với cương lĩnh cần nghiên cứu, sao cho có được một nguyên tắc, kỷ luật trong việc sử dụng các từ ngữ này, ngõ hầu chấm dứt tình trạng tùy tiện, vô chính phủ đang diễn ra trong những người cầm bút nước Nam, ngay cả với những người nổi danh.
Cái nguyên tắc kỷ luật này khó có thể triển khai rộng rãi, vì nó chỉ có thể được chấp nhận có ý thức bởi những người nào có những phẩm chất cầm bút tối thiểu.
Ở nước ta và đâu đâu cũng thế, ai cũng có thể tự coi mình là nhà văn, nhà báo, nhưng không phải ai ai cũng chấp nhận một sự tái-cấu trúc văn hóa xã hội.
Như vậy là tôi đã nêu sang vấn đề thứ hai mà ông Bá, đồng nghiệp Nam Kỳ của tôi đã đề xuất, đó là xây dựng một nghiệp đoàn nhà báo. Ngay ở đây và lúc này, chúng ta đều có ý định đó, và không nhất thiết phải giải thích vì sao?!
Tuy nhiên, trước hết, chúng ta cần xác định phẩm chất của một nhà văn, một nhà báo, vấn đề này sẽ được tôi viết trong một bài khác.
NVV.
Hiệu đính kỹ thuật: Nguyễn Lân Bình.
