Phần 3B – NHÀ BÁO NGUYỄN VĂN  VĨNH, TỪ THỊ PHI ĐẾN NGỢI CA.

Sự thật không chỉ bị dối trá xâm hại; nó còn bị xúc phạm bởi sự câm lặng.

(Truth is not only violated by falsehood; it may be outraged by silence)

Henri Frederic Amiel (1821-1881) Nhà triết học đạo đức người Thụy Sỹ

Phần 3A

Dịch thuật, in ấn và phát hành sách báo, bệ phóng tư tưởng văn hóa.

3/ Nguyễn Văn Tố (1889-1947), hiệu: Ứng Hòe, là vị Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bách khoa thư VN ghi rõ: “Nguyễn Văn Tố thực sự là một nhà chí sĩ yêu nước chân chính, uyên bác, có những cống hiến xuất sắc trong việc xây dựng nền văn hiến dân tộc đầu thế kỉ XX”.

Nguyễn Văn Tố tốt nghiệp trường Thông ngôn (cùng trường với NVV), sau đó ông làm việc cho Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội (École Française d’Extrême-Orient-EFEO). Ông là nhà nghiên cứu văn hóa, khảo cứu văn học và lịch sử VN. Ông là nhà phê bình uyên thâm có tầm ảnh hưởng sâu sắc. Trình độ của ông đủ để hiệu đính những sai lầm về kiến thức trong văn học, sử học nước Việt. Đặc biệt, Nguyễn Văn Tố nằm trong số ít những người VN giỏi tiếng Pháp nhất trong lịch sử thuộc địa.

Trong bài viết của George Coèdes (Giám đốc EFEO thời gian 1929-1947) thuật lại: Rằng “Tôi đã từng bị anh nhân viên là Nguyễn Văn Tố sửa lại bài trước khi đăng…”, Coèdes vừa thán phục vừa kính trọng Nguyễn Văn Tố và ca ngợi: “Ông Tố là người thực thà và thẳng thắn lắm!” (1)

Nguyễn Văn Tố trở thành đồng nghiệp và là cộng sự quan trọng của NVV khi tham gia vào BBT “Đông Dương Tạp chí” năm 1913, một tờ báo in Quốc ngữ nổi tiếng nhất trong lịch sử báo chí VN, tờ báo đầu tiên ở VN hướng dẫn người dân học và làm văn bằng chữ Quốc ngữ (2).

Sau khi vĩnh biệt NVV, trên tờ Tạp chí “Tin tức – Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh” in bằng tiếng Pháp tháng Một năm 1937 (Bulltin la Société D’Eseignement Mutuel de Tonkin – Janvier 1937), Nguyễn Văn Tố đã viết liền 30 trang nói về Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh “L’œuvre de M. Nguyen-van-Vinh’’, ông tổng kết và đánh giá gần như toàn bộ quá trình lao động trí óc của NVV.

Cho đến hôm nay, chúng tôi chưa thấy có một kết luận nào về NVV mang tính toàn diện, sâu sắc, khoa học và cụ thể như bài viết của Nguyễn Văn Tố. Điều này không chỉ nói lên sự hiểu biết có tính hệ thống trên cơ sở khoa học, đánh giá nhấn mạnh về những giá trị mà NVV đã làm trong suốt cuộc đời mình, trên nữa, bài viết còn thể hiện lòng kính trọng của ông trước những gì NVV đã thực hiện.

Chúng tôi xin giới thiệu một vài trích đoạn trong bài viết được Nhà giáo Phạm Toàn (1932-2019) dịch sang tiếng Việt năm 2010 như sau:

“Trong thế đa dạng đầy sức mạnh và đầy duyên dáng, cuộc đời và sự nghiệp của bạn đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh biết bao thương tiếc của chúng ta có thể được đem ra nghiên cứu dưới nhiều phương diện…

Sự quảng bác và sự mềm dẻo của một trí thông minh ngoại cỡ của đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn đã làm nên một ảnh hướng lớn tới nhiều thế hệ người học, và thông qua những bài viết cùng những dịch phẩm của ông, lại ảnh hưởng tới đông đảo đồng bào người nước Nam ta đến như vậy…

Nguyễn Văn Tố xác nhận:

Ngay sau khi mọi người biết tin ông qua đời. Khắp nơi nơi, đâu đâu cũng cùng chung một tiếng nói ấy, cả trong những lời nói ra cửa miệng, cũng như trong những tiếng thầm thì của hai, ba nghìn người đi sau linh cữu ông.

Nguyễn Văn Tố ngạc nhiên trước năng lực siêu phàm và phẩm chất tư duy của NVV:

Cái ngành khoa học thâm thúy và hiếm hoi này, được Nguyễn Văn Vĩnh đem tới cho rất nhiều người, ông học được theo cách gì, học từ đâu và từ nhà trường nào vậy?

Ông đã không bao giờ rời bỏ những mục tiêu của mình, ngay cả khi trong cuộc đời, nhiều lúc ông đã phải đương đầu với những cuộc đấu tranh cam go nhất để trở thành con người của công chúng.

Nguyễn Văn Tố cắt nghĩa một cách khoa học sự uyên thâm của NVV như sau:

Với cách chú giải ngắn gọn, các bản dịch tác phẩm của La Fontaine (1621-1695), Molière (1622-1673), Anatole France (1844-1924) đều được dẫn chứng. Tiến hành một công trình như vậy chẳng còn ai làm được tốt hơn ông.

Nguyễn Văn Vĩnh sùng kính các đại văn hào tới đâu, chỉ cần đọc các chú giải của ông là ta đủ thấy rõ.

Trong khi dịch La Rochefoucault (1613-1680) ông ngại làm mất đi dù chỉ một chút hương vị của bản gốc, và khi dịch nhà văn, nhà triết học, nhà Khai sáng cách mạng Pháp Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), ông chăm chú theo sát cấu trúc câu chữ trong tiếng Pháp, cho tới từng đoạn văn vòng vo, uốn éo, thì ngược lại ông sẵn sàng làm cho câu văn dịch La Fontaine của mình mang một cách nói năng “nửa Pháp nửa Nam” mà vẫn không xa rời giọng điệu của ngôn ngữ Việt…

Khi ông dịch, ông đã phải vận dụng từ những nguồn cung cấp thi pháp nghèo nàn (của tiếng An Nam) để tạo ra những cách biểu đạt tương đương và khó bắt bẻ nhất.

Lời bình về Rousseau hoặc Voltaire cứ thế bật ra một cách tự nhiên từ trang sách được tuyển chọn, để bày tỏ với chúng ta về phương diện luân lý của sự đắc chí và niềm đam mê.

Nguyễn Văn Vĩnh nói: “Để hiểu cho thật đúng một đoạn văn trích, nên chăng ta còn cần đến một chút lịch sử văn chương hoặc những lời phê phán văn bản..?”.

Nhưng điều khiến cho các nhận xét của Nguyễn Văn Vĩnh trở thành hấp dẫn, đó là sự so sánh chi li của ông, đó là cái tinh tế khi phân tích để chỉ ra cách dùng ngôn ngữ mà một Nguyễn Gia Thiều hoặc một Nguyễn Du đã từng thực hiện mà ai ai cũng thừa nhận rồi.

Một mặt khác, ở một trình độ cao, Nguyễn Văn Vĩnh có được cái tài năng, cái phương pháp, cái đắn đo, cân nhắc, và ông cũng có cả cái năng lực cảm nhận sự sống của vạn vật, là cái tạo thành vẻ đẹp của khoa học.

Đúc kết về con người và sự nghiệp của NVV, Nguyễn Văn Tố khẳng định:

“Mặc dù mất sớm, song Nguyễn Văn Vĩnh đã hoàn thành được một đại sự nghiệp, nó sẽ còn lưu lại mãi sau khi ông mất đi, như một bằng chứng bất hủ về sự tồn tại của ông. Tên tuổi ông sẽ được ghi khắc mãi mãi trong lịch sử văn học nước Nam, như một trong những bậc thầy đã làm được nhiều nhất cho sự phát triển của nền văn học đó.

Tên ông sẽ không chỉ được viện dẫn bởi những người Tây học nhất quyết sẽ đi theo con đường do ông khai phá, mà tên tuổi đó cũng chẳng thể nào vô tình hay cố ý bị bỏ quên bởi bất kỳ ai khi định đến với toàn bộ trào lưu tư tưởng ở xứ Đông Dương trong vòng ba chục năm qua.

Bởi vì, riêng việc ông toàn tâm toàn ý phát triển chữ quốc ngữ, chỉ riêng việc đó thôi, đã bộc lộ toàn bộ cái giá trị của một con người đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ ai, để khiến cho cái thứ chữ đó trở thành một trong những thành tựu bền lâu của trí tuệ con người.”.

Những trích dẫn từ bài viết của Nhà nghiên cứu Khoa học xã hội VN Nguyễn Văn Tố, thật sự đã quá đủ để thấy NVV là mẫu người nào khi nhìn vào nhân cách, cốt cách của một kẻ không phải chỉ nhờ tài năng, trí tuệ được nuôi dưỡng bằng lòng tự tôn giống nòi, mà còn là khát vọng cống hiến cho nền văn hóa của một dân tộc, một đất nước khi tìm cách vươn lên ngang tầm với thời đại.

Người chính trực trọng người trung thực.

4/ Nguyễn Hữu Đang (1913-2007 – Bí danh Phạm Đình Thái), một hiền tài, nhà cách mạng Cộng sản khởi thủy, người từng phải chịu án tù tới hai lần trong chế độ Thực dân do tham gia Nhóm VN Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, người để lại dấu ấn lịch sử quan trọng trong sự kiện thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945.

Lần giam cầm cay đắng thứ ba, lại của chính những người đồng chí trong lực lượng cách mạng, nơi ông đã dâng hiến sức lực, trí tuệ và cả danh dự, chỉ vì ông đấu tranh trực diện do muốn xây dựng tính dân chủ khi sáng tạo, và minh bạch trong lý tưởng.

Nguyễn hữu Đang là người đồng chí thân thiết của các vị Cộng sản lão thành như: Trường Chinh (1907-1988), Võ Nguyên Giáp (1911-2013), Phạm Văn Đồng (1906-2000)… Ông cũng là người đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử trước Đảng của mình, khi lãnh trách nhiệm theo yêu cầu của Hồ Chí Minh từ lúc còn là Nguyễn Ái Quốc và chưa phải là Chủ tịch nước, đứng ra chịu trách nhiệm tổ chức buổi lễ mít tinh lịch sử, thành lập nước VNDCCH, tổ chức tại Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945. (3)

Trải qua rất nhiều sóng gió của dư luận xã hội (ở góc độ nào đó, phải được gọi là thị phi) trong việc tìm ra danh phận của NVV trong dòng chảy lịch sử cận đại, ngày 20/6 năm 2002, Hội Khoa học Lịch sử Hà Nội đã động lòng trắc ẩn, ‘mạnh dạn’ kết hợp với Bảo tàng Cách mạng VN, tổ chức buổi giao lưu về nhận thức lịch sử dưới danh nghĩa: “Tọa đàm khoa học” về dịch giả, nhà báo NVV.

Để tránh những phiền toái trong các quy định hành chính, buổi tọa đàm không dùng từ ‘Hội thảo’, không có các ‘thủ tục’ nhằm thu hút hoặc khuếc trương nội dung của chủ đề theo ‘công thức’ thường thấy ở các loại hình tương tự đối với một số khách mời, như ‘chuẩn bị’ tham luận có định hướng, có ‘phong bì’ dành cho các gương mặt có danh vị, và không in kỷ yếu… Thay vào đó, tùy thuộc vào sự hiểu biết, góc nhìn và quan điểm của những người tham dự, Ban Tổ chức (BTC) sẵn sàng đón nhận phản ứng tự nhiên cùng mọi ý kiến từ các khách mời.

Đây là một phương thức tổ chức khá mạo hiểm, nhất là trong trường hợp ‘gai góc’, gây nhiều tranh cãi như đề tài NVV, xong cách làm tế nhị này thể hiện bản lĩnh của người chịu trách nhiệm và phù hợp với bản chất, phong cách NVV, đồng thời cũng là một phép thử đối với môi sinh văn hóa xã hội.

Ngoài các vị khách mời là các giáo sư danh tiếng, các nhà nghiên cứu khoa học có danh phận, các nhà văn, nhà báo trong hệ thống truyền thông của bộ máy Nhà nước, trong danh sách của BTC còn có cả tên ông Nguyễn Hữu Đang.

Đáng tiếc, do tuổi cao và sức khỏe kém, nên cụ Đang đã chỉ gửi bản ghi ý kiến cá nhân dài 5 trang, qua nhà văn Hoàng Tiến (1933-2013), trong đó ông phân tích, đánh giá về những gì học giả NVV đã làm.

Nhà văn Hoàng Tiến cho biết, bản ý kiến của Nguyễn Hữu Đang chứng minh sinh động những hoạt động nổi bật có tính dâng hiến, có một không hai của NVV đối với nền văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX. Đặc biệt, cụ Đang còn nhìn thấy tầm tư duy khoa học mang tính chính trị của NVV, trong việc ông sống mái tìm cách xây dựng một nước Việt Nam theo quy chế TRỰC TRỊ.

Nguyễn Hữu Đang còn nhận ra những lý do, giá trị và ý nghĩa, nguồn cơn đã dẫn NVV đến quyết tâm đấu tranh, đòi áp dụng chế độ Trực trị đối với đất nước An Nam, điều đã tạo ra những ngờ vực mơ hồ về chính trị, trong một bộ phận nhân sỹ trí thức Việt Nam đương thời.

Nhà văn Hoàng Tiến cho biết, trong một buổi tiếp chuyện với cụ Đang do cả hai người đều nhận được lời mời dự buổi tọa đàm, nhà văn đã ghi lại một đoạn tâm sự của cụ Đang chia sẻ những suy nghĩ, những hiểu biết rất riêng của mình về NVV. Tại buổi tọa đàm, ông Hoàng Tiến đã xin được đọc lại trích đoạn nội dung trao đổi được ghi âm lại như sau:

“Nhiều người không hiểu tư tưởng của cụ Vĩnh đâu, các con cụ cũng không hiểu nổi cụ, tư tưởng của cụ Vĩnh lớn lắm. Cụ Vĩnh phải được đánh giá như An Dương Vương, An Dương Vương thống nhất nước Văn Lang và nước Thục thành một Nhà nước mới – Nước Âu Lạc.

Cụ Vĩnh muốn xây dựng một nước An Nam mới. An là yên ổn, an lạc, hòa bình, một đất nước hòa bình ở phương Nam, lãnh thổ thì là nước Việt Nam của Triều Nguyễn, nhưng theo chế độ không Vua. Nó gồm hai thành phần cơ bản, một là người Nam, hai là người Pháp; người Pháp thì làm kinh tế và kỹ thuật, còn người Nam thì làm văn hóa và giáo dục, nghĩa là truyền thống văn hóa của nước Nam, kết hợp với văn minh kỹ thuật Âu châu làm nền tảng cho nước An Nam mới…

… Nghĩa là, cụ chủ trương một quốc gia đa sắc tộc, kiểu như nước Mỹ Hợp chủng quốc, hay như nước Úc ngày nay. Đã là công dân nước Nam, ai giỏi thì được bầu lên cai trị, hết khóa thì xuống, không phân biệt nòi giống, sắc tộc. Chế độ Trực Trị của cụ Vĩnh là như vậy. Trực trị là cai trị trực tiếp!”.(4)

Quan điểm, cách hiểu của Nguyễn Hữu Đang về NVV thật sự đã làm cho không khí buổi tọa đàm trở nên… ngỡ ngàng, thậm chí có người tỏ ra ngơ ngác, vì có thể, đây là lần đầu tiên trước công chúng, những người tham dự được nghe giải thích về loại hình tư tưởng gây tranh cãi này của NVV, từ một nhà cách mạng Cộng sản gạo cội, nó khác với tầm tư duy thông thường của xã hội chính trị đương thời, và xa lạ đối với những người quan tâm khi nói về quan điểm chiến lược này của NVV, bởi nó mang màu sắc tư tưởng giống như Mahatma Gandhi (1869-1948) ở Ấn Độ, điều mà năm 2013, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân (1945) cũng đã chia sẻ trong một buổi seminar về NVV, do Liên hiệp các Hội KH VN tổ chức tại Hà Nội.

Buổi tọa đàm ngày 20/6/2002 về nhân vật lịch sử NVV, là một sự khơi mào đối với giới truyền thông về đề tài dịch giả NVV kéo dài cho đến tận hôm nay. Đặc biệt, tại buổi tọa đàm, nhiều người còn ngạc nhiên khi chứng kiến sự có mặt của hai vị khách không mời, là thành viên của một tổ chức truyền thông quốc tế lớn ở Hà Nội!

Cụ Nguyễn Hữu Đang còn trân trọng đến mức yêu quý hai người con trai của NVV sống cùng thời với ông, là Nhà tình báo ngoại tuyến của QĐND VN Nguyễn Phổ (1917-1997), và người em trai là Nguyễn Dực (1921-2000), người đã cùng ông gánh vác và hoàn thành xuất sắc phần trang âm (acoustic design), truyền thanh của ngày lễ trọng đại 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

“Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy không hề bị tàn lụi”

5/ Giáo sư Sử học Phan Huy Lê (1934-2018), một trong “tứ trụ” của nền lịch sử Việt Nam hiện đại.

Ông là Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử VN Cổ và Trung đại – ĐH Tổng hợp Hà Nội lúc mới 24 tuổi. Năm 1995 Phan Huy Lê là người sáng lập Khoa Đông phương học trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, người VN đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng Quốc tế Văn hóa châu Á Fukuoka.

Giáo sư Phan Huy Lê được Phái đoàn Ngoại giao và Tổ chức Pháp ngữ  (GADIF) ở HN trao Giải thưởng danh dự năm 2014  (Prix d’honneur de la Francophonie). Năm 2016, ông được Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp trao bằng Tiến sĩ danh dự.

Năm 2016, ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học.

Phan Huy Lê là tác giả cuốn Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam 1960. Ông nhận hàm Giáo sư năm 1980, năm 2000 nhận Giải thưởng Nhà nước. Năm 2002, Chính phủ Pháp trao tặng ông “Huân chương Cành cọ Hàn lâm”.

Phan Huy Lê là Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam liền trong 30 năm (1988-2018), là biểu tượng của một nhân cách lớn của giới sử học VN thời hiện đại.

Với góc nhìn của một người có bề dày trong chuyên môn, để giúp giới nghiên cứu và hậu thế xác định: NVV là một ‘hiện tượng’ trong thế giới tinh hoa của lịch sử VN thời cận đại, trong một lần phỏng vấn trực tiếp năm 2007 do đạo diễn điện ảnh phim tài liệu Trần Văn Thủy (1940) thực hiện, Giáo sư Phan Huy Lê đã nêu quan điểm một cách dứt khoát về NVV như sau:

“…Vấn đề đặt ra bây giờ, là chúng ta nhìn nhận và đánh giá công lao sự nghiệp của NVV như thế nào cho thỏa đáng, trong bối cảnh cụ thể của lịch sử VN vào những năm cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX.

Tôi nghĩ có những mặt đã khá rõ ràng, thí dụ như NVV là một nhà trí thức tân học thì cái đó đã rõ, hay như NVV là một trong những thủy tổ của nghề báo mang tính hiện đại của VN, là một nhà dịch thuật trứ danh theo một phong cách hết sức NVV, hay là một người đã phát triển chữ Quốc ngữ gắn liền với Nền Văn học chữ Quốc ngữ, và tôi nghĩ rằng, đến nay không ai có thể phủ nhận được!

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tôi thấy chưa thỏa đáng, hoàn toàn chưa thỏa đáng, cần phải có cái nhìn bao quát hơn về toàn bộ con người và sự nghiệp của ông trong hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ…   

“Theo tôi, cái cống hiến lớn nhất của Nguyễn Văn Vĩnh trước tiên, đó là tư tưởng! Ông và Phan Châu Trinh là những Nhà Tư tưởng Dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. Hai ông đã tiếp thu rất sớm tư tưởng dân chủ ở phương Tây. Cách vận động tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh đã thấm vào Việt Nam, nhưng qua con đường văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh, nó thấm sâu hơn vào lòng người…

Tôi đánh giá rất cao về NVV ở phương diện này… Ông là một trong những nhà tư tưởng có tính khai sáng ở VN!”.(5)

Thiết nghĩ, dù trong bối cảnh chính trị nào, dù bị lệ thuộc vào những hệ tư tưởng khác nhau, thì những ý kiến, lời nói và đánh giá của Nhà Sử học Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội KHLS VN về NVV không thể không làm cho giới nghiên cứu, giới sử học VN chìm trong im lặng… như một sự vô can!

Ghi chú:

  1. “Vị Bộ trưởng đầu tiên hi sinh trên chiến trường”Báo Pháp luật VN ngày 13/6/2016.
  2. Bài của Hoàng Cương – Thu Hường, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
  3. Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia).
  4. Bản ghi âm toàn bộ buổi tọa đàm ngày 20/6/2002 hiện do t/g giữ.
  5. Bản ghi hình (băng từ digital) hiện do t/g giữ.

Hết phần 3B

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network