Hà Nội,15.10.2025
Thưa các quý vị và các bạn!
Những tranh cãi trong xã hội Việt Nam suốt một thế kỷ qua về vai trò lịch sử của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (NVV), chúng tôi đồ rằng, nguyên nhân đều do sự hiểu biết thiếu tính hệ thống, cùng với những mặc cảm và định kiến của một số cá nhân có chân trong các bộ máy quyền lực, đã dẫn tới sự che đậy có chủ ý ở Việt Nam, và cả ở nước Pháp suốt một thời gian dài.
Để hậu thế hiểu rõ về một người đã có tác động sâu sắc đến sự hình thành nền văn hóa chữ quốc ngữ ở Việt Nam, cũng như vai trò là người đầu tiên kiến tạo chiếc cầu nối văn hóa Đông – Tây ở đầu thế kỷ XX, năm 2011 tôi đã gửi văn bản kiến nghị tới các cấp cao nhất của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp Nicolas Sarkozy, Chủ tịch Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO Irina Bokova, và ngài Abdou Diouf Tổng thư ký Tổ chức quốc tế Pháp ngữ FRANCOPHONIE, cùng các cơ quan có trách nhiệm của cả hai Nhà nước Việt Nam và Pháp, đề nghị dành sự quan tâm, xem xét toàn diện, đánh giá đầy đủ về vai trò lịch sử có một không hai của Tân Nam Tử NVV.
Việc này sẽ giúp cho các hậu duệ và hậu thế bớt bị ám ảnh bởi tâm lý công – tội, tạo ra nhận thức logic về những mặt tích cực, trong mối quan hệ quá khứ lịch sử văn hóa giữa hai dân tộc Việt Nam và Pháp.
Trong bản kiến nghị, tôi cũng đã nêu nguyện vọng, mong muốn Tổ chức UNESCO và FRANCOPHONIE, hỗ trợ và ủng hộ các cơ quan có trách nhiệm của hai Nhà nước Việt – Pháp, chọn một ngày trong năm là ngày kỷ niệm sự ra đời của chữ viết Quốc ngữ ở Việt Nam, đồng thời xác nhận một cách công bằng vai trò lịch sử của NVV trong phong trào Cộng đồng nói tiếng Pháp trên toàn Thế giới.
Ngày 12/11/2011, tôi đã nhận được phản hồi của Bộ Văn hóa nước CHXHCN VN bằng văn thư số 3845/BVHTTDL, sau đó là thông báo của Uỷ Ban Văn hóa Giáo dục Thanh Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội VN, ghi nhận những nội dung kiến nghị mà tôi đã nêu, đồng thời hứa hẹn sẽ phân công các bộ phận chức năng xem xét nội dung kiến nghị, và mong có sự hợp tác từ phía cá nhân tôi khi cần…
Như lời thưa tôi đã gửi tới các quý vị và các bạn ngày 9/10/2025 với nội dung:
Vì sao học giả Nguyễn Văn Vĩnh không được các thực thể chính trị trong lịch sử ở Việt Nam tôn vinh?
Hôm nay, tôi xin công bố toàn bộ niên giám, thống kê những hoạt động nổi bật trong cuộc đời sự nghiệp của NVV. Đây là bản tổng hợp có hệ thống, được chắt lọc và kiểm chứng qua các tư liệu lịch sử đầy đủ nhất mà tôi sưu tầm được, so với những công bố trước đây mang tính lẻ tẻ.
Chúng tôi hi vọng với bản niên giám này, các quý vị và các bạn sẽ nhìn rõ hơn bức tranh toàn cảnh về một nhân vật được người đương thời phong tặng danh hiệu ít thấy trong lịch sử là: NGƯỜI CÔNG DÂN VĨ ĐẠI.
Trân trọng! Nguyễn Lân Bình.
Phần một.
NIÊN GIÁM CỦA “NGƯỜI CÔNG DÂN VĨ ĐẠI” (*)
Nguyễn Văn Vĩnh (NVV) sinh ngày 15/8 năm 1882 trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường tín, Tỉnh Hà Đông (nay là Phú Xuyên, Hà Nội). Năm 1884, gia đình NVV ra Hà Nội tìm kế sinh nhai, ở nhờ nhà họ hàng bên ngoại tại số nhà 46 phố Hàng Giấy.
- 1890, khi 8 tuổi, NVV được cho đi kéo quạt thuê ở một lớp học chuyên đào tạo thông ngôn (phiên dịch) của người Pháp (sau này lớp được biên chế trong hệ thống Trường Hậu Bổ – Học xong được bổ nhiệm). Cơ sở giáo dục này đặt tại đền An Trí (nay là đình Yên Phụ) nhà số 16 phố Phó Đức Chính, Hà Nội.
Ngồi kéo quạt, nhờ học lỏm, NVV đã gây ấn tượng cùng sự ngạc nhiên trước ông giáo người Pháp là André D’Argence (1), do ông chứng kiến mối tương tác giữa cậu bé kéo quạt với các học viên trong lớp. Khi lớp học mãn khóa (1892), để kiểm chứng những đánh giá của mình, A. D’Argence đã xếp cậu bé được cùng thi với các học viên, và cậu đã đỗ thứ 12 trên 40, năm đó NVV tròn 10 tuổi.
Vì NVV còn quá nhỏ, không thể phân bổ vào bất cứ đâu, ông giáo A. D’Argence đã đề nghị cấp trên cho cậu học lại từ đầu khóa và được miễn học phí. Sau 4 năm, khi tốt nghiệp, NVV đã đỗ thủ khoa (1896).
- Năm 1897, NVV được đặc cách gửi đi làm thông ngôn tại Tòa sứ Lào Cai (2), cùng với nhóm chuyên gia xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Vân Nam.
- Năm 1898, NVV được điều chuyển về Tòa sứ Hải Phòng, và được phân công vào ‘Bureau du Protectorat – Văn phòng Bảo hộ’, đảm trách việc theo dõi hoạt động ra vào cảng của các tàu bè nước ngoài, kiêm giám sát danh sách các hành khách đi tàu (3).
- Từ năm 1898 đến năm 1900, lần đầu tiên NVV dịch ra chữ quốc ngữ một cách hứng thú toàn bộ hoặc từng phần, các cuốn sách lịch sử và triết học nổi tiếng thế giới như: “Lịch sử nước Pháp”, hoặc “Khế ước xã hội (Còn gọi là Những nguyên tắc của luật công) – Du Contrat Social ou Principes du droit politique” của nhà triết học người Pháp Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), cuốn“Tinh thần pháp luật – De l’esprit des lois”của nhà triết học chính trị Pháp Montesquieu (1689-1755). Tuy nhiên khi biết NVV dịch các loại sách này sang chữ quốc ngữ, Nhà Cầm quyền (NCQ) đã nhắc nhở và không ủng hộ việc này với lý do: Chưa phù hợp với dân trí người An Nam! (4)
- Năm 1902, NVV được điều chuyển về Tòa sứ Bắc Giang – Bắc Ninh.
- Năm 1904, Công sứ Pháp Bắc Giang – Bắc Ninh là Hauser được điều động về làm Đốc lý Hà Nội, ông đã đưa NVV về theo và giao làm Thư ký Tòa.
- Năm 1905, lần đầu tiên người Pháp thấy xuất hiện bút danh lạ mang tên Việt Nam “TÂN NAM TỬ” (5),dưới một bài viết bằng tiếng Pháp “Politique d’Association – Chính sách hiệp hội”, đăng trên tờ công báo nổi tiếng “Courrier d’Haiphong”. Bài báo này do NNV viết để phản bác ý kiến một viên chức người Pháp có tên là De Monpezat.
Sự nghiệp của NVV đã hình thành từ chính bút danh “Tân Nam Tử” này, theo đúng nghĩa đen của ngôn ngữ Hán – Việt:
(Tân= mới, Nam = An Nam và Tử= người).
Vào giai đoạn này, NVV đã bắt đầu thai nghén việc làm báo mặc dù không xin được phép của NCQ, ông đã tham dự vào hoạt động của nhà in “Tonkinois”, đồng thời, dù khó khăn về tiền bạc, NVV vẫn lén lút cho ra đời một tờ báo chữ quốc ngữ có tính thử nghiệm và bị bắt, tạo nên sự ồn ào trong dư luận.
- Năm 1906, do có quan hệ với nhóm Nho sỹ tiến bộ người Việt, NVV đã nhận dịch ra tiếng Pháp toàn bộ văn bản kiến nghị viết bằng chữ Hán, mang nội dung chính trị của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh (PCT. 1872-1926), có tên là “Đầu Pháp Chính phủ thư – Lettre de Phan Chu Trinh au gouverneur général en 1906” gửi tới Toàn quyền Đông Dương – Paul Beau (1857-1926).
Nội dung “Đầu Pháp Chính phủ thư”, PCT vạch trần sự thối nát của Vương Triều Nhà Nguyễn, cùng những bế tắc trong xã hội An Nam, ông yêu cầu Chính phủ Bảo hộ cần thay đổi thái độ, quan tâm cải cách chính sách cai trị để phù hợp với những cam kết của người tiền nhiệm là Paul Doumer, trong việc giúp khai sáng đất nước An Nam thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu (6).
Cũng năm 1906, NVV được Đốc lý Hà Nội cử tham gia Phái bộ Đông Dương, đi dự hội chợ thuộc địa (Đấu xảo) ở Mác Xây (Marseille) Pháp. Tại đây, NVV được tiếp cận với nghề in và xuất bản qua các gian hàng quảng cáo, giới thiệu công nghệ in ấn và phát hành của một số tờ báo Pháp. Thực tế này đã giúp NVV củng cố tham vọng làm báo, từ đó chuyển tải đến dân chúng các triết lý tư tưởng mà ông thấy ấn tượng, khi được đọc trong các tác phẩm in tiếng Pháp từ những năm trước đó.
(Cho đến đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam vẫn sử dụng ba loại chữ viết mượn là Hán văn, Nôm và Pháp văn, NVV rất thông thạo cả ba thứ ngôn ngữ này.
NVV xác định, nếu truyền bá được những tri thức tiến bộ đến người dân, sẽ giúp tác động đến cách tư duy của họ, ông tính toán, để làm được việc này, cần phải có một loại chữ viết phổ thông đối với dân chúng, và NVV đã chọn loại chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La tinh, thứ chữ được tạo ra từ thế kỷ XVII, từ các giáo sỹ Bồ Đào Nha khi sang truyền đạo, giao thương ở Đàng trong, nhưng loại chữ viết đó đã chỉ được sử dụng giới hạn trong các cộng đồng người công giáo An Nam.
Theo NVV, chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh là loại chữ dễ học, không tốn phí nhiều tiền và thời gian để học như Hán văn và Pháp văn, và thuận lợi hơn cả vì nó mang âm hưởng của tiếng nói mẹ đẻ).
Để thực hiện mục tiêu này, trước mắt cần phải lập ra ngành in, làm báo, loại hình công nghệ thông tin mà NVV đã học ‘mót’ được do ấn tượng và thích thú khám phá khi tham dự Hội chợ Mác Xây (Marseille).
Khi hội chợ kết thúc, NVV đã đi thăm Thủ đô Paris. Tại đây, ông đã giao du với các thành viên trong “Hội Nhân quyền Pháp – Société des Droits de l’Homme“, là một tổ chức xã hội độc lập, có mâu thuẫn với Chủ nghĩa Thực dân. NVV nhận thấy, Hội Nhân quyền là tổ chức bảo vệ phẩm giá con người, ủng hộ quyền tự do biểu đạt, điều mà người dân ở các nước thuộc địa rất cần có, và ông đã xin gia nhập hội.
NVV đã vượt qua các tiêu chuẩn do “Hội Nhân quyền Pháp” quy định, và là người Việt Nam đầu tiên được kết nạp tại Paris 1906. NVV mong tới một ngày, khi người dân An Nam biết chữ, họ sẽ đọc và hiểu được “Tuyên ngôn Nhân quyền” có ý nghĩa và giá trị đến mức nào đối với mỗi người, và ông tin, nó sẽ làm thay đổi nhân sinh và thế giới quan của một xã hội. Tham vọng của NVV trong việc phổ biến chữ viết quốc ngữ vì mục đích nói trên đã càng trở nên quyết liệt, và ông đã vào cuộc một cách hồn nhiên cùng sự hứng khởi.
Để thuận lợi trong việc theo đuổi một hướng đi mới, cuối năm 1906, NVV đã xin thôi làm việc cho Tòa Đốc lý Hà Nội và trở thành người lao động tự do.
- Năm 1907, do NVV có quan hệ mật thiết với các nhân sỹ cả Cựu học và Tân học, cùng với lòng tin vào những cam kết có hướng tích cực của Toàn quyền Paul Doumer giai đoạn 1897-1902 về cải cách và phát triển, cộng với sự nới lỏng các chính sách quản lý văn hóa xã hội của ngài Toàn quyền đương nhiệm Paul Beau, nên NVV đã tham gia Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT).
Tại ĐKNT, NVV là giáo viên dạy tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, đồng thời là thỉnh giảng trong mục phê phán các phong tục lạc hậu, bài trừ mê tín dị đoan, và chống lại sự lạm dụng của các chức sắc trong hệ thống cầm quyền.
Cũng trong thời gian này, NVV đã được giới thiệu, làm quen với Jean-François-Henri Schneider (1851-1921) (7), là một người Đức, quốc tịch Pháp, Chủ nhà in ở Sài Gòn ra Bắc kỳ tìm hướng kinh doanh, phát triển ngành in và xuất bản. Như một định mệnh, hai người như hai nửa đang cần nhau, F. H. Schneider đã mời NVV hợp tác, đồng thời cử ông làm Chủ bút phần tiếng Việt tờ “Đăng Cổ Tùng Báo”, là tờ báo phổ thông tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ và có sự kết nối với ĐKNT.
Đây là bước thử nghiệm, là thử thách quan trọng đầu tiên trong mối quan hệ sống còn giữa Schneider và NVV, là nền tảng cho sự hợp tác kéo dài suốt gần hai chục năm tiếp theo, đem lại thành công lịch sử trong việc tạo dựng ngành in và xuất bản ở Việt Nam, qua đó dần hình thành Nền văn học chữ Quốc ngữ. NVV đã mặc nhiên trở thành nhà báo, dịch giả và Nhà xuất bản văn hóa còn vì những lý do sau:
Thứ nhất: Chính phủ Thuộc địa không cho phép người Việt mở nhà in và làm báo.
Thứ hai: F. H. Schneider có pháp nhân, có tài chính, có hợp đồng kinh tế ký với Chính phủ Pháp.
(F. H. Schneider đến Nam kỳ từ 1882 với hợp đồng 3 năm, nhưng đã ra hạn nhiều lần do không thể hoàn thành được mục tiêu tạo dựng ngành xuất bản mang tính công nghiệp đại trà trong Nam kỳ. Nguyên nhân, vì việc in và phát hành các ấn phẩm bằng chữ Hán và chữ Pháp số lượng người đọc quá ít, do hơn 90% người dân Việt Nam không biết hai loại chữ viết đó).
Thứ ba: NVV chỉ là một công chức nghèo của xứ thuộc địa, để có được phương tiện cổ xúy, thay đổi nếp tư duy của một xã hội lạc hậu bằng con chữ và tri thức, nếu không dựa vào F. H. Schneider, NVV sẽ không bao giờ thực hiện được mục tiêu phát triển nghề in ấn mà “nguyên liệu” buộc phải có, là một loại chữ viết phổ thông.
Thứ tư: NVV đồng tình với nhãn quan chính trị của Phan Châu Trinh (PCT) sau khi dịch toàn bộ bản kiến nghị dài 30 trang “Đầu Pháp Chính phủ thư”, họ đã gián tiếp cùng thống nhất việc phát động cuộc cách mạng khai dân trí. NVV chủ động vì ông đã sẵn sàng với nghề xuất bản, lại là người thấu hiểu sâu sắc những cấu trúc của các ngôn ngữ (Pháp, Hán, Nôm, Anh và Quốc ngữ), đặc biệt, ông tâm đắc với việc dùng chữ quốc ngữ để phát động cuộc cách mạng văn hóa theo tinh thần của ĐKNT.
Chỉ có sau bẩy tháng hoạt động, ĐKNT bị NCQ cáo buộc cổ xúy cho bạo loạn. NCQ coi việc khai mở dân trí là mối nguy, vì khi dân chúng có kiến thức, sẽ tiếp tay cho cuộc đấu tranh đòi tự do, bình đẳng, và sẽ chống lại những bất công của hệ thống chính trị. NVV và Phạm Duy Tốn (1883-1924) vừa là đồng môn, vừa là đồng hương đều đã bị tạm giam tại Hà Đông trong nhiều ngày (8).
- Năm 1908, để giữ mạch nghề báo vừa mới hình thành, để duy trì nhiệt huyết, NVV đã làm Chủ bút tờ báo tiếng Pháp “Notre Revue ” lúc ông mới 26 tuổi.
- Năm 1909, do hiệu quả kém của tờ “Notre Revue ”, NVV làm tờ báo tiếng Pháp khác là “Notre Journal” với nội dung hàm xúc hơn về văn hóa Việt.
- Năm 1910, dư âm tiêu cực của ĐKNT về chính trị vẫn tồn tại, để duy trì mối hợp tác không bị gián đoạn, H. F. Schneider đã “mời” NVV vào Sài Gòn làm cố vấn cho tờ báo tiếng Việt nổi tiếng là “Lục tỉnh Tân văn”, đồng thời cũng tạo cho NVV những trải nhiệm quan trọng trong nghề báo.
- Năm 1913, để đối phó với khuynh hướng bạo loạn ngày càng tăng trong xã hội, ngoài những nguyên nhân phức tạp do mâu thuẫn chính trị giữa NCQ và dân chúng, NCQ nhận ra việc không có một loại ngôn ngữ phổ thông làm cầu nối giữa kẻ cai trị và kẻ bị trị là một sự bất lợi lớn.
Schneider hiểu rõ tham vọng to lớn của NVV trong việc phát triển chữ viết quốc ngữ, ở một mặt khác, đó cũng là ý đồ chiến lược của NCQ trong sách lược cai trị, ông ta đã tận dụng nguyên tắc lưỡng cử nhất tiện, và đã thỏa thuận với NVV mở một tờ báo in thuần tiếng Việt, như một phép thử về tính khả thi trong việc đưa chữ quốc ngữ trở thành thứ chữ viết phổ cập, và họ đã cử NVV làm Chủ bút tờ báo mới này lấy tên là “Đông Dương Tạp chí” (ĐDTC) xuất bản tại Hà Nội.
Tương kế tựu kế, NVV cùng các nhân sĩ tài năng có húy tâm văn hóa, đã dùng ĐDTC làm phương tiện thực hiện hoài bão cải cách văn hóa, phổ biến loại chữ viết dễ học cho toàn dân. ĐDTC trở thành loại công cụ chiến lược khi nó là tờ báo phổ thông tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ, tính từ lúc ĐCTB trong ĐKNT 1907 bị đình chỉ.
Trong lịch sử báo chí Việt Nam, đây là tờ báo đầu tiên phổ biến cách viết chữ Quốc ngữ, hướng dẫn người dân cách làm văn xuôi bằng tiếng Việt (9).
- Năm 1915, chứng kiến những kết quả to lớn vượt qua sự tưởng tượng do ĐDTC tạo ra, NCQ thấy rõ năng lực vượt trội của NVV, và để “lấy lòng” NVV với hi vọng, ông sẽ ngày càng trở nên đắc lực hơn cho chính sách cai trị của Chính phủ Thuộc địa (CPTĐ), Phòng Chính trị Phủ Toàn quyền đã hỗ trợ tài chính, khuyến khích NVV làm tiếp một tờ báo tiếng Việt khác là “Trung Bắc Tân Văn” (TBTV). TBTV là tờ báo mang đầy đủ phong cách báo chí hiện đại, được xác định có tuổi thọ dài nhất trong thời kỳ thuộc địa (26 năm) (10).
- Năm 1916, để thúc đẩy cho sự ra đời một nền giáo dục hiện đại, thay thế nền giáo dục khoa cử truyền thống của chế độ Phong kiến, NVV cùng Trần Trọng Kim (1883-1953), một học giả uyên bác, lập ra tạp chí “Nam học niên khóa”.
- Năm 1918, NVV bị Triều đình Nhà Nguyễn kết án tử hình, về tội khi quân phạm thượng, do đã dám động tới long thể của Vua Khải Định (bắt tay Vua), trong một buổi khánh tiết của Toàn quyền Đông Dương tổ chức tại Hà Nội.
Khi các quan Bộ Lại của Triều đình và Tổng đốc Hà Nội dâng sớ để Nhà Vua ra Thánh chỉ (lệnh thi hành án), Vua Khải Định đã mỉa mai mà rằng: “Sao lại có cái thứ luật lệ ‘kỳ quặc’ như vậy..?”, và đã không có án lệnh.
- Năm 1919. TRUNG BẮC TÂN VĂN trở thành tờ NHẬT BÁO đầu tiên trong lịch sử báo chí VN (11) và Chủ bút vẫn là NVV.
- Năm 1920, trước khi từ giã Việt Nam sau gần 40 năm lăn lộn, F. H. Schneider đã chuyển nhượng lại cho NVV khối tài sản khổng lồ gồm tòa soạn báo, nhà in, các phương tiện sản xuất và cả các phương tiện sinh hoạt, theo mức giá “tượng trưng”, như một sự hàm ơn NVV sau một chặng đường dài đã giúp F. H. Schneider hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp của mình.
Cũng năm 1920, NVV đã trực tiếp dàn dựng vở kịch nói của Nhà viết kịch vĩ đại người Pháp Moliere mang tên “Người Biển lận”, do NVV dịch sang tiếng Việt và công diễn trước công chúng tại Nhà Hát lớn Hà Nội ngày 25/4/1920. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện loại hình nghệ thuật mới này. NVV đã chứng minh, rằng người Việt Nam không có gì là không thể!
- Năm 1922, NVV được mời đi dự Đấu xảo tại Mác Xây lần thứ hai, nhân danh là Chủ một cơ quan báo chí. Cùng thời điểm này, Nhóm các nhà cách mạng Việt Nam yêu nước lưu vong tại Pháp đứng đầu là Phan Châu Trinh, đã hình thành với cái tên không chính thức là “Nhóm Ái quốc”. Nhóm này cùng với NVV đã có nhiều cuộc tiếp xúc và mạn đàm liên quan đến đề tài chính trị ở trong nước và quốc tế. Đồng thời cùng lúc đã diễn ra cuộc thăm viếng long trọng của Vua Khải Định tới nước Pháp.
Chuyến đi lần thứ hai này của NVV đã mang tới nhiều biến động sâu sắc và bất lợi nhất trong sự nghiệp và đời sống chính trị của ông.
- Năm 1924, NVV kết hợp với Paul Thierry Công ty Điện ảnh Indochine Film & cinemas, dàn dựng và thực hiện quay bộ phim Kim Vân Kiều, dựa theo Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Ngày 19/9/1924 bộ phim điện ảnh đầu tiên trong lịch sử điện ảnh Việt Nam này đã được công chiếu tại Sài Gòn, từ đây ra đời môn nghệ thuật thứ bẩy trên một đất nước nông nghiệp lạc hậu.
- Từ 1923 đến 1925, NVV đã thanh lý một phần số tài sản do F. H. Schneider chuyển nhượng lại để lấy tiền cải tạo, nâng cấp hệ thống dây chuyền in ấn cũ do Schneider đưa từ Pháp sang trước đó gần 40 năm.
Các thiết bị và dây chuyền công nghệ mới được NVV đặt mua từ Gutenberg nước Đức năm 1922, trong chuyến đi ‘bí mật’ cùng với người đồng chí thân thiết của mình là Phan Văn Trường (1876-1933). Toàn bộ hệ thống dây chuyền in ấn mới này đều dùng cho Nhà in TBTV (Nhà in lớn nhất Bắc kỳ đầu thế kỷ XX, tiền thân của Nhà máy in Tiến Bộ sau này).
Dây chuyền công nghệ cũ được dỡ ra và chuyễn nhượng cho Nhà Cách mạng Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), đưa vào Huế xây dựng tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Trung kỳ mang tên “Tiếng Dân”.
- Tháng 1/1926, NVV đã quyết định vào Huế gặp Nhà Cách mạng Phan Bội Châu (PBC 1867-1940) đang bị NCQ quản thúc. Hai người cùng một nhóm nhân sỹ dấu tên đã đàm đạo và thống nhất đề án quan trọng “Thỏa thuận thành lập ở Đông Dương một Đảng Cộng hòa tiến bộ” (CAOM mã số SPCE 374).
Trở về Hà Nội, để phù hợp hơn với điều kiện công nghệ in ấn hiện đại theo kỹ thuật của công nghệ in ấn mới, NVV phát động phong trào cải tiến chữ Quốc ngữ theo cách thay các thanh, dấu trong tiếng Việt thành các chữ cái khi viết.
Nhằm quy mô hóa việc xuất bản đại trà các ấn phẩm do NVV dịch sang tiếng Việt cùng các văn hóa phẩm khác, NVV đã cùng Émil Vayrac (Trưởng phòng Báo chí Bản sứ của Chính phủ Thuộc địa) “hùn vốn” thành lập “Trung tâm Âu Tây Tư tưởng – La pensée de L’Occident”.
- Năm 1927, cuộc cải tiến chữ quốc ngữ của NVV được áp dụng lần đầu tiên vào hoạt động chuyển điện tín của ngành Bưu điện Việt Nam, chấm dứt việc điện tín in chữ quốc ngữ không có dấu, tạo thuận lợi lâu dài cho xã hội (12).
(Từ 1909 đến 1926, NVV đã dịch gần ba chục đầu sách văn học nổi tiếng thế giới từ chữ Nôm, chữ Hán và Pháp văn ra tiếng Việt, ngoài mục đích giới thiệu nền văn hóa tiến bộ của nhân loại, nó còn phục vụ cho việc phổ biến và hoàn thiện chữ viết quốc ngữ, chứng minh năng lực toàn diện và tính phong phú đa dạng của loại chữ viết dùng ký tự La Tinh).
Riêng “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, NVV đã dịch từ Nôm sang quốc ngữ năm 1909 và xuất bản lần đầu năm 1912 tại Hà Nội. Sau đó NVV dịch sang tiếng Pháp và được hoàn thiện trước khi ông qua đời năm 1936 (trải qua 27 năm). Năm 1942 và 1943, bản dịch này của NVV mới được NXB ‘Alexandre de Rhodes’ chính thức phát hành tại Hà Nội.
- Năm 1930, lộ diện cuộc đối đầu chính trị gay gắt giữa NVV với hệ thống cai trị gồm Chính phủ Thuộc địa (CPTĐ), Triều đình Huế và với cá nhân Nhà báo Phạm Quỳnh (1892-1945), do ông chống lại quyết liệt chủ trương người Pháp thiết lập chế độ Quân chủ Lập hiến ở VN, trong khi NVV đấu tranh đòi áp dụng chế độ Trực trị (13).
NVV được bầu vào “Viện Dân biểu Bắc kỳ” và là thành viên “Hội đồng Kinh tế Đông Dương” (14).
- Năm 1931, mâu thuẫn chính trị giữa NVV với NCQ lên đến đỉnh điểm. Để hạn chế ảnh hưởng ngày càng tăng của NVV trong xã hội, NCQ đã cấm ông viết và phát hành các ấn phẩm in chữ Quốc ngữ.
Để tiếp tục sự nghiệp văn hóa, chính trị, xã hội, để phù hợp với các quy định của NCQ, NVV đã lập tờ báo tiếng Pháp “L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới”. Đây là tờ báo cuối cùng trong sự nghiệp làm báo của NVV, và cũng là tờ báo duy nhất của người Việt Nam đoạt giải thưởng Lớn – GRAND PRIX tại Hội chợ quốc tế báo chí Thuộc địa, tổ chức tại Paris năm 1932.
- Năm 1932, để tránh thất bại trong chiến lược thu phục NVV trở thành cộng sự trung thành với nước Pháp, NCQ quyết định tặng ông huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Chính phủ Pháp, nhưng NVV đã từ chối (15).
- Năm 1933, NCQ vẫn cố gắng ve vãn, níu kéo mối quan hệ đặc thù với NVV, đồng thời, để chấm dứt tuyệt đối các hoạt động truyền bá tư tưởng dân chủ bằng ngòi bút, CPTĐ đã ‘mời’ NVV vào Huế làm Thượng thư (Bộ Trưởng) khi Vua bảo Đại lên ngôi, và NVV cũng đã từ chối không nhận.
- Năm 1935, sau nhiều năm thương lượng giữa NCQ với NVV không đạt được bất cứ một kết quả nào, để hạ gục ông, CPTĐ đã quyết định xiết nợ NVV bằng việc phải trả trước thời hạn khoản tiền đã vay của Ngân hàng Đông dương, khi NVV đầu tư xây dựng “Trung tâm Âu Tây Tư tưởng”, buộc ông phải rơi vào cảnh phá sản toàn diện.
- Năm 1936, thay vì phải đi tù theo cáo buộc của NCQ với tội danh trốn nợ, NVV đã phải lựa chọn một trong ba điều kiện cuối cùng của NCQ là:
1/ Làm Thượng thư cho Triều đình Nhà Nguyễn.
2/ Đi tù dù chỉ một ngày.
3/ Sang Lào ‘tìm vàng’ để trả nợ.
Phương án thứ ba này được sự ‘dẫn dắt’ có hoạch định của CPTĐ, và NVV đã chấp nhận sang Lào. Nội dung sự việc này, NVV đã viết thành 10 bài, đăng trên tờ L’Annam Nouveau từ số 528 đến 538 năm 1936 xuất bản ở Hà Nội.
(Trong thời gian ngắn ngủi khi NVV sang Sê Pôn, miền Nam nước Lào, NCQ đã nhanh chóng cho phát mại toàn bộ số tài sản đứng tên NVV với một mức giá rẻ mạt).
Chỉ sau một tháng ở Sê Pôn lần thứ hai, ngày 1/5/1936, người dân địa phương đã tìm thấy thi thể NVV bị tím đen, trên một con thuyền độc mộc trôi giữa dòng sông Sê Pôn – Nam Lào. Chính quyền đã thông báo cho gia đình ngày 2/5/1936, rằng ông chết do… sốt rét và kiết lỵ!!!
Ghi chú:
(*) Kết luận trong điếu văn của Phạm Huy Lục, Viện Trưởng Viện dân biểu Bắc kỳ, Phó Hội Trưởng Hội Nhân quyền Hà Nội, đọc trong lễ tang NVV tổ chức vào ngày 8/5/1936 tại Hà Nội.
- André D’Argence là đốc học – Thanh tra tiểu học ở Hà Nội, vợ là Mai Thị Lục, chị ruột của Mai Huy Hội, là người phụ trách tài chính của NVV từ năm 1913 cho đến cuối đời.
- Tòa sứ, cơ quan đại diện của Chính phủ Bảo hộ ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
- Theo lời tâm sự của NVV được nhà báo Thái Phỉ ghi lại và đăng trên tuần báo “Tin Văn” xuất bản tại Hà Nội, ngày Chủ Nhật 28/7/1935.
- Theo báo cáo của Émile Vayrac, Trưởng Phòng Sách báo bản xứ, Chủ nhiệm tờ “Tứ dân văn uyển” tổng kết những cố gắng trong lĩnh vực xuất bản của Pháp ở Bắc Kỳ từ năm 1912-1937.
- Đây là lần đầu tiên NVV có bài viết đăng trên tờ công báo in tiếng Pháp, tên tuổi ông được các công dân Pháp ở Đông Dương và dư luận chú ý từ đây.
- “Đầu Pháp Chính phủ thư” là một văn kiện lịch sử, năm 1933, trên số 223 của “L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới” do NVV là Chủ Nhiệm kiêm Chủ bút, ông đã cho đăng lại toàn văn kiến nghị này của PCT. Năm 1949, nhân ngày giỗ của Phan Châu Trinh 24/3, văn bản này mới được đăng bằng tiếng Việt trên tuần báo Tân Dân phát hành ở Hà Nội, với bản dịch từ trước của Ngô Đức Kế (1878-1929).
- Jean-François-Henri Schneider là chuyên viên chuyên ngành về in ấn và xuất bản, năm 1882 đến Nam kỳ theo một hợp đồng thời hạn 3 năm ký với Hải quân Pháp.
Khi Schneider ở Nam kỳ, ông đã từng hợp tác với hai nhân sỹ nổi tiếng là Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), tuy nhiên qua nhiều năm, vẫn không đạt được mục tiêu tạo dựng ngành công nghiệp xuất bản ở Đông Dương.
Sau gần hai chục năm, khi Schneider chuyển ra Bắc kỳ và gặp được NVV, sự nghiệp in ấn và phát hành trở nên nhộn nhịp nhờ kết quả của việc quảng bá chữ quốc ngữ trong dân chúng, tạo ra những khởi đầu thuận lợi để NVV gắn bó và thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng nền văn học dịch, và nền văn học chữ quốc ngữ ở VN.
8. Đào Trinh Nhất (1900-1951), Tuyển tập và tác phẩm – NXB Lao động 2025, trang 567.
9. Bài của Hoàng Cương – Thu Hường –Trung tâm Lưu trữ quốc gia I – hồ sơ 46538-04.
10. “Những dấu mốc ban đầu của lịch sử báo chí HN” – Bảo tàng LS Quốc gia.
11. Lịch sử báo chí HN 2004 – NXB Chính trị Quốc gia, trang 480.
12. Tạp chí “Tem Bưu điện” của ngành Bưu điện Việt nam số tháng 11 năm 2011.
13. Nội dung này được in trên trang nhất của tờ “L’ANNAM NOUVEAU – NƯỚC NAM MỚI” số 1, ra ngày 21/1/1931 phát hành tại HN.
14. “Viện Dân biểu Bắc Kỳ” (Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin), do Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne lập ra năm 1926, là cơ quan tư vấn cho Chính phủ Bảo hộ của người Pháp. Viện Dân biểu có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính quyền khi được tham vấn, nhưng tuyệt đối cấm bàn về chính trị, và phải được phép của Thống sứ Bắc Kỳ khi muốn đề cập tới các vấn đề khác (Chương trình “Khát vọng non sông”, kênh VTV1 Đài Truyền hình VN ngày 7/10/2024).
15. “Nhất Tâm” NXB Tân Việt, Sài Gòn 1957, trang 22.
Hết bài thứ nhất.
NLB
Mời các quý vị và các bạn đón đọc bài thứ hai:
NGUYỄN VĂN VĨNH Ở ĐÂU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA – CHÍNH TRỊ VIỆT NAM?


