Hà Nội, tháng 11.2018.
Thưa các quý vị và các bạn!
Là người theo đuổi một đề tài văn hóa lịch sử qua thời gian dài, tính từ năm 2002 đến nay, đặc biệt đề tài tôi theo đuổi gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc cách mạng khai sáng, do nhà yêu nước Phan Châu Trinh khởi xướng. Có thể vì vậy, sau này, khi Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh ra đời (2007), tôi đã được coi như một ‘cộng sự’ nhỏ nhìn từ góc xa.
Trong những tháng gần đây, xã hội chính trị Việt Nam đang ồn ào trước sự kiện giáo sư Chu Hảo và nhà văn Nguyên Ngọc có những hành xử khác với quan niệm về tư tưởng, trước Bộ máy quyền lực, và đã có người hỏi tôi một cách chân tình nhưng ngộ nghĩnh, rằng ông có ‘làm sao’ không…?
Thưa, năm 2007, nhân 100 năm Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT), vô tình tôi được ‘gọi’ đến dự lễ kỷ niệm. Buổi lễ được tổ chức tại trường Nguyễn Văn Tố – Phố Hàng Quạt – Hà Nội. Thời điểm ấy, tôi không để tâm, và cũng không có ý thức gì về việc cơ quan chủ quản nào đứng ra tổ chức buổi lễ.

Ông CHU HẢO.
Tôi có mặt đúng giờ, được một người duy nhất là thành viên Ban Tổ Chức bắt tay (người gọi tôi đến). Tôi trong trạng thái lơ ngơ, vì không có mối quan hệ nào với những vị khách đang có mặt, để giao lưu trước giờ khai mạc.
Buổi lễ kết thúc, các vị khách và những người dự lễ bắt tay nhau nồng nhiệt, thân mật. Tôi đắn đo, không biết mình có nên đến chào những vị khách có danh, được giới thiệu nhấn mạnh trong buổi lễ như bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyên Ngọc, ông Chu Hảo, ông Nguyễn Khắc Mai…?
Ông Khắc Mai (người biết tôi qua một người khác) đã nói với các vị khách lúc đứng ở hành lang trước khi vào hội trường, rằng tôi là cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh… Và mọi người cũng chỉ thốt lên… à thế à…! Ý thức như vậy, nên khi buổi lễ kết thúc, tôi thấy mình thật sự nhỏ bé, và trộm nghĩ mình nên ra về, như thế cũng sẽ không áy náy, rằng mình có phải chào ai nữa không?!
Từ lâu, trong các hoạt động xã hội, tôi mặc cảm trước đôi ba trường hợp, khi gặp người có chức tước, có danh vị, đã tìm cách lân la, làm quen. Thậm chí, tôi từng tránh những gương mặt có chức tước, có tiếng tăm, dù mình có biết hay đã từng gặp họ ở những bối cảnh khác. Đơn giản, vì tôi nhận thấy rằng, đa phần, những người quyền thế, họ thường mắc chứng bệnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mỉa mai, lên án, đó là cái tính ‘quan cách mạng’, và tự cho mình là quan trọng, bởi vậy, họ hay nhìn kẻ khác với con mắt: Thằng ấy là thằng nào?!
Thế nhưng, khi còn bé, tôi đã có cơ hội được quen, biết nhiều người rất giỏi, đứng ở những vị trí quan trọng trong xã hội, nhưng ngày đó, họ khác lớp người quan trọng của thế hệ về sau. Lớp người tôi may mắn biết, đa số là những người gần gũi với cha tôi như: Giáo sư Trần Văn Giàu, bác sỹ Nhữ Thế Bảo, bác sỹ Trần Duy Hưng, Bộ Trưởng Nguyễn Văn Huyên, hay nhạc sỹ nổi tiếng Nguyễn Xuân Khoát…(1)
Tôi đã quyết định ra về. Nhưng khi tôi lấy xe máy, bỗng có một nhà báo quen, anh gọi giật và hỏi tôi: “Sao, anh lại đi về? Mà anh Bình ơi, anh không biết ông Chu Hảo à?”. Tôi trả lời: “Không, tôi chỉ biết qua truyền thông, rằng ông ấy từng là Thứ trưởng gì đấy, cái ông tóc trắng chứ gì…?”. Người bạn là nhà báo vỗ vai tôi nói thân mật: “Đúng, đúng, giời ơi, ông Chu Hảo là con trai ông Chu Đình Xương đấy…. anh không biết thật à? Ông Xương nổi tiếng lắm, thời bố anh đấy”.
Tôi hét lên, giống như kẻ không bình thường trước mắt thiên hạ: “Úi giời ơi, chết tôi rồi, hóa ra là ông này à…. Ôi thế à! Mà đúng, ông ấy họ Chu mà!”.
Anh nhà báo chắc chỉ buồn cười, do thấy tôi đột ngột vỡ òa, chứ không thể biết được, rằng tôi đã quá mừng, vì tôi đã tìm ra người thân của một người đã quý tôi đến mức từng đến chia tay, dặn dò tôi lúc lên đường ra trận tháng 11 năm 1971, và đó là ông Chu Đình Xương.
Ngày ấy, tôi không hiểu chút gì về ông Chu Đình Xương, về sự nghiệp và quá khứ oanh liệt của ông, tôi chỉ thấy ông hay đến với cha tôi, hai người thường nói chuyện rất mặn mà và rất lâu. Tôi ghi lòng câu nói để đời của ông Chu Đình Xương đối với tôi, trong bữa cơm khách hiếm hoi ngày ấy của gia đình mình. Thời ấy, mấy ai dám làm cơm khách, khi mà từ giọt nước mắm, đến miếng mỡ lợn, rồi hạt gạo, thậm chí cả mớ rau muống… đều phải có tem phiếu mới được mua với số lượng ví dụ, nếu so với bây giờ.
Thời ấy, người ta luôn mồm an ủi nhau về giới hạn của vật chất bằng câu: Lính tráng có xuất, bộ đội có khẩu phần, nhân dân có tiêu chuẩn! Việc một gia đình làm cơm khách, tức là sẽ phải giảm khẩu phần ăn trong cuộc sống hàng ngày ngay bữa ăn sau đó. Tuy vậy, trước cảnh tôi sắp đi xa, thật xa và còn không hẹn ngày trở về, nên mẹ tôi ‘lên gân’ làm bữa cơm tươm tất, vừa là để mừng cho tôi tròn 20 tuổi, vừa là chia tay tôi lên đường nhập ngũ, vậy nên, khách mời chỉ có hai người, là ông Xương và ông Xuân Hồ (Bộ VH).
Nhà tôi có cái máy radio quay đĩa của Liên Xô (Rigonda) do tôi mang từ Bungari về. hôm ấy thật may mắn, vì vào bữa ăn được một lúc, thì có điện (do bị cắt thường xuyên). Tôi đắc chí, nghĩ ngay ra việc mở nhạc cho ra vẻ có không khí phong lưu. Tôi lấy chiếc đĩa hát của hãng Supraphone – Tiệp Khắc, nhạc semiclassic (bán cổ điển) do ban nhạc Caravelli của Ý thực hiện.
Nghe tiếng nhạc êm dịu, thanh bình, ông Chu Đình Xương quay sang phía tôi nói với vẻ mặt bùi ngùi: “Bình ạ, thế mới biết các cháu bây giờ, trước khi ra trận, có nhiều cái phải nghĩ, phải tiếc thật. Ngày xưa, các bác đi kháng chiến, nó đơn giản lắm, vì sau lưng chỉ có mỗi cái ba lô bốn mảnh (2), lúc đó cuộc đời có gì đâu để mà tiếc…?!”.
Vào giây phút đó, tôi đã đơn giản nghĩ rằng, bác Xương chỉ muốn an ủi, động viên mình trước khi dấn thân đến một nơi gian khổ, nơi sự sống sẽ rất mỏng manh, và không có gì đảm bảo, rằng sẽ có ngày trở lại.
Sau này, khi tôi may mắn từ chiến trường trở về một cách lành lặn, nhắc đến cái bữa cơm ấn tượng đó, cha tôi mới có dịp cắt nghĩa để tôi hiểu, rằng bác Chu Đình Xương là ai? Bác giỏi ra sao? Cha tôi còn nhấn mạnh: Bác là công an đấy… bảo vệ trực tiếp Bác Hồ đấy…!
Cha tôi cho biết:“Bác Xương với cha biết nhau vì cùng là những người tham gia thực hiện buổi lễ mít tinh hôm 2/9 ở quảng trường Ba Đình năm 1945. Đấy, Bình có thấy cái ảnh trên lễ đài hôm đó, có cái người cầm ô cho Bác Hồ… là bác Xương đấy!”.
Ngày ấy, tôi cũng giống như nhiều người trẻ, chẳng mấy để tâm đến những câu chuyện của cha mẹ mình, về những việc các cụ tham gia cách mạng ra sao, bản chất và thực chất của những sự tham gia đó là như thế nào…? Lứa tuổi chúng tôi khi lớn lên trên cái đất nước cả đời sống lặn lội này, lúc nào cũng chỉ lo mưu sinh, rồi đối phó với những chuyện nhỏ nhặt, vì ở đâu cũng thấy ganh ghét, đố kị… Nhất là nếu anh làm một điều gì khác với tập thể, với đa số, là sẽ được ngồi viết kiểm điểm ngay, thậm chí còn ‘được’ bêu gương trong các cuộc họp khi đòi chống lại lối sống cơ hội, kiếm chác, điều mà ngày nay đã mặc nhiên coi là một ‘nguyên tắc’ tồn tại, một lẽ sống… Ngày đó, tôi đúng như kẻ vô ý thức trước cuộc đời của cha mình.
Nhưng điều ông Xương nói với tôi từ cái năm mình mới 20 tuổi, nó đã trở nên ấn tượng, tôi càng nghĩ càng thấy có quá nhiều điều bất thường. Nhìn lại, ngày đó, đắm mình trong không khí chiến tranh, tôi đâu nghĩ được, rằng nếu mình không bao giờ trở lại, làm sao có cơ hội để nhắc lại cái kỷ niệm hiếm hoi giữa tôi với ông Chu Đình Xương?
Càng nhiều tuổi, tôi càng hiểu cái tâm thức của thế hệ ông Chu Đình Xương và cha tôi, tôi càng thấm cái lý do, vì sao họ đã chấp nhận hy sinh tất thảy cho lý tưởng. Sau này tôi nhận ra, rằng đa phần những lực lượng tham gia kháng chiến chống Pháp, họ đều có xuất thân nghèo khó, có phải ngày đó vì họ đã không có gì để mất… và cũng chẳng có con đường nào khác để đi…?!
Khi thành người lớn, tôi mới nghĩ được rằng, đây chính là sai lầm kinh hoàng của người Pháp Thực dân! Suốt nhiều thập niên cai trị, với những toan tính quy mô, đầu tư, mở mang xây dựng đất nước này, nhưng sách lược gì mà họ đã đẩy người dân vào cùng đường? Trí thức bất mãn, tiểu thương bế tắc, dân lao động sống với cuộc đời rẻ mạt, và chính thực tế đó đã biến họ trở thành đối lập, và họ đã chống lại.
Trong ký ức của tôi, ông Chu Đình Xương rất đẹp, ông không phải chỉ đẹp về hình thức, mà giọng nói của ông cũng đẹp, nó có âm hưởng, gọn và chắc. Ánh mắt của ông luôn sáng và lúc nào cũng như cười khi trò chuyện…. Rồi đến một ngày, bác Xương mất đi, cha tôi cũng mất đi, tôi đã ngỡ tưởng sẽ chẳng bao giờ tìm lại được hình bóng của con người đã gieo vào nhận thức của mình những điều sâu nặng. Cho dù, tôi đã vẫn may mắn giữ được một kỷ niệm với bác Xương, đó là bức ảnh ông ‘được’ chụp trong đám cưới tôi tháng Giêng năm 1980, sau khi tôi cởi bỏ áo lính.
Và Sự vỡ òa của tôi khi biết ông Chu Hảo là con trai ông Chu Đình Xương là vì thế!
Hôm ấy, sau khi có sự lưu ý của anh nhà báo, tôi đã thôi không vội về nữa, tôi tìm đến làm quen với ông Chu Hảo. Tôi đã tự giới thiệu với ông, rằng tôi là đứa nào? Đến đây vì sao, và cha tôi là ai? Ông Chu Hảo ngạc nhiên, mừng rỡ một cách hồn nhiên. Ông nhận ra mọi điều, và khẳng định cha tôi là người bạn thân của bố ông!
Ơn Giời, là kẻ có chút tinh ý, tôi không mấy khó khăn trong việc phân biệt lòng người từ cái bắt tay đầu tiên, từ nụ cười đầu tiên khi gặp gỡ. Ông Chu Hảo đã đề nghị tôi, đến gặp nhau ở cơ quan ông để anh em trò chuyện. Tôi xin số điện thoại của ông và ra về trong tâm trạng hưng phấn.

Thật có lý khi vào năm đó, tôi vừa hoàn thành cuốn phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” (2007).
Chỉ sau khoảng một tháng kể từ khi biết nhau, tôi nhận được đề nghị của ông Chu Hảo về việc, ông và một số các đồng nghiệp muốn được xem bộ phim. Tôi tổ chức chiếu phim chiêu đãi tại nhà.
Chính các hoạt động này, đã giúp tôi được làm quen nhiều hơn với các vị giáo sư, tiến sỹ, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học danh tiếng khác, đặc biệt là nhà văn Nguyên Ngọc.
Trước sự kiện này, tôi chỉ biết ông Nguyên Ngọc là tác giả của cuốn sách “Đất Nước Đứng Lên”, là tác phẩm văn học kinh điển của tinh thần yêu nước, mang tư tưởng cách mạng ở Việt Nam, là bức tranh sinh động nhất được vẽ về phong trào chống Pháp của đồng bào Tây Nguyên, một địa danh mà người dân miền Bắc ngày đó, hoàn toàn không có khái niệm gì.
Tác phẩm của ông như tiếp lửa cho tinh thần xung phong, xả thân vì lý tưởng cách mạng, vì yêu quê hương của thế hệ trẻ. Rồi ông đi vào sách giáo khoa, nhà văn Nguyên Ngọc trở nên thân thiết và ấn tượng với đồng bào miền Bắc XHCN từ thực tế đó.
Sau buổi xem 4 tập phim của tôi, các vị khách đều tỏ ra bồi hồi, xúc động. Bộ phim như làn gió thổi bùng ngọn lửa văn hóa lịch sử, vốn đã lom đom trước đó trong tâm tư, tình cảm và suy nghĩ về Nguyễn Văn Vĩnh của người xem. Chỉ nửa tháng sau, ông Chu Hảo lại xin tôi một buổi nữa, dành cho các nhân sỹ khác, những người quan tâm đến lịch sử cận đại. Tôi chẳng có lý do gì để không đáp ứng đề nghị của ông.
Giữa tháng 9 năm 2007, ông Chu Hảo gọi tôi đến văn phòng nơi ông làm việc. Ông thông báo với tôi bằng chất giọng khá nghiêm trọng, nhưng lại mang hơi thở thân mật, ông nói:
“Hôm nghỉ Quốc khánh 2/9, mình và anh Nguyên Ngọc đến chơi nhà riêng ông Trương Tấn Sang (Chủ Tịch nước). Trong câu chuyện dài, anh Nguyên Ngọc và mình có kể với ông Trương Tấn Sang về bộ phim cụ Vĩnh. Ông Sang thích thú, ông hỏi nhiều điều về nội dung bộ phim.
Anh Nguyên Ngọc và mình có đề nghị với ông Sang rằng, anh nên xem bộ phim này, xem không phải để giải trí, anh cần biết như đòi hỏi của một loại hình công việc. Bộ phim rất bổ ích và thiết thực, nó sẽ giúp anh hiểu thêm một phần quan trọng của quá khứ anh ạ!
Bình biết không, ông Sang nhất trí ngay, ông ấy nói, để mình trao đổi với cậu thư ký, cậu ấy sẽ giúp xem xét việc bố trí thế nào cho hợp lý, vì 4 tập, dài đấy. Ông ấy đưa mình điện thoại của cậu thư ký đây.
Mình cũng đã trao đổi và gửi lại điện thoại của Bình để cậu ấy chủ động liên hệ. Tóm lại, Bình nên sẵn sàng để nếu có thông báo từ cậu thư ký, Bình làm cho tốt nhé. Mặt khác, Bình thử nghĩ xem có thể làm một tập rút gọn từ 4 tập được không?”.
Ông Chu Hảo nói tiếp:
“Hôm mới đây, trong một hội nghị, anh cũng có gặp các vị bên Bộ Văn Hóa, cùng ngồi có cả bà Nguyễn Thị Hồng Ngát, Bình biết bà Hồng Ngát chứ? Giờ là Phó Cục Trưởng Cục Điện ảnh đấy. Anh trao đổi có tính thông báo về bộ phim, các vị ấy cũng có vẻ quan tâm đấy. Anh nói thẳng với bà Hồng Ngát, rằng chị phải xem phim này. Bình có biết bà ấy bảo gì không? Bà ấy nói toẹt luôn rằng: 4 tiếng đồng hồ, dài chết cha, ai mà xem được. Sao không làm nó ngăn ngắn thôi….?!”.
Nghe đến đây, tôi đã không kìm chế được, dù chất giọng của ông Chu Hảo không mảy may có ý phê phán, hay chê trách, ông chỉ truyền đạt. Nhưng tôi khác, tôi phản ứng không do dự: “Thế mà cũng gọi là cán bộ văn hóa? Những người như thế, không bao giờ em mời xem nhá! Sao lại có cái cách tư duy về lịch sử như thế được, thật xấu hổ!”.
Đến một ngày, thông qua những kênh truyền thông khác nhau, nhờ các diễn biến mang tính văn hóa chung quanh đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi được ‘xếp’ vào loại người… Vua biết mặt, chúa biết tên.
Tôi được phép bắt tay, trò chuyện với các nhà khoa học, với nhiều nhân vật nổi danh đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong nhiều lĩnh vực, khác với bối cảnh thời tôi còn làm nghề ‘bơ thừa sữa cặn’ (phiên dịch), cũng thường xuyên được bắt tay nhiều gương mặt quan trọng, trò chuyện, tiệc tùng với những nhân vật cực kỳ ‘khó’ gặp, ngồi xe ô tô cắm cờ, ra vào những nơi người lạ không được dừng lại trước cổng…. Nhưng thời đó của tôi là công việc.
Nhờ đi sâu vào đề tài mình theo đuổi, một ngày tôi nhận được món quà quý từ một vị giáo sư người Mỹ, dạy môn Đông phương học tại đại học Montreal-Canada, đó là bài viết bằng tiếng Pháp từ năm 1936, dài 32 trang của cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1889-1947), tổng kết và đánh giá sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi đã ‘van lạy’ ông giáo Phạm Toàn, để ông nhận dịch giúp ra tiếng Việt. Nói là van lạy không quá lời, vì cái ông Phạm Toàn ấy quá bận, già lắm rồi mà vẫn bận, nên quỹ thời gian với ông là vô cùng quý giá, đâu có như bọn công chức chúng tôi, đa phần đều nổi tiếng là ‘tỷ phú’ thời gian….
Sau hơn một tháng, ông Phạm Toàn gọi điện thoại cho tôi, ông nói: “Tớ mệt quá rồi, bài khó dịch quá cậu ạ. Mình cũng đã từng dịch nhiều tư liệu của cụ Tố, nhưng cái này nó khác, vỡ mẹ nó cả đầu ra đây này, nên cậu đừng sốt ruột nhá, đừng giục tớ.
Này Bình ơi, nếu tớ dịch xong, cậu cũng nên nhờ ai đó rà soát lại, vì dù sao, tớ không phải là đứa chuyên sâu về ngôn ngữ, hơn nữa, nhiều nghĩa của từ ngữ tớ cũng bị hạn chế. Nhưng bài này hay lắm, văn tiếng Tây của các cụ ngày xưa kinh quá. Vậy nhé, cậu nghĩ trước xem sẽ nhờ ai đi….”.
Tôi hơi hoang mang về ý kiến ông Phạm Toàn, bởi lẽ muốn rà soát, hiệu đính một bài dịch, người đó nhất định nếu không giỏi tiếng Tây và cả tiếng Việt hơn người dịch, thì cũng phải ngang bằng ông ta. Vậy tôi biết sẽ phải tìm ai?
Tôi đã từng nghĩ đến đôi ba người nổi tiếng trong làng văn hóa Việt – Pháp để liên hệ, đặc biệt như cụ Hữu Ngọc, dịch giả Dương Tường… Nhưng tôi không có quan hệ gì với họ. Ông Đào Hùng (1932-2013) và bà Tôn Nữ Thị Ninh thì tôi ái ngại.
Trong việc dịch tư liệu Việt – Pháp, tôi đã từng bị ông Hữu Ngọc mắng như chửi, khi tôi tìm đến ông để sửa lời dịch tiếng Pháp của bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”. Vô tình, tôi đã thoáng nghĩ đến nhà văn Nguyên Ngọc, mặc dù lúc đó, tôi không hề biết ông Nguyên Ngọc từng là dịch giả, là người rất giỏi tiếng Pháp.
Nhận được bản dịch từ ông Phạm Toàn, tôi điện thoại xin trình bày với ông Nguyên Ngọc, ông đã trả lời tôi thế này: “Mình bận lắm Bình ơi, mà chiều nay mình lại vào Đà Nẵng rồi. Nhưng ông Phạm Toàn dịch là yên tâm đấy, không phải lo đâu, ông ấy giỏi mà… Mà thôi, được rồi, ngày mai cậu cứ đưa đến nhà tôi đi, cứ gửi lại cho bà vợ mình. Mấy ngày nữa mình ra, mình sẽ xem giúp, mình ở chỗ tập thể quân đội Lý Nam Đế đấy”. Tôi cảm ơn ông lắm và cho in sẵn tập tài liệu bằng cả hai thứ tiếng.
Tôi hỏi thăm nhà báo Yên Ba (báo QĐND) địa chỉ chính xác nhà ông Nguyên Ngọc. Sáng hôm sau, tôi mò đến khu tập thể. Khi đến đúng nơi ở của ông, tôi ngạc nhiên đến mủi lòng, vì tôi không tưởng tượng được, rằng nhà ở của một người danh tiếng như nhà văn Nguyên Ngọc, một người xả thân qua hai cuộc kháng chiến kinh hoàng với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu tác phẩm để đời, và là một người từng giữ những chức vị không nhỏ khác nhau trong bộ máy quản lý văn hóa của Nhà nước, mà nhà ông chỉ có thế này thôi sao???
Tôi từng đến nhà một vài nhân vật là tá, tướng ở khu Lý Nam Đế, đặc biệt là khu vực nằm sau lưng Bộ Quốc phòng, nhà họ đẹp, sang trọng lắm, nhiều tiện nghi lắm, nên tôi mang cái ấn tượng ấy, áp vào hoàn cảnh của ông Nguyên Ngọc, và tôi đã ngỡ ngàng có phần xót xa…
Tôi gặp ngay bà vợ của nhà văn ở đúng cửa ra vào. Tôi nhìn cái dáng vẻ của bà, nó cũng ảm đạm như căn nhà bà đang ở, tôi ước chừng quá lắm được khoảng hơn ba chục mét vuông.
Tôi liếc mắt khắp cái không gian được gọi là ‘nhà’ của một nhà văn lừng lẫy, con người có trí tuệ uyên thâm, bằng ngòi bút, đã góp phần động viên được cả một dân tộc đứng lên, lao vào hai cuộc kháng chiến được gọi là Thần Thánh, với lời hiệu triệu thật giản dị: Đất Nước Đứng Lên… Vậy mà trong nhà ông, tôi không nhìn thấy một thứ đồ vật nào đáng để gọi là tiện nghi, chí ít cũng là để giúp cho ông tái sinh sức lao động, sau những dâng hiến mòn mỏi…
Lòng dạ tôi băn khoăn vô hạn. Tôi cúi chào và xưng danh với bà vợ nhà văn, tôi chủ động nói rõ việc tôi đã trao đổi trước qua điện thoại với ông Nguyên Ngọc. Nghe tôi nói, bà bỗng như gặp người thân từ lâu. Bà a…a… cái giọng a, rồi sang à chỉ dành cho những người gần gũi, tôi thấy bà mừng ra mặt.
Tôi ngạc nhiên, khi thấy bà nói với tôi như với một người quen biết đã lâu, như đã tỏ tường về hoàn cảnh của nhau từ hồi nào, bà bảo tôi thế này:
“A, anh là cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh chứ gì? Tôi biết rồi, nghe nói nhiều rồi. Anh vào nhà đi, sao cứ đứng ở cửa thế. Khổ quá, chú cứ đi suốt, chẳng biết khi nào ông ấy mới được nghỉ.
Tôi cũng chẳng biết phải làm sao….
Vậy là anh đã nói chuyện với nhà tôi rồi chứ gì, anh yên tâm, cứ để tài liệu ở đây, nhà tôi về, tôi sẽ đưa ngay. Mà cũng chẳng biết ông ấy sẽ ở nhà được mấy ngày, thấy nói là sẽ lại vào Tây Nguyên luôn…”.
Tôi trao cho cô cái phong bao tài liệu, rồi cũng thăm hỏi cô đôi điều, cái chính là để phúc đáp cái thiện tình cô đã dành cho tôi, khi cô từng biết tôi là đứa nào. Tôi chủ động xin phép đi ngay, vì nếu ngồi lâu, có thể tôi sẽ không kìm chế được, sẽ lại hỏi những điều mà người đời gọi là tò mò chứ không phải là chia sẻ. Tôi đã muốn biết, rằng vì sao cô chú lại sống đạm bạc thế này? Vì sao cô chú lại nghèo thế này cơ? Tại sao không đề nghị thế nọ, thế kia với cơ quan này, với ban ngành nọ…. Và rồi không biết đâu, tôi lại biến thành kẻ xúc phạm, làm tổn thương đến bản tính của họ?!
Năm 2007, tôi biết chắc chắn, quan điểm của các cơ quan có trách nhiệm, đã cố tình không quan tâm đến việc 100 năm ra đời tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam là Đăng Cổ Tùng Báo, bởi lẽ tờ báo đó không nằm trong hệ thống báo chí cách mạng, theo quan điểm của Chính quyền. Tôi xác định, việc kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Văn Vĩnh lần thứ 125 cần được nhấn mạnh, nhất là khi ra đời bộ phim tài liệu, chứng minh vai trò đặc biệt của một người đã cống hiến nhiều hơn ai hết cho nền văn minh Việt Nam.
Nhận thức như thế, nên tôi đã đứng ra tổ chức buổi lễ vinh danh sự thật này một cách khiêm tốn, tại một khách sạn nhỏ, khách sạn Quốc Tử Giám. Buổi lễ có mặt hầu hết các nhà sử học hàng đầu (trừ ông Dương Trung Quốc), các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà khoa học, nhà báo….
Đã có những diễn biến không tế nhị xảy ra sau lưng buổi lễ, tôi ghi nhớ nghiêm túc những sự việc đó. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ nào đi nữa, thì đây vẫn là một sự kiện lịch sử cho dù đã có kẻ không muốn ghi nhận!
Buổi lễ đã để lại ấn tượng mạnh cho các khách tham dự qua ý kiến của những vị khách mời, đặc biệt là phát biểu của nhà văn Nguyên Ngọc khi ông bày tỏ:
“Bấy lâu nay, với Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta đều biết ông là một quả núi văn hóa. Đáng tiếc, là vì chúng ta đứng ngay dưới chân núi, nên đã không cảm nhận được sự hùng vĩ của nó. Đến nay, nhờ trải qua một thời gian dài, là cơ hội để chúng ta đứng lùi ra xa, nhìn ngắm ngọn núi, mới thấy được nó cao bao nhiêu? Nó lớn đến đâu? Nó đáng trân trọng đến ngần nào?”.

Năm tháng trôi đi, tôi đã may mắn trở thành điểm hẹn của nhiều hoạt động xã hội trải dài từ Bắc vào Nam. Tôi nhận được sự quan tâm của hệ thống truyền thông từ lề Dân đến lề Đảng. Nhờ được giao lưu với các tầng lớp xã hội, tôi lại càng có cơ hội để chứng kiến các góc nhìn khác nhau của công chúng, về những gương mặt được gọi là danh tiếng. Trong tôi dần hình thành sự nhận thức có cơ sở, khi nói đến bản chất con người trong những sự kiện lịch sử.
Tôi hãnh diện vì được quen và được nhà văn Nguyên Ngọc tôn trọng, cho dù dưới con mắt của ông, tôi chỉ là một đứa ‘trẻ trâu’ trong làng văn hóa.
HÔM NAY
Suốt những năm tháng qua, đọc, quan sát, lắng nghe, suy tư…. với thế hệ chúng tôi, những kẻ lớn lên dưới mái trường XHCN của nước Việt Nam DCCH, tôi thực sự tin rằng, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo, là hình mẫu trong sáng của những người cộng sản sinh ra trong chiến đấu, trong lửa đạn.
Tôi thấy ở họ bản tính điềm đạm, chân thực, với bề dày hiểu biết có khoa học. Họ không có điều tiếng liên quan tới lối sống vơ vét, như một số nhân vật khi đứng ở vị trí quyền lực. Tôi được chứng kiến, hai con người này luôn coi danh dự là cao quý, họ giúp công chúng trở nên có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc và tổ quốc, họ là hiện thân của những kẻ vì dân!
Với tôi, họ là những người đáng được có nhiều hơn cả sự kính trọng!
Hỡi những ai quan tâm đến hai con người này, hãy chỉ nghe giọng và cách nói của họ thôi, đã thấy toát lên sự thành thật cùng tấm lòng trung thực của kẻ được gọi là có học và có liêm sỷ!
Nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam (đặc biệt là phía Bắc) đã từng coi hai ông là tấm gương không phải chỉ trong chiến đấu, mà ngay cả trong học tập và rèn luyện. Phàm những kẻ tham danh, hám lợi, chắc chắn sẽ không làm được những gì như hai ông đã làm trong quá khứ đối với đồng bào mình.
Những kẻ ‘nghiện’ danh lợi, không bao giờ biết và chịu hy sinh, nhất là hy sinh vì danh dự, thì ông Nguyên Ngọc, ông Chu Hảo là những đối tượng làm xấu mặt họ!
Để không phải hồ nghi, xin các quý vị và các bạn hãy đọc lại những gì hai con người đó đã viết, bởi lẽ cuộc sống luôn xác định: Văn là Người!
Thật chua chát, khi chúng ta phải chứng kiến sự ỳ xèo đến mức nhơ nhuốc về hai con người này, mà với tôi là duy ý chí, thậm chí có cả sự bất đắc dĩ của dăm ba kẻ cơ hội, mượn ‘cớ’ không chỉ để ‘tấn công’ hai ông, mà còn ẩn chứa những mục đích đen tối hơn của những kẻ dấu mặt. Vậy nhưng, trong sâu thẳm cõi lòng, chính họ cũng rất biết như vậy là không nên.
Trong các cuộc trò chuyện của tôi với những người quen, là viên chức đang tại nhiệm đứng trong bộ máy quyền lực, dưới con mắt của những kẻ hiểu biết, có lối sống chân thực, nhiều người trong số họ từng quen biết hai ông, thậm chí là là ‘ông em’, ‘bà em’ của hai ông, họ cũng đã không dấu được thái độ bùi ngùi, xót xa… Nhưng họ đều đồng ý rằng, rất không nên xử sự với nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Chu Hảo như vậy!
Hai ông đều trưởng thành trong cái môi sinh chính trị, vì lý tưởng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, vì một xã hội không dối trá, không vụ lợi, nên tôi liên tưởng đến bài viết ‘Can đảm của công chúng’ đăng trên VnExpress ngày 6/10/2018 với thông điệp “Lên tiếng, lúc nào cũng khó hơn lờ đi!”.
Tôi nghĩ, cách hành xử của bộ máy quyền lực với nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Chu Hảo, có điều gì đó khiên cưỡng, hình như ‘Họ’ không hẳn định như vậy!
Song ‘Họ’ đừng cố tình quên rằng, chính những cống hiến trên chặng đường dài qua nhiều cuộc cách mạng của hai con người đó, là sự xây đắp nên cái danh và cái uy của thể chế hôm nay! Việc bôi nhọ Nhà văn Nguyên Ngọc và Giáo sư Chu Hảo, chính là điều càng làm cho lịch sử ngờ vực những gì cha ông ta đã hy sinh.
Tôi tin, họ, những người phê phán, chính là những người bị lương tâm cắn rứt nhiều hơn ai hết. Còn với những người ít hiểu biết, thì đây là ‘nhiệm vụ’ được giao!

Nếu ngay ngày mai, hai con người này có bị xử bắn vì những kết án của quyền lực, thì tất cả những người trung thực trên đất nước này, đều không ngạc nhiên!
Tôi rất tin, rằng cả hai ông Nguyên Ngọc và Chu Hảo không bao giờ thấy hối tiếc về những gì mình đã làm, những gì mình đã can dự và cả những gì mình đã dâng hiến. Chắc chắn hai ông Nguyên Ngọc và Chu Hảo, hiểu hơn ai hết thế nào là sự hy sinh cho lý tưởng?!
Và hai ông sẽ thấy hãnh diện, việc mình đã không có biệt phủ, không có tài khoản kếch xù ở nước ngoài, không tìm cách nhập quốc tịch khác dù có dư điều kiện, là sự khác biệt tuyệt đối với những kẻ từng nhân danh ‘vì’ nước, ‘vì’ dân. Những kẻ khi cháy nhà, lộ ra cái mặt chuột, nhưng lại van xin, khóc lóc đòi được ‘ân xá’… vì gia đình tôi có công với nước!
Tôi tin rằng, không phải chỉ có ông Nguyên Ngọc và ông Chu Hảo thấm thía về thế nào là sự dấn thân, mà tất cả những ai, từ cổ chí kim, khi đã thực lòng theo đuổi lý tưởng vì sự tiến bộ của dân tộc mình, thì chẳng có sự hy sinh nào là lớn, và cũng không có sự mất mát nào là nhỏ!
Cầu cho mọi sự an lành đối với Nhà văn Nguyên Ngọc và Giáo sư Chu Hảo!
Hà Nội, Những ngày căng thẳng thực sự từ cuộc chiến tranh kinh tế Mỹ – Trung.
Chú thích:
- Trần Văn Giàu (1910-2010), Nhà khoa học, triết học. Đảng viên ĐCS Pháp 1929, học đại học ở Toulouse-Pháp, Đảng viên ĐCS VN 1931. Tốt nghiệp Đại học Đông phương tại Liên Xô cũ 1933. Từ 1937 đến 1940 ông bị biệt giam tại Batiment S, ông là Bí Thư Xứ ủy Nam Kỳ 1945, Chủ tịch UB Kháng chiến Nam bộ. 1956 được phong hàm giáo sư, Bí thư Đảng ủy ĐH Tổng hợp HN. Từ 1962 đến 1975 công tác tại Viện Sử học sau này là Viện KHXH VN).
- Bác sỹ Nhữ Thế Bảo (1912-1983), tốt nghiệp ĐH Y khoa 1938. Sáng lập viên Đảng Xã hội VN 1946. Ra nhập ĐCS.VN 1947, là một trong những người tiên phong thành lập nghành Quân y VN. 1956 chuyển về Bộ Y Tế. Bác sĩ biệt phái chăm sóc sức khỏe lãnh tụ. Viện Trưởng bệnh viện 108, Viện Trưởng đầu tiên bệnh viện Hữu nghị Việt Xô.
- Bác sĩ Trần Duy Hưng (1912-1988), Thị Trưởng đầu tiên và lâu nhất của Hà Nội từ 1946-1977.
- Nguyễn Văn Huyên (1905-1975), giáo sư-Tiến sĩ, nhà sử học, nhà giáo dục. Là Bộ Trưởng Giáo dục dài nhất trong lịch sử VNDCCH (gần 29 năm).
- Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát (1910-1993), Chủ tịch Hội Nhạc sĩ VN từ 1957 đến 1983.
- Ba lô 4 mảnh: Là loại ba lô may bằng vải dày, có 5 miếng vải – 1 ở giữa, và 4 mảnh bốn cạnh như hình chữ thập, có quai may trần nhiều lớp bằng loại vải dày để khoác lên hai vai – Dùng trong giai đoạn kháng chiến với Pháp. Khi xếp quần áo mang đi xa, trải ba lô ra chỗ phẳng, đặt áo quần gấp gọn vào giữa, khi đã đủ (chỉ có độ dày giới hạn phụ thuộc vào kích thước của ba lô), gấp bốn miếng vải ở 4 cạnh vào, áo quần được cố định nhờ buộc các dây vải lại với nhau, các dây vải được may ở các cạnh mép của 4 mảnh ba lô.
- Ba lô con cóc: Là loại ba lô dùng trong chiến tranh với Mỹ. Hình ba lô như chiếc túi dài theo chiều dọc, may bằng vải bạt, miệng ba lô có sợi dây vòng quanh, dùng để rút lại sau khi để hết tư trang bên trong, có miếng vải trên cùng như cái nắp kèm dây buộc, có hai quai vải may trần nhiều lớp để đeo khoác lên hai vai, dùng để đựng áo quần và tư trang. Ba mặt của chiếc ba lô có may các túi nhỏ lồi ra ngoài, để đựng những vật dụng vặt vãnh, tùy ý người sử dụng.
NGUYỄN LÂN BÌNH