GIỚI THIỆU SÁCH: Thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp 1914 – 1938

Thưa các quý vị và các bạn!

Suốt một chặng đường dài, qua hàng chục năm, trong các buổi tụ hội, khi tôi có cơ hội được tiếp xúc với các tầng lớp khác nhau, ở mọi lứa tuổi, những người biết tôi, thường lúc giới thiệu tôi với những người khác cùng có mặt, họ thường nhấn mạnh, rằng tôi là đứa nào?! Nào là cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (NVV), rồi là con trai của người lắp đặt hệ thống truyền thanh trong ngày 2/9/1945 ở Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội, và là… là…

Nhưng thật mỉa mai, vì trong số họ, không ít những gương mặt có danh (cùng học vị), khi nghe tên NVV, đã tỏ ra ngạc nhiên. Vô duyên hơn, là trong đó, có những vị cũng làm nghề báo, nghề văn, thậm chí có chức tước trong làng văn hóa, cũng giật mình vì… chưa nghe nói đến NVV bao giờ!

Trong những bối cảnh đó, tôi hay gỡ bí cho những người liên quan, để họ khỏi phải suy ngẫm, xem NVV là thế nào? Và tôi nói nhanh, rằng mình là cháu ruột nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, tác giả bài thơ “Chùa Hương”, còn cha tôi, là em ruột của ông, là các con đẻ của NVV…. Lý giải như thế, lập tức tôi thấy hiệu quả.

Cứ thế, trong đời sống văn hóa, tinh thần của phần đông thế hệ người VN sinh ra sau năm 1945, họ biết đến Nguyễn Nhược Pháp có gì đó hơi miễn cưỡng, nếu không có một ngày, ca sỹ Trung Đức, người từng là chiến sỹ lái xe đường Trường Sơn trong chiến tranh, người có tâm hồn văn nghệ, đã thành công một cách ‘kỳ diệu’ trong việc cải biên bài hát “Em đi Chùa Hương” của nhạc sỹ Trần Văn Khê (1921 – 2015) sáng tác năm 1946. Ca sỹ Trung Đức đã làm cho bài hát sinh động hơn, gần gũi hơn với mọi người VN, để từ đó, xã hội càng biết đến tác giả bài thơ hay nhất trong lịch sử các tác phẩm thi ca viết về tôn giáo, viết về Chùa Hương, và đó là Nguyễn Nhược Pháp.

Hơn 80 năm đã qua, bài thơ “Chùa Hương” ngày càng trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt, nhất là khi đất nước bước vào mùa lễ hội sau Tết Nguyên Đán.

Vậy nhưng, thời gian trôi đi, xã hội chỉ để tâm vào cái số mệnh bạc của thi sĩ mà thôi…. Nhiều nữa, người đời cũng chỉ xoáy vào những mối tình câm của một người yểu mệnh, mà không mấy ai biết rằng, Nguyễn Nhược Pháp không phải chỉ là một nhà thơ, không phải chỉ là một chàng trai “đa tình lãng mạn”, mà trên nữa, ông còn là người được thừa hưởng những tinh hoa văn hóa của cha mình, nên ông còn viết kịch, viết truyện ngắn và là người viết cả tiểu luận phê bình văn học, cho dù ông từ biệt cõi nhân gian lúc mới có 24 tuổi.

Để chứng minh sự xuất chúng về những tài năng thiên bẩm của Nguyễn Nhược Pháp, để giúp cho xã hội biết rõ hơn những tố chất có tính di truyền, và cũng là để tưởng nhớ đến một thi sĩ tài hoa, có công đưa hình ảnh Chùa Hương, ngôi chùa linh thiêng, biểu tượng không phải chỉ của những tín đồ Phật giáo ngoan đạo, mà còn là của đức tin người Việt trong cuộc sống tâm linh, chúng tôi đã kết hợp với Nhà Xuất bản Phụ Nữ, chính thức phát hành cuốn sách bao gồm những sáng tác của ông, cuốn sách mang tên: “Hoa Một Mùa”

Giới thiệu cuốn sách “Hoa Một Mùa”.

A. Nội dung cuốn sách.

Cuốn sách gồm các sáng tác của Nguyễn Nhược Pháp được chia thành năm phần, gồm thơ, kịch, truyện ngắn, phê bình và một số chia sẻ của người đương thời, và cả của những người đời sau viết về ông.

1. Phần thứ Nhất.

Phần thơ trong cuốn sách, là phần có nhiều sáng tác gần gũi nhất với công chúng, có thể nói là đầy đủ nhất ở góc độ sưu tập, khi so với các thể loại sáng tác khác của Nguyễn Nhược Pháp. Phần sáng tác này được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, và được lưu truyền qua nhiều phương thức. Có thể nói, đây là sự tích tụ của tình cảm, tình thương mến từ những người thân, các bạn đồng môn của thi sỹ, những người luôn mang trong lòng dấu ấn đậm nét của “Chùa Hương”, nên đã giúp cho việc lưu giữ được lâu dài tới tận hôm nay.

2. Phần thứ Hai và Ba.

Những vở kịch và truyện ngắn, là phần hơi xa lạ đối với công chúng, một mặt vì có thể, các sáng tác ở thể loại này của Nguyễn Nhược Pháp thiếu những nét độc đáo, những mầu sắc của hiện thực thường thấy trong văn học. Mặt khác, do sự thành công, đạt đến đỉnh cao của bài “Chùa Hương”, nên vô tình, nó đã trở thành thước đo khi người đời so sánh với những sáng tác khác của ông.

Đã có những góc nhìn tiêu cực cho rằng, các tác phẩm kịch và truyện ngắn của ông mang hơi hướng của lối sống ‘Tiểu Tư sản’, một loại thành phần xã hội mang tính tư tưởng, theo quan niệm của một xã hội bị chi phối bởi quan điểm giai cấp, nên đây, từng bị coi là đối tượng phải hạn chế việc phổ biến trong đời sống văn hóa chính trị một thời ở phía Bắc Việt Nam, khi đất nước còn cắt chia thành hai nửa. Và đây cũng là lý do đã đưa xã hội đến chỗ im lặng đối với Nguyễn Nhược Pháp, tạo thành sự lạ lẫm đối với công chúng khi nó được công bố.

Trong phần kịch và truyện ngắn, người đọc thấy hiện lên rõ nét những lối sống ở cái buổi giao thời, những thói quen khó chịu của tầng lớp thị dân, những kẻ chịu ảnh hưởng của lối sống Tây phương do người Pháp du nhập vào xã hội VN từ cuối thế kỷ 19, và một bên là những quan niệm phong kiến trong tập tục, được coi là cốt cách, quy ước trong cuộc sống của một dân tộc đói nghèo. Điều này cũng là lý do đã tạo nên những tình cảnh trớ trêu và chua chát, trong các sáng tác của Nguyễn Nhược Pháp giai đoạn Việt Nam thời thuộc địa.

Riêng phần kịch và truyện ngắn, hình như, không phải tất cả những người thân, những người ruột thịt của tác giả, đều đã cảm nhận được hết những bối cảnh mang cái hơi thở cuộc sống của chính cái gia đình mình, nơi được hiểu là môi sinh văn hóa, thứ đã nuôi dưỡng, tác động tới tâm hồn của mọi thành viên dưới một mái nhà, trong một hoàn cảnh đầy những biến động phức tạp, cho dù cha mẹ nhà thơ đều là những người tài giỏi thực sự.

Xa hơn, người ta còn thấy cả những tâm tư, những nỗi buồn luẩn quất lúc nào cũng như quấn lấy tác giả, hình ảnh của người mẹ đẻ thường lởn vởn trong tâm trí của ông, lúc đậm lúc nhạt, do bà mất từ khi ông mới có hai tuổi.

Người đọc, khi nhìn sâu hơn, còn thấy cả bóng hình người mẹ cả của ông, người bồng bế, nuôi dạy ông, chăm sóc một cách tận tâm như muốn bù đắp sự thiệt thòi mà ông phải hứng chịu, giúp ông trở thành một chàng trai tài hoa, đáng yêu. Chính người đàn bà ấy, đã không vô cớ từng đau đáu nhắc đi nhắc lại với các con cháu của mình lúc về già, rằng:“Khi nào tao chết, nhớ cho tao nằm cạnh thằng Pháp!”.

3. Phần thứ Tư. 

Dưới con mắt quan sát của các nhà chuyên môn, các tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Nhược Pháp, thực sự là một sự ngạc nhiên. Những bài viết này đã chỉ được ông viết bằng tiếng Pháp. Chúng tôi hiểu, lý do phải viết bằng tiếng Pháp, vì như vậy, ông mới đăng lên được tờ “L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới”, là tờ báo  do người cha của ông làm Chủ nhiệm,

Các tiểu luận của Nguyễn Nhược Pháp, được thực hiện vào năm ông đã ‘lớn’ (23 tuổi), cái năm mà Nền văn học chữ Quốc ngữ đã thực sự hình thành, và tạo ra những cao trào mạnh mẽ với đỉnh cao là sự ra đời của Nhóm Tự lực Văn đoàn, với nhiều gương mặt tài năng.

Đây cũng là giai đoạn đã để lại những dấu ấn cực kỳ quan trọng đối với nền văn học Việt Nam, với những bút danh tiêu biểu như: Khái Hưng (1896 – 1947), Tú Mỡ (1900 – 1976), Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh, 1906 – 1963), Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), Thế Lữ (1907 – 1989), Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939)….

Tiếp cận với phần phê bình của Nguyễn Nhược Pháp, người đọc không dễ để chia sẻ với ông, nhưng chí ít qua đây, người ta thấy hiện lên một loại hình mới trong văn hóa ở VN vào những năm 30, đặc biệt là ở phần phía Bắc, đó là phê bình văn học.

Đây là những bước đi mới mẻ của mảng phê bình – tranh luận văn học, điều mà trước đó, ở xã hội Phong kiến và Thực dân, người Việt đã không có khái niệm gì, tệ hại hơn, nó không được chấp nhận ở cái thể chế xã hội Vua – Tôi. Người đại diện nổi bật của trào lưu này là Phan Khôi (1887 – 1959). Thậm chí, cho đến những thập niên gần đây, lối sống phản biện vẫn là điều xa lạ ở VN.

Ngoài ra, qua các tiểu luận phê bình này, người đọc nhìn thấy rõ hơn bản chất của tác giả, với sự thẳng thắn đến mức trơn tuột của ông, một tính cách mà ông đã kế thừa được từ người cha vang danh của mình.

Những bài phê bình này, đã được hai người em liền kề của ông là Nguyễn Phổ (1917 – 1997) và Nguyễn Kỳ (1918 – 2013) đã thầm lặng gom lại một cách khó khăn, và chuyển ngữ sang tiếng Việt, nhằm giúp cho hậu sinh biết rằng, tiền nhân đã từng nghĩ gì và viết vì cái gì?

Việc làm cách đây đã hơn 30 năm của các vị, với danh nghĩa là người trong nhà, kèm giọng văn thuần túy, không lệ thuộc vào tính học thuật, nó chỉ mang tinh thần của sự truyền đạt. Ngày ấy, các vị không hề toan tính, rằng đến một ngày nào đó, những di cảo của anh mình sẽ được in thành sách. Họ đã dốc lòng làm những công việc chẳng dễ chút nào, chỉ vì thán phục và thương tiếc người anh tài ba mà đi sớm.

Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu tối thiểu trong công tác xuất bản, các bài dịch này, chúng tôi đã nhờ các chuyên gia tiếng Pháp rà soát, hiệu đính một cách thận trọng.

Việc sưu tập cũng bị thiếu những yếu tố kỹ thuật, nhất là khi cần công bố trước công luận. Để bù lại, người chịu trách nhiệm, đã tìm đến được tận những nơi có các tư liệu gốc đó. Xong, dù cố gắng đến đâu, những công việc này cũng để lại đôi ba khiếm khuyết nhất định.

Thực tế cuộc sống cho thấy, có những tác phẩm văn hóa được lưu truyền trong gia đình, trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhưng không phải là bản gốc, nó vẫn mặc nhiên tồn tại và được công nhận, và được chính cuộc sống cấp giấy khai sinh, mà cụ thể ở đây là một số các tác phẩm thơ của Nguyễn Nhược Pháp.

Thật hay, vì cơ quan chịu trách nhiệm xuất bản, đã thống nhất và quyết định dùng những bài đã chuyển ngữ, của những người là em ruột của tác giả. Họ lập luận, như thế, nó mang cả phần hồn tâm linh và lòng biết ơn nằm bên trong của tác phẩm, đành rằng, nó có thể không thật hoàn chỉnh một cách tuyệt đối.

4. Phần thứ Năm

Phần này gồm một số tâm sự, chia sẻ, những suy nghĩ và tình cảm của người đương thời, sau khi chứng kiến sự ra đi mãi mãi của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, như: Nguyễn Bính (1918-1966), Xuân Diệu (1916-1985), Lưu Trọng Lư (1912-1991), Nguyễn Vỹ (1912-1971), Phạm Huy Thông (1916-1966)….

Đáng tiếc, do sơ xuất, lần này, chúng tôi đã không đưa vào được trong cuốn sách, bài thơ “Khóc Nguyễn Nhược Pháp” của thi sỹ Nguyễn Bính (1918 – 1966). Chúng tôi hi vọng, khi cuốn sách được tái bản, thiếu sót này sẽ được khắc phục.

B. Kết

Thật tuyệt vời, nhờ có duyên may với NXB Phụ Nữ, việc xuất bản cuốn sách được đích thân vị Giám đốc chỉ đạo, để cuốn sách không phải chỉ tốt về nội dung, đẹp về hình thức, mà còn là sự tri ân với nhà thơ, người đã mất đúng 80 năm trước, người đã gắn liền tên tuổi của mình với ngôi chùa nổi tiếng nhất cả nước.

Cao hơn nữa, cũng là để hàm ơn người đã sinh ra nhà thơ danh tiếng, mà danh tiếng của người sinh ra người danh tiếng, còn vượt lên cao hơn một bậc, đó là học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Cuốn sách được nộp lưu chiểu vào tháng Giêng năm 2018, với 354 trang, khổ sách 15,5 x 25,5 cm.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH.  

 (Hiệu đính lần cuối 7/2024)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network