VẤN ĐỀ GIÁO DỤC QUA CON MẮT NGƯỜI CHA TRONG GIA ĐÌNH

Thưa các quý vị và các bạn!

Trong suốt 30 năm viết báo, dịch và xuất bản sách của Nguyễn Văn Vĩnh (Từ 1907 đến 1936), ông từng là Chủ bút của bẩy tờ báo (Bốn tờ tiếng Việt và ba tờ tiếng Pháp).

Nhìn lại nội dung các tờ báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ bút, những người quan tâm đều ngạc nhiên vì ông đã viết không phải chỉ với một số lượng bài khổng lồ, mà đáng chú ý hơn, là không thiếu một lĩnh vực nào mà ông không đề cập trong cuộc sống xã hội Việt Nam thời đó, và đề cập một cách có hệ thống, cùng những quan điểm mang tính giải pháp đối với mọi vấn đề mà ông nêu lên.

Riêng trong lĩnh vực giáo dục, ông đã chú tâm nhiều hơn cả, không phải ông chỉ bền bỉ trong việc khổ cập, khuyến khích và hoàn thiện ngữ pháp, văn phong, cấu trúc câu, cách dùng từ khi dùng chữ Quốc ngữ, ông còn phê phán một số các chính sách thiếu thực tế, không hiệu quả, thậm chí có tính phân biệt giữa người Âu sống tại Việt Nam và người bản xứ, mà theo ông, đó là sự không công bằng.

Chúng tôi xin được giới thiệu với các bạn bài viết dưới đây của Nguyễn Văn Vĩnh, để chúng ta có thêm cơ sở, nhìn thấy rõ hơn cái nhãn quan vừa mang tính thực tế, vừa có tính bao quát về xã hội thuộc địa An Nam.

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC QUA CON MẮT NGƯỜI CHA TRONG GIA ĐÌNH

(Báo L’Annam Nouveau ‘Nước Nam Mới’ số 120 ngày 24/3/1932 – Le rôle du père dans l’éducation)

Một thông tư của Sở giáo dục công thông báo với chúng tôi: Trong kỳ khai giảng tới, việc tiếp nhận học sinh người An nam vào trường trung học Albert Sarraut (Albe Saro) sẽ rất hạn chế với các lớp một A và A’, lớp hai A và A’, lớp sáu A và B, và xóa hoàn toàn với các lớp khác cũng như các lớp sơ cấp.

Đồng bào ta nhiều người nghe vậy thì vô cùng thất vọng. Từ bao lâu nay, họ rèn giũa con cháu để chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Họ gửi bọn trẻ vào các lò luyện thi do các thấy giáo mở ngay tại nhà, hoặc đưa chúng vào học trong các trường tư thục Pháp hoặc An nam mở ra cũng chỉ để phục vụ mục đích này.

Trung thành với các nguyên tắc mà tôi đã phát biểu trong các nghiên cứu khá kỳ công về vấn đề giáo dục, tôi chỉ có thể nhiệt liệt tán thành biện pháp thắt chặt có tính cưỡng bức này, mặc dù công bằng mà nói, đặt giả thiết nếu người dân An nam nhận thức được về mục đích mở trường trung học này, công việc mà họ đã đòi hỏi một cách tha thiết từ năm 1907, rằng chỉ mở ra để phục vụ trước hết nhu cầu của tầng lớp người Âu thuộc địa, và sau đó nếu họ nhường cái việc khẩn cầu này cho các phu huynh người Pháp, và chỉ hy vọng nhân hoạt động mở trường này, chính phủ sẽ cho phép nhận thêm học trò bản xứ vào học, thì sự bất công đã không sảy ra như vậy.

Một độc giả người An nam thuộc tầng lớp trên của xã hội, khi đến nhờ cậy, vả muốn tôi giúp tìm mối để gửi hai đứa con của ông ta sang Pháp để theo học lớp 6, đã bộc bạch với tôi như thế này:

Tôi đồng ý với ông rằng nền giáo dục thuần Pháp không phải dành cho tất cả mọi đứa trẻ. Nếu để đào tạo một số ít người có thể thích nghi với văn hóa phương Tây như ý của ông, thì mấy đứa con tôi cũng chẳng hơn gì những đứa trẻ khác. Nhưng ông bảo tôi phải làm gì?

Tôi đã cầy cục xin cho chúng thi vào trường Pháp – Bản xứ như mọi người thôi, rồi may mắn chúng đã đỗ vào cùng với bao nhiêu đứa trẻ khác. Tôi đã thở phào nhẹ nhõm, yên tâm được trong năm năm khi bọn trẻ lần lượt thi đỗ các chương trình học từ vỡ lòng đến lớp cuối cấp. Giờ thì chúng nó bị ách lại ở cái bằng tiểu học.

Điều đó không có nghĩa là bọn nó là học trò biếng nhác mà không làm gì được. Bọn nhỏ đứa mười ba đứa mười bốn, bọn nó đều sáng dạ. Bắt bọn nó đúp lại có nghĩa là làm mất thêm một năm mà chưa chắc hy vọng gì hơn. Mỗi năm có 5000 thí sinh thi lấy bằng tiểu học thì chỉ có khoảng 1500 đứa đỗ, và trong số ít ỏi này, có bao nhiêu đứa sẽ được nhận vào học ở trường trung học Bảo hộ cho đến khi nhận bằng tốt nghiệp cấp hai, rồi học tiếp để nhận bằng tú tài địa phương?

Tôi chẳng còn cách cách nào khác là cho chúng theo học chương trình giáo dục Pháp. Riêng học phí đã là nhân tố loại bớt đi nhiều, nhưng không may là không phải vì thế mà miễn được thi tuyển, và thế là kể cả khi bọn trẻ được nhận hồ sơ dự thi tuyển, thì vẫn cần phải có cả một sư may mắn phi thường để được chọn.

Với bọn trẻ nhà tôi thì may mắn hiếm hoi này có khi giảm còn một phần trăm. Vậy nên tôi phải gửi chúng đi Pháp học dù cũng chẳng hy vọng gì nhiều. Nhưng cuối cùng thì tôi cũng phải làm cái gì cho bọn trẻ chứ.

Tôi làm quan nên tôi không thể để cho bọn trẻ học hành dở dang chỉ vì thiếu chỗ trong trường học. Cũng có những lớp học tư đấy, học phí khoảng hai mươi ba mươi quan một tháng mỗi trò, mà họ dự định dạy bọn trẻ theo đúng cái chương trình học ở trường trung học.

Ngoại trừ việc học phí như vậy thì không phải ai cũng chịu được, tôi không nghĩ rằng một ông thầy lại có thể dạy hết tất cả các môn học, và do đó kiến thức nhận được không thể tương đương với chương trình học tại các trường học chính thống, dẫu rằng có thể có vài môn nhất định nào đó có chất lượng tốt hơn. Do vậy việc gửi con đi Pháp học, dù có rất tốn kém cũng là điều cực chẳng đã với các ông bố là chủ gia đình. nhưng còn hơn nền giáo dục Pháp-Bản xứ tổ chức theo kiểu năm học trò đi học thì có bốn đứa lưu ban…

Người nghèo tin rằng trường học chỉ giành cho nhà giàu, trong khi chính người giàu cũng chẳng biết làm sao đảm bảo chắc chắn việc học hành chu đáo cho con cái của mình cho đến đầu đến đũa. Cũng có một vài đặc ân được ban phát chỗ này chỗ kia, nhưng nó hiếm hoi đến mức chẳng ai nghĩ rằng mình có may mắn được nhận.

Chúng ta sẽ không ngần ngại mà gào lên rằng: Duy trì một cách thức tổ chức như vậy thật nguy hại và nó chỉ đem lại sự bất bình.

NGUYỄN VĂN VĨNH

(Người dịch: Nguyễn Như Phong – Phiên dịch ĐSQ Pháp tại Hà Nội)

Hiệu đính kỹ thuật: Nguyễn Lân Bình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network