Ý KIẾN TỪ NGÀY XƯA…

Lời bàn:

Ngày 28/7/2024, Đài Phát thanh BBC tiếng Việt đăng bài viết có nhan đề: “Xây mộ tiền tỷ, người Việt vô địch về cúng tổ tiên”

Với đầu đề bài báo đầy ẩn ý như trên, hẳn cũng có người ‘thật thà’ cho rằng, dân Việt quá giàu có, và thật sùng kính cội nguồn…

Nhưng thực chất, những người có lý trí đều nhìn thấy sự mỉa mai, chua chát về cái lối sống phù phiếm, thiếu thực tế này của người Việt (không kể là người Việt thời phong kiến, hay người Việt thời VNCH, hay người Việt Nam XHCN). Tuy nhiên, cái điều cần phê phán này, từ hơn một thế kỷ trước, đã có một người Việt Nam luôn trăn trở, tâm can bị dằn vặt, quyết tâm tìm cách thay đổi. Ông lên án các tệ nạn núp danh tập quán, ông thông qua con đường cải cách văn hóa, lấy chữ nghĩa và báo chí làm công cụ, bất chấp việc thời đó, người Việt còn chưa có chữ viết chính thức, và cũng chẳng có khái niệm gì về thế nào là truyền thông báo chí.

Cái người Việt Nam gay gắt đòi cải cách này, đã liên tục cảnh báo, khuyên răn, tìm nhiều cách để ngăn chặn sự ganh đua không lành mạnh trong sinh hoạt, lối sống của đồng bào của ông, cũng như tránh để những tệ nạn không trở thành căn bệnh lây lan mượn danh ‘tập quán’, cản trở việc tạo dựng một xã hội tiến bộ.

Trang website Tannamtu.com xin được giới thiệu một trong rất nhiều bài viết của nhân sĩ tiến bộ đó, tên ông là Nguyễn Văn Vĩnh.

MA TO DỖ NHỚN

(Đăng Cổ Tùng Báo, thứ Năm, ngày 18 tháng Tư năm 1907)

Phong tục An-nam mình, nhiều điều thật không có nghĩa lý gì.

Như có bố mẹ lên lão, hoặc mình đi thi đỗ, cưới vợ, làm nhà, được làm quan, thăng hàm, mà ăn mừng thì còn có nhẽ; nhưng bố mẹ chết, mà mổ trâu mổ bò, mời làng mời nước, biếu-sén hàng sóm láng giềng, thì còn có nghĩa gì nữa?

Có kẻ nói rằng: làm thế để giả nghĩa cha mẹ. Cái điều cha mẹ chết đi, hồn phách có còn mà trông thấy những sự dương-gian hay không, thì đây tôi không dám bàn, nhưng giá thử các cụ có trông thấy, thì chắc hẳn lắm khi cũng tức cười. Kìa như: có người, lúc cha mẹ còn sống, coi như người ngoài, ra lườm vào nguýt, bon chen từng tí; thế mà lúc cha mẹ vừa mới nhắm mắt lại, đã bò bò, lợn lợn, cỗ cỗ, bàn bàn, bán mẫu ruộng làm ma to, cắm khu vườn lo dỗ nhớn.

Tôi nghĩ không giả nghĩa nào bằng: lúc cha mẹ còn sống, nhà thường thì cố làm ăn cho cha mẹ hiển vinh; nhà có thì giáng nên tài trí để cha mẹ được danh tiếng.

Tôi tưởng lúc ông-cụ bà-cụ nằm xuống mà nghĩ được rằng: “ta đã sinh ra được con có tài có đức, cho xã-hội được nhờ; thì ta từ trẻ đến già, không làm nên điều gì, song đã để lại được dọt máu tốt, để chuộc lấy cái đời vô ích của ta”, thì chắc hẳn các cụ thỏa lòng hơn rằng, chết rồi có tư-văn hàng-giáp đến tế-lễ linh-đình.

Cũng có kẻ nói là nợ miệng: ăn của người thì phải mời người đến ăn.

Trong một đời người thiếu gì dịp thết khách, lại phải nhân khi bố mẹ chết, ra tưởng đền ơn người cho ta ăn một bữa. Thành ra khi bố mẹ chết, tưởng đến bố mẹ ít, tưởng đến kẻ cho ăn nhiều.

Tôi tưởng làm người, thực có hiếu với cha mẹ, thì lúc cha mẹ thác đi, còn có trí nữa mà nghĩ đến những điều thiệp-lịch mấy đúng còn có bụng nào mà để vào những sự thết đãi anh em.

Và làm ra cỗ bàn lại hóa ra mất cả lòng thành hàng sóm láng giềng, bạn-bè thân-thích. Thành ra ai cũng mang tiếng, vị có bữa rượu mấy đi đưa bà con tới mồ, chớ không phải vì thương vì tiếc bà con mà chịu khó nhọc đến đưa đám.

Sau nữa lại còn một nỗi: vừa mất cha mất mẹ lại còn vừa hết cơ hết nghiệp, hết tang người rồi lại đến tang của. Có đâu lại có như thế!

Những nhẽ tôi nói đây thì ai cũng biết, nhưng tại làm sao xưa nay vẫn biết rằng vậy mà vẫn làm ? Ấy là vì một điều thiên hạ hay khoe của.

Lạ quá! Kỳ quá! ở đời bao nhiêu lúc cần hách dịch mà chẳng hách cho!

Kìa như: mình cũng là người, người ta cũng là người, mà có kẻ vật mình ra … thì không thấy biết trọng thân. Để giữa lúc bố chết hách mấy đời một phen, khánh bại sản cũng đành.

Thôi! thế như mà, có ông quân-tử đã bảo rằng: giống người không chữa được. Hãy để phải hách.

Giả như bây giờ những người quân-tử đàn anh trong làng nước, nghĩ ra một cách đổi tục lại, phàm ai có cha mẹ mất đi có lệ phải nộp vào cho dân vài trăm quan tiền để làm tràng học, hoặc mở cơ cục gì hay, thì …hình giáp hay là tư-văn mấy đến tế-lễ, như thế cái hách của đứa giại không phải chừa, và tiền đứa giại vất đi, dùng được làm điều lợi cho người khôn.

Các ông Cử, ông Tú bây giờ, xin đừng lo việc giời cao bể giộng vội, xin hãy cứ bàn cái ấy thế nào cho thành, thì là nước được nhờ lắm.

Thực-trí.

(Chép lại nguyên gốc từ bản báo in năm 1907: Nguyễn Lân Bình)

Ghi chú:

Nguyễn Văn Vĩnh chính thức bước vào nghề báo năm 1907 khi mới 25 tuổi. Theo các ghi chép lịch sử, tờ ‘Đăng Cổ Tùng Báo’ (Được hiểu là cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục) là tờ báo phát hành đại trà đầu tiên, mang phong cách báo chí hiện đại ở Bắc kỳ, in bằng chữ Quốc ngữ, dành cho công chúng.

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói về cách tổ chức bộ máy của tờ báo này, đồng thời cũng không thấy nêu những cộng sự của bản báo, ngoài bằng chứng lịch sử xác định là: Chủ bút – Nguyễn Văn Vĩnh.

Thực tế đã cho thấy, ông chính là người đã chủ động viết, biên tập, bố cục nội dung các bài in trên ‘Đăng Cổ Tùng Báo’ năm 1907.

Để tạo sự sinh động, gợi ra những những khái niệm mới về hoạt động báo chí trong nhãn quan của độc giả, Nguyễn Văn Vĩnh đã dùng rất nhiều các bút danh khác nhau dưới các bài viết, tùy thuộc vào nội dung của từng lĩnh vực, nhằm tạo ra hình ảnh có tính đa dạng… sôi động đối với nghề làm báo.

Thí dụ:

Chủ đề chính trị, bút danh: V.

Chủ đề cải cách xã hội, bài trừ tệ nạn, bút danh: Tân Nam Tử hoặc T-N-T.

Chủ đề phụ nữ, bút danh: Đào Thị Loan (Tên người con gái đầu lòng).

Chủ đề giáo dục, phổ biến kiến thức, bút danh: Thực Trí…

Chủ đề phê phán bộ máy và các gương mặt có chức quyền, bút danh: X.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network