100 NĂM BỘ PHIM ĐIỆN ẢNH ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM – Bài 1

Thưa các quý vị và các bạn!

Điều cần phải nói thẳng, rằng vì sao ngành điện ảnh Việt Nam hôm nay đã không mảy may quan tâm tới việc, đúng 100 năm trước, lần đầu tiên người Việt Nam đã được tiếp cận với Điện ảnh qua bộ phim Kim Vân Kiều, tác phẩm được chuyển thể từ Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du và được thực hiện ngay tại Hà Nội? Có lẽ câu hỏi này, chắc chắn sẽ không có ai có đủ hiểu biết và lòng dũng cảm để trả lời… Và đó chính là sự chua chát cho một sự thật!

Năm 1924, việc ra đời một loại hình nghệ thuật hiện đại, mới mẻ là Điện ảnh, đã mang lại cho nền dân trí của dân tộc Việt Nam những kiến thức hoàn toàn mới, không phải chỉ về nghệ thuật, mà còn về nhận thức xã hội và văn hóa cuộc sống.

Thực tế, mọi người chúng ta đều biết, nếu không có sự khai sinh, làm sao có được một thực thể mới? Vậy ai là người đã khai sinh cái thực thể mới được gọi là Điện ảnh ở cái quá khứ đó?

Trong hàng loạt các cố gắng tạo dựng một nền dân trí, nền văn hóa cho một xã hội tiến bộ, nhằm đưa đất nước và con người Việt Nam dần tiến lên bắt kịp với nhịp sống của nhân loại, Nguyễn Văn Vĩnh đã lao tâm khổ tứ đến vô cùng, không phải chỉ là việc phổ cập, hoàn thiện chữ viết Quốc ngữ, nền tảng để hình thành nền văn học chữ Quốc ngữ, thứ chữ đã soán ngôi của các loại chữ mượn trong lịch sử dân tộc này và trở thành Quốc tự, mà ông còn chủ động phát triển các loại hình văn hóa như Thơ mới, Báo in, Xuất bản, Văn học dịch…

Các tác phẩm kinh điển của các danh nhân trên thế giới, được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ vào cái thời buổi xã hội Việt Nam còn tranh tối tranh sáng giữa Phong kiến và Hiện đại, được Nguyễn Văn Vĩnh thông qua ngành công nghệ in và phát hành, giới thiệu đến dân chúng.

Ông là người xây dựng những vở kịch nói đầu tiên năm 1920, rồi ông tổng hợp ý kiến của thiên hạ để cải cách chữ viết tiếng Việt năm 1927, đáp ứng đòi hỏi nóng bỏng của ngành bưu điện… Và năm 1924, Nguyễn Văn Vĩnh với sự giúp đỡ của Hãng Điện ảnh Đông Dương, đã ‘vô tư’ dựng bộ phim điện ảnh Kim Vân Kiều, đem lại một sự thay đổi sâu sắc trong khái niệm về văn hóa, nghệ thuật đối với người dân.

Nhân sự kiện 100 năm bộ phim điện ảnh Kim Vân Kiều ra đời, BBT Tannamtu chúng tôi xin lần lượt giới thiệu một số tư liệu do Tiến sĩ Nguyễn Nam – Giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam sưu tầm, giúp chúng ta có thêm sự hiểu biết đầy đủ về cái sự kiện văn hóa có tính dấu ấn này, vấn đề không chỉ với Nguyễn Văn Vĩnh, mà còn với nền dân trí và ngành Điện ảnh Việt Nam hôm nay.

(Chúng tôi vô cùng biết ơn sự thiện tình của Tiến sỹ Trần Thị Hải Yến – Viện Văn học Việt Nam và tiến sỹ Nguyễn Nam – ĐH Fulbright Việt Nam đã cung cấp các tư liệu quý giá này!).

Trân trọng!

Nguyễn Lân Bình

11.5.2024.

Trích từ Bách khoa toàn thư mở:

“Kim Vân Kiều được coi là phim truyện đầu tiên sản xuất tại Việt Nam, và là tác phẩm chuyển thể đầu tiên, khai sinh ra nền Điện ảnh Việt Nam. Trong lời tựa bản dịch tiếng Pháp của Truyện Kiều năm 1926, nhà văn người Pháp René Crayssac đã ghi nhận bộ phim khi giúp “người đồng quốc của chúng ta” biết đến “thi phẩm bất tử trong tâm can của những người con nước Việt”.==========

* Tài liệu 1

CHỚP BÓNG KIM VÂN KIỀU

Nguyễn Văn Vĩnh

Nghề chớp bóng, Kim Vân Kiều và xã hội tân thời[1]

Nghề chớp bóng (cinéma) ngày nay đã thành ra một cái cơ quan cổ động rất là công hiệu, một cách bắt buộc người ta phải biết đến, phải lưu tâm đến những điều, mà cứ đằng thằng thì không mấy người nghĩ đến. 

Chớp bóng rất có ích vì có thể dùng nó mà dạy học, mà bố cáo cho hàng ức triệu người biết đến những điều hay, ví dùng văn chương, sách vở, báo quán mà thôi, cũng chỉ thấm khắp được một phần người đọc biết viết. Mà văn chương chữ nghĩa, trong mười người đọc cũng còn có kẻ hiểu người không. Văn chương chữ nghĩa của nước nào thì duy có người nước ấy là am hiểu được cho tường tận. Đến như cái cách diễn đạt bằng hình ảnh hoạt động, như là cinéma, thì ai cũng hiểu được, những câu những chữ để chẳng qua chỉ thêm ý vị, và để liên tiếp những chỗ bỏ qua không chớp đến, cho gọn chuyện, cho khỏi nhầm quá mà thôi.

Văn chương bây giờ cũng phải mượn cinéma làm cách quảng bố cho nhiều người hiểu biết.

Nhờ có cinéma mà bao nhiêu những văn hay, những tư tưởng cao, những ý kiến có ích cho đời, những câu chuyện khéo đặt, những mỹ công tuyệt tác của các nhà đại tư tưởng trong thế giới, xưa kia là một cái quả lạ cho một vài nhà học rộng xem sách nhiều mà thôi, ngày nay hoá ra phổ thông, ai ai cũng biết, trong xã hội, các nước thành ra một cái tục cứ mỗi tuần lễ, nhà làm ăn đem mấy hào hoặc mấy xu đến rạp chợp bóng mà mua rẻ được một cái cao thú, được một cuộc tiêu khiển cho tinh thần, cho trí não, cũng được khen chê, cũng được bình phẩm những câu chuyện cổ kim hay dở.

Nhân bản quán nghiệm ra thấy cuộc kết quả của nghề chớp bóng là hay như thế, bản quán có nghĩ ra rằng:

Người Âu châu thường yên trí rằng chỉ có văn chương tư tưởng của các cường quốc bên Âu Mỹ là hay, là đáng xem, là có tâm lý, có triết học, có tư tưởng sâu sắc, có cảm tình nồng nàn, còn những chuyện bên Á châu ta thì tuy rằng cũng có ý vị, cũng có bóng bảy nhưng mà không có cái cao thú đặc biệt khiến cho người xem chuyện phải đi theo cái tư tưởng nhà tác giả mà dò la vào cho đến những nơi hiểm hóc oái oăm của của lòng người.

Cái đặc sắc văn chương đó, người Âu châu thường cho là một cái tư cách đặc biệt của một nhân loại khác chúng mình, ở trên chúng mình và đã đi xa hơn mình nhiều trên con đường tiến hoá.

Trước giả đây thường có một tư tưởng rất ngông. Tuy rằng người An Nam ta, trong trăm nghìn các hoạt động, mắt người ta thường không thấy một cách gì gọi được bằng người, chứ đừng nói rằng hơn được người; thế mà trước giả cứ yên trí người An Nam mình cũng hiểu đời không kém gì ai, cũng cảm giác một cách tinh vi, sâu sắc không kém gì ai. Tuy rằng văn chương nước ta không có ức vạn di thư để lại; ngắm đi ngắm lại chỉ có tập Kim Vân Kiều là khá. Vậy mà trọn một bộ Kim Vân Kiều cũng đủ chứng ra cái sức hiểu biết, cái năng lực cảm giác của một giống người.

Một quyển truyện Kiều, mà giả sử được ngọn Tây bút nào tài, diễn dịch ra một thứ tiếng Âu châu nào, cũng đủ chứng cho người Âu châu phải công nhận rắng cái lối văn chương, có tư tưởng, có tâm lý, có triết học, không phải là một lối văn chương riêng của các nước bên Âu Mỹ; người Nam Việt cũng có cái cảm giác ấy, cũng có cái tư tưởng ấy.

Tôi tuy Tây học, Hán học cùng không có chút gì gọi được là chút tài cổ luyện tập, vậy mà chỉ vì một chút nhiệt thành, một cái ngông cuồng muốn tỏ ra cho thiên hạ biết rằng An Nam ta cũng có văn, tôi đã dám đem cái học thức rất thiển cận mà dịch liều văn nôm Kim Vân Kiều ra Pháp văn đăng trong báo Đông dương ngày trước.

Tập văn dịch ấy mới đây tôi có góp nhặt lại, dán thành một tập thảo, đưa cho mấy bậc quí quan coi, thì thấy nhiều ông đọc xong đã nhảy lên mà reo rằng: Lạ!  Thì ra ngoài trăm năm về trước, người Nam Việt đã có một thức văn chương tinh vi sâu sắc, gọn lối mà rộng ý không kém gì những danh văn đương thời của nước Pháp.

Cái văn hay đó, cái tang chứng của người Nam Việt không phải là một giống mọi rợ đó, nên vác loa mà kêu lên cho thế giới biết rằng nhân loại này cũng là một nhân loại đây, cũng đáng có một địa vị trong thế giới đây, chứ không phải là một nhân loại bề dưới đâu.

Cái việc quảng cáo đó, rất thiết yếu cho cuộc hoà mục trong các chủng loại ở trên địa diện.

Mà muốn làm cái việc bố cáo đó, thì chi cho bằng dùng một cái cơ quan rất màu nhiệm, như là cái phép chớp bóng. May làm sao, cái nghề này họ đã dốc hết mất cả cái túi chuyện của Âu châu rồi, mỗi tuần lễ đổi trò một lần, hết chuyện trinh thám, đến văn khôi hài, đến các lối tiểu thuyết, nào nhân tình, nào luân lý, nào thời sự, nào khoa học, chớp mãi thiên hạ đi xem đã thấy thuộc lòng mấy cái sáo làm văn lối tưởng tượng. Bây giờ nghề gì cũng phải tranh cạnh riết, cần phải bỏ những chỗ người ta ăn rồi, mà tìm đến những lối lạ tai lạ mắt xưa nay chưa từng có.

Cõi Đông Pháp là một đất bảo hộ của quí quốc, mà giống người Việt Nam cũng có mấy điều đặc biệt, thế thì tất cũng có nhiều cảnh đẹp chuyện hay đủ làm được cái tài liệu tối tân thích hợp cho sự cần dùng của nghề chớp bóng trong thế giới đương buổi bây giờ.

Bởi vậy mà một hiệu chớp ảnh bên quí quốc có cử mấy nhà chuyên môn sang đây mở một hội làm phim chớp bóng đặc biệt hiệu là Indochine Film.[2]

Nghề đóng Cinéma

Trước giả có dịp được tiếp ông quản lý cái hội đó, là M. Famechon, ông có cho vào xem các chỗ công xưởng ông đã mở ra ở đây, các tài liệu ông đã góp nhặt lại, đủ mà làm được những phim sự tích, những phim tả chân, những phim khôi hài, đủ cả các lối phim chớp bóng.

Ông thấy tôi cũng có dự một phần dọn dẹp trong đám văn chương, ông có hỏi ý, thì tôi chẳng biết phô gì, nhân có tập thảo dịch Kiều, lại đưa ra ông xem. 

Ông vừa xem qua, thì ông thích lắm, ông đương làm giở mấy bản phim Đông Pháp, thì ông bỏ cả lại, mà chuyên xét một cái phim Kim Vân Kiều tôi định mách ông làm này.

Nhân lại có một nhà chuyên môn nữa là ông Thierry (đã nhiều lần có lai kiểu đăng trong bản báo) đi theo một phường hát sang đây năm ngoái, cũng là có ý kê cứu về việc làm chớp bóng bằng các sự tích Việt Nam. Ông liền xem vở của tôi rồi ông dọn ngay thành một bộ scénario, nghĩa là bày trước những cách chụp từng hồi ra từng đoạn để mà chớp ra.

Hiện bây giờ đã xong cả rồi, chỉ còn kén lấy mấy nhà có tài, lại am hiểu cái tinh lý của nghề diễn kịch theo lối chân thật của người Âu châu, để mà đóng các vai trong sự tích Kim Vân Kiều. 

Tôi viết ra mấy bài báo này, là cốt cổ động về việc này. Xin ai là những người nhiệt thành về việc bố cáo cho văn chương nước nhà, về việc phô trương cho cả thế giới thích xi-nê ma biết rằng người Việt Nam cũng có tư tưởng, cũng có cảm tình, cũng biết cái lề lối làm văn tưởng tượng, cũng biết mượn một câu chuyện rất tầm thường trong một quyển sách cũ của Tàu, mà thêu dệt nên được một tập vận văn tuyệt bút, mỗi câu, mỗi chữ, khiến cho độc giả phải ngẩn ngơ trong hàng giờ, phải gật gù mà chịu rằng “có thế.”

Tôi đã từng thí nghiệm việc diễn kịch theo lối Tây rồi, tôi cũng đã biết rằng các bậc đồng chí diễn hai tấn tuồng dịch của Molière tiên sinh tại rạp hát Tây Hà Nội cho người ta xem, không phải là ai có cái hớn hở khoa trương một cái tài mới đâu, mà vị tất đã có ai cho cái việc đem nghề mới ấy vào xã hội mình là một việc bổ ích cho người Việt Nam. Nói quá ra thì tự hồ bấy nhiêu ông với tôi, năm kia, năm ngoái, quả quyết bước lên trên sân khấu, đem cái vẻ mặt bình nhựt nghiêm trang đứng đắn, ra mà cố mua lấy tiếng cười của mấy nghìn người đi coi, dường như cũng hơi biết có chút mặt dạn mày dày, mà thi hành một việc thí nghiệm. Tuy đạt được mục đích, nghĩa là để cho quí quan ngồi xem nghĩ được rằng: “Ừ kìa!  Người xứ này cũng biết cảm giác như ta, không phải luyện tập lâu gì mà làm nổi được những trò chơi chúng ta thường cho là những mỹ nghệ.” Tuy vậy mà không có ai hãnh diện gì ở cái tài năng làm nhọ đó.

Nay tôi lại muốn rủ đồng nhân làm một việc thí nghiệm như thế nữa, mà kết quả có lẽ lại hay hơn cuộc diễn “Bệnh tưởng” và “Trưởng giả học làm sang.” Vì nếu chúng ta đóng nổi tích Kim Vân Kiều cho khéo, theo các phương pháp của nghề chớp bóng, là một mỹ nghệ tối tân trong xã hội Âu Mỹ, thì trước nữa là chúng ta tỏ được cho người Âu châu biết rằng không có điều gì mới cho cái sức hiểu của chúng ta cả. Sau nữa nếu chúng ta làm ra được một phim hay, nổi tiếng cho hiệu Indochine Film, để cho khách cinéma trong thế giới được ngoạn thưởng một cuộc vui có thú vị đặc biệt, ai nấy phải khen văn chương, khen tư tưởng người Việt Nam, ấy có phải ta cũng làm được một việc quảng cáo chung cho cả nước ta đối với hoàn cầu, mà nếu sự thí nghiệm của ta thành hiệu, có phải ta cũng được dự một phần sáng lập ra một nghề mới cho những kẻ làm nghề diễn kịch ở xứ ta, nghề ấy đã làm được mấy tay nên giàu có lớn, nhờ có một cách nhăn mày nhó mặt, mà đi đến đâu như sấm như sét, thiên hạ hoan nghênh một cách lạ lùng, như thể mấy người Hoa Kỳ đã nổi danh trong nghề chớp bóng.

Á Đông ta cũng đã có một tay đóng xi-nê ma cực giỏi, là người Nhật Bản Sessue Haya Kawa, đến nỗi có hiệu trả tới hàng triệu bạc để thuê đóng một vai chính.

Tuy rằng cái danh tiếng làm trò cinéma thì, cứ theo lý tưởng Á Đông ta, cũng không có giá trị gì. Dân tộc nào cũng thèm muốn được sinh ra ông Khổng Tử hay là ông Pasteur, chứ không ai thiết được sinh ra gã Charlot cho lắm. Tuy vậy mà nghiệm ra ngày nay các dân tộc hay lấy hình thức mà xét nhân phẩm, xét trình độ văn minh một xã hội, thì tưởng người ta có Charlot thì mình cũng nên có Charlot, đừng có để cho thiên hạ bảo rằng mình không có Charlot, tất là mình thiếu mất một cái tư cách làm người bày vai với người khác ở trong thế giới.

Vậy thời nước Pháp có những bậc sao sáng trong nghề đóng cinéma như là Signoret, Prince, Biscot, Max Linder, R. Cresté, M. Lévesque, Suzanne Grandet; Mỹ châu có những bậc như Charlie Chaplin, Miss Pearl White; Nhật Bản mới nảy ra được một Sessue Haya Kawa, thì Việt Nam mình cũng phải gây lấy một vài tay khét trong thế giới chớp bóng, chơi với đời một phen, chứ tội gì mình lại cứ chịu đi vỗ tay khen người ta mãi.

Nghề đóng cinéma ngày nay thành ra một nghề kiếm tiền rất tốt ở trong thiên hạ.  Đã được nhiều tiền mà lại còn có một cái danh giá riêng rất lạ, chúng ta không thể hiểu được. Một ai đóng cinéma nổi tiếng như là Charlie Chaplin, đi đến đâu kể hàng ức triệu con người khoản tiếp, reo mừng đón rước trân trọng quá thể một ông vua.  Thậm chí chúng tôi sang Tây chuyến vừa rồi, nghe thấy nói Charlot đi đâu đem cả một toà thư ký đi theo, để mở xem những thư tín người ta gửi đến thăm hỏi, ca tụng, kể hàng nghìn phong mỗi ngày, và để viết những thư đáp lại. Charlot có tới 26 cô nữ thư ký, đánh máy chữ; đi du lịch đâu, đem cả một bày gia hạ đó đi, phải vào trọ những lữ quán rất đắt tiền, rất lớn mới chứa được nổi. Mỗi ngày gã ấy tiếp khách kể đến trăm người, mà nhiều kẻ hết sức luồn lọt để vào thừa cái dung nhan quí báu của gã cũng không được. Tiền của bọn ấy có hàng ức triệu.

Người Việt Nam ta doanh nghiệp rất khó khăn, về đường công thương, thực nghiệp thật là thua thiệt, thì tưởng những nghề gì là nghề dễ kiếm tiền thiên hạ, cũng nên đem bá cáo cho bao nhiêu kẻ có khiếu tự nhiên bắt chước đó mà làm, ấy cũng là một cách giúp đồng chủng trong buổi tranh cạnh khó khăn này.

Hễ chúng ta làm nổi được tích Kim Vân Kiều cho hay cho khéo thì sau này không thiếu gì người có tài chuyên vào cái mỹ nghệ này.

Đến kỳ sau tôi xin bày cách chỉnh đốn một hội thí nghiệm làm tuồng chớp bóng này, và nói rõ những thể thức vào hội thế nào, để các bậc tài tử Việt Nam cố giúp cuộc này cho thành hiệu, để bố cáo cho văn hoá Việt Nam, và để cố gây cho nhà làm tuồng nước Nam có một nghề mới.[3]

Hội thí nghiệm làm tuồng chớp bóng

Phép diễn kịch của Âu Tây đối với phép diễn kịch của nước ta, thật là khác nhau, mỗi bên theo một nghĩa khác. Và cái cách sanh hoạt của hai giống người khác nhau, cái cách giao thiệp của người ta trong nhân quần, mỗi bên hiểu một khác. Người Tây thì lấy sự tiết lộ cảm tình ra ngoài nét mặt làm một sự phải; mà người Á Đông ta thì lấy cách nặc ẩn tính tình làm một cách ăn ở cao. Sự khác nhau ấy cũng có ảnh hưởng đến nghề diễn kịch.

Người Âu Tây sanh hoạt một cách vội vàng, ngày giờ của người ta như đo như đếm, mỗi việc cử chỉ cần phải có một chủ nghĩa, một mục đích; các việc cử chỉ của một người cần phải có liên tiếp với nhau. Người Á Đông ta thì lấy cách du di là hay là phải, để mặc cho ngày giờ trôi chảy qua đi, trăm việc cử chỉ tự hồ cẩu thả, được việc gì hay việc ấy, không có cân nhắc từng tiếng nói từng cái bộ giơ tay. Thành ra trong nghề diễn kịch cũng thế.

Một tấn tuồng Tây, nhà soạn kịch nghĩ ra, đo đắn từ đầu đến cuối, mỗi hồi mỗi kịch có liên lạc với nhau từng tí, cân nhắc từng câu từng chữ, định hạn từng giờ từng phút, tính trước những chỗ nào có hiệu lực đối với người ngồi xem thế nào, câu thúc mình mà câu thúc cả người đi xem phải nghe từ đầu đến cuối, không để qua một lời nói, không bỏ nhãng một điệu giơ tay. Một tấn tuồng ta thì tự hồ một mâm cỗ đầy, thật là nhiều món ăn, mà không câu thúc khách ăn phải gắp thứ gì sau thứ gì trước, không bắt ai phải ăn cho hết mọi thứ. Người ngồi xem tuồng, cũng như người đi ăn cỗ, chủ cứ việc gắp việc mời, mà khách thích món gì thì ăn món ấy, lựa chọn trong mâm thế nào cho vừa no vừa thích thì thôi. Nửa chừng đến xem cũng được, nửa chừng đứng dậy về cũng không sao.

Mỗi vẻ người ta thành ra một bài, một kiểu, một điệu múa, một bản đàn, một khúc ca. Khóc, cười, mừng, giận, ngay, gian, thành ra mấy cái khuôn sẵn. Người sành tuồng đi coi hát, không cốt gì xem cho biết sự tích hoặc nghĩa lý đầu đuôi câu chuyện thế nào đâu. Cốt đi nghe đào Mỗ hát nam chỗ tiễn biệt, cốt đi xem kép Mỗ đóng vai nịnh nào đó. Nghe một tiếng tiếng hát xuống hay, nhìn một điệu giơ tay khéo, đánh liền hai tiếng chầu, như khoan khoái cả gân cốt. Quan viên với con hát có một cái cảm tình với nhau, rất là tao nhã lý thú, người Âu Tây không sao mà lấy ý hội được những cái cao thú ấy của ta, cái rất thanh của mình người ta cho là tục, thật là một vực một trời.

Chúng ta xưa nay quen một cái quan niệm ấy đối với mỹ nghệ của mình, mà nay tự dưng tưởng tượng được ra như mình cũng là người Âu Tây, cảm giác những cái cảm giác ấy của người Âu Tây, mà biết rằng không bao giờ người Âu Tây cảm giác lại được những cái cảm giác của mình.  Cái cao thú ấy thật là một cái quà riêng duy chỉ có người trí thức Việt Nam là được hưởng.

Trong phép diễn kịch, chúng ta đã thử lối diễn theo lối Tây, tuy rằng đột ngột làm một việc mới xưa nay chưa hề làm, thì đối với nhà bình phẩm Âu Tây xét kỹ, cũng còn bập bỗng nhiều lắm. Nhưng đại khái cũng đã tỏ được ra rằng mình hiểu như thế rồi. 

Nay lại nên thí nghiệm một nghề đóng tuồng để chớp bóng nữa. 

Nghề này cốt ở dáng điệu mà thôi, không cốt ở tiếng nói tiếng hát. Nhưng chớ có tưởng thế là một điều giản dị, bớt cái khó đi đâu.

Diễn kịch thì vừa phải nói, phải hát, phải làm điệu bộ, nhưng người ngồi xem vừa nhìn bộ vừa nhe hát, thì cũng có khi trú [chú] ý ở tiếng hát mà nhãng điệu bộ cho.  Đến như người khách đi xem cinéma thì không nghe tiếng hát, chỉ chuyên xem dáng điệu người đóng mà thôi, tất dáng điệu ấy phải đúng lắm, thật lắm, thì coi mới hiểu.  Gì cho khó bằng đóng tuồng câm, không nói ra mà vỡ được chuyện.

Điệu bộ không đủ rõ thì người xem không hiểu; điệu nạn ra quá mà lại không có tiếng hát đỡ, thì coi nó cũng chẳng ra trò gì.

Nghề này thật là khó, phải những tay có thiên tài mời làm ngay được. Mà trước hết phải những nhà có học thức mới làm thử được, đến khi thử đã được rồi, những nhà nghề mới nhân đó mà luyện thành tài được.

Các bậc có tài mà lại cao hứng về cuộc diễn kịch theo lối Tây đó, ngày nay chắc rằng có nhiều lắm.

Vậy tôi dám thỉnh cầu những bậc ấy cố giúp vào việc này cho thành hiệu. Các việc soạn đề, chia kịch, chọn đất, bài trí, thì ông Famechon và ông Thierry đã lo toan đủ cả rồi, chỉ còn chờ nhà tài tử đến giúp nữa là khởi hành mà thôi.

Ông bà nào muốn giúp thì xin lại ngay sở Indochine Film ở sau nhà Pommeraye, phố Tràng Tiền (Rue de la Sapèquerie) hoặc lại bản quán xin sẽ có giấy giới thiệu.

Ông bà nào lại thẳng sở Indochine Film thì xin cứ hỏi ông Famechon hoặc ông Thierry mà nói rõ là lại để giúp việc chớp bóng Kim Vân Kiều.

Tuy nói là giúp, nhưng việc này các ngài nào đã làm phải mất ngày giờ, thì Hội cũng chi lương bổng hậu lắm (trừ ra những ngài ngẫu hứng muốn giúp không tiền thì bản quán và Hội Indochine Film tạ ân lắm lắm và sẵn lòng hoan nghênh) còn ngoại giả ai nhận đóng những vai khó nhọc có lương bổng định trước. Mà có lẽ thành ngay một nghề nghiệp vì những tay nào khéo, tất xong tích này, Hội còn dùng để đóng tích khác nữa.

Đến kỳ sau sẽ bàn riêng về mấy điều toát yếu trong cái phương pháp đóng cinéma, và sẽ bàn riêng về cách đóng Kim Vân Kiều.[4]

Phương pháp đóng cinéma và cách đóng Kim Vân Kiều

Đóng sự tích Kim Vân Kiều cả thảy có hơn ba mươi vai, mà nặng thứ nhất duy có vai Thuý Kiều mà thôi. Còn các vai khác ai đóng chỉ phải làm trong một hai buổi là cùng.

Vị đào nào đóng nổi vai Kiều tức là thủy tổ nghề đóng cinéma ở đất Việt Nam này.

Trong độc giả chư tôn ông bà nào giúp bản quán mà tìm được ra cái vị nữ ưu đó, thật là được dự một phần trong việc sáng tạo ra cái nghề đóng cinéma ở nước ta.  Vậy thì xin các ngài trong chỗ làng chơi, vì văn chương, vì mỹ thuật, mà cố gắng tìm tòi cho một chút. Người đàn bà nước ta, cho đến kẻ xướng ca, cũng có cái thói rất hay, thẹn thùng bẽn lẽn, chưa luyện tập được cái trơ của người Âu Mỹ. Cho nên làng chơi phải có tay sành tìm tòi mới ra được cái vị hoa khôi đó, mà khi đã tìm được rồi, phải biết bao nhiêu lời tán tụng, biết bao nhiêu tiếng chào mời, mới cưỡng bách được hoa phải nở, được sao phải sáng.

Có lẽ cái phúc nhà cinéma mà lớn, thì được bậc khuê các nào, thâm nhiễm một tư tưởng với chúng ta, chẳng quản làm một việc rất mới trong phong tục, dám liều một vẻ nghiêm trang, một mình yểu điệu, cố ra mà đóng cho đúng cái vai Thúy Kiều, y như trong ý ông Nguyễn Du đã sáng kiến ra vai ấy, để sau này người đi xem chớp bóng đừng có hiểu lẫn vai kiểu An Nam ta vậy. Các bà các cô đọc báo phải biết cho rằng hễ việc này kén được vai Kiều đóng khéo, thì chẳng những vẻ vang cho một hạng Thúy Kiều ở xứ ta, mà lại còn tôn cả cái danh giá đàn bà nước ta nữa. Bởi vì hễ vai Kiều mà đóng được thật, tất người ngoại quốc xem cinéma phải nghĩ: “Bên họ một bậc Thúy Kiều, hồng nhan bạc mệnh, một kiếp long đong như thế, mà con người trong truyện còn đáng kính đáng vì, tất nhiên những người đàn bà khác trong dân tộc ấy phải hay, phải giỏi, phải thuần thục nết na biết là dường nào.”

Bao giờ người làm tuồng mà hiểu đến cái nghĩa cao như thế, thì nghề làm tuồng thật đáng tôn lên làm một mỹ nghệ sang trọng.

Có một vài điều cốt yếu cần phải dặn trước, là người đóng cinéma phải có một tư cách riêng, là nước da phải ăn thuốc ảnh, tiếng nhà chuyên môn gọi là photogénique.  Cái nước da, cái vẻ mặt thế nào gọi là photogénique duy có nhà kỹ sư coi riêng việc ấy ở công ty Indochine Film, là M. Famechon, xét đoán được mà thôi. Đại khái thì người phải da trắng hoặc sáng nước da. Hễ chụp hình mà thấy tôn nét mặt thì tất là đóng cinéma tốt. Điều thứ hai, là răng phải để trắng. Những người răng đen, mà đóng cinéma thì khi chướp ra, nó hoá như là không có răng, miệng rỗng toác coi không đẹp. Bằng người răng đã nhuộm rồi mà muốn đóng cinéma, những khi ra trò, cần phải mượn thợ răng bôi một thứ thuốc vào cho răng hóa trắng, khi đóng xong lại rửa thuốc ấy đi, hoàn răng đen như cũ được.

Dáng bộ đóng cinéma thì phải tự nhiên. Hễ chậm chạp quá, hoặc ngơ ngác quá thì dại dáng khó coi. Mà làm bộ phải vừa đủ đừng nạn ra quá cũng khó coi. Tuy rằng khó, nhưng luyện tập một vài buổi, cốt thuộc lòng lấy mấy cách tả hỉ, nộ, ai, lạc, đã làm được thì làm được ngay.

Khó nhất duy có một vai Thúy Kiều, vì từ đầu đến cuối, hồi nào cũng có mình, mà thật đủ tình đủ cảnh. Lúc còn con gái ở nhà với cha mẹ, dòng dõi trâm anh, dịu dàng thuần thục; kế đến khi gặp người thanh khí, tấm lòng mới thấy thổn thức một lần đầu. Rồi đến lúc rớp nhà ngộ biến, một vẻ mặt phải lưu lộ ra cho có đủ biết bao nhiêu tình. Sau đến những khi mặt dày mày dạn, đã quá ê chề, mà vẫn phải làm sao cho người ta nhìn nét mặt vẫn thương vẫn kính. Hớn hở thay là những ngày nhờ bóng Từ công, trả ân báo oán, mát mặt trong một ngày, đối với bấy nhiêu người mỗi người là một bộ mặt, phải làm làm sao cho một cái nhăn mày, một nụ cười nhạt, điệu nào cho hợp với cảnh ấy. Hoảng hốt như những khi đã mắc mưa thâm Tôn Hiến, thật tình mà phụ tấm lòng tin của đáng anh hùng, nỗi sầu thảm tả sao cho hết. Từ lúc tái hồi trở đi mới khó làm sao! Thật người nào đóng nổi, phải đã trải hết nhân tình thế thái.

Nghiệt một nỗi vai tuồng khó dường ấy, mà phải kén một người đàn bà, đàn bà nước Nam xưa nay học cũng chưa được học, ai đâu mà luyện đủ được bấy nhiêu tài?

Vậy mà tôi dám ước có được bậc người như thế.

Còn những vai kia tuy cũng khó nhưng vai nào có một vẻ riêng của vai ấy, tập trong ít bữa phải xong. Vả mỗi vai chỉ đóng một hồi, thì cố luyện có thể khéo lắm được.

Mấy vai chính như Thúy Vân, Kim Trọng, Hoạn Thư, Tú bà, Thúc sinh, Từ Hải, Giác Duyên, Mã Giám sinh thì hình như mỗi vai đã trông thấy sẵn hai ba người đóng được cả rồi.

Các chỗ đất làm cảnh thì quanh một chốn Hà thành này tưởng cũng đủ cả rồi, nào chỗ sơn thanh thủy tú, nào nơi vắng ngắt quạnh hiu, cầu Ngọc Sơn, ô Cầu Giấy, Tây hồ, Bảy mẫu, nhà quán trọ, chốn ăn chơi tưởng nhiều nơi cứ để tự nhiên như thế mà dùng được. 

Áo quần thì có thể nhờ được mấy rạp hát lớn chốn Hà thành, đồ đời Minh, đồ đời Đường, đồ đời Tống, hoặc đồ kim thời, tưởng cũng không cần câu nệ phải y cổ cho lắm, quí hồ cho dễ cử động, thuận mắt thì thôi, bởi vì đóng tích này cốt là để tả tình mà không cốt ở việc tồn cổ.

Gọi là kể đại cương như thế, sau này các vị nào muốn giúp, thì đã có cơ sở riêng, xin đến đấy mà luyện tập, đã có thầy, có sách, lại có đủ khí cụ mà dùng.

Trước giả chỉ ước ao, trong một vài năm nữa, khi nghề đóng cinéma đã thành ra một nghề quen rồi, thì các bậc danh tài trong nghề ấy có giở đến mấy bài báo này, sẽ cười quần manh lại dẫn quần manh. Bấy giờ họa may có một vài người tri kỷ biết cho rằng lúc múa rìu quả chưa có thợ.[5]

—————-


[1] Tất cả các tiêu đề trong loạt bài này đều do người sưu tập (NN) đặt thêm.

[2] Trung Bắc Tân Văn, Thứ bảy 09/06/1923.

[3] Trung Bắc Tân Văn, Thứ hai 11/06/1923.

[4] Trung Bắc Tân Văn, ngày Thứ ba 12/06/1923.

[5] Trung Bắc Tân Văn, Thứ tư 13/06/1923.

3 Responses

  1. Thật là thú vị. Ước gì được xem phim “Kim Vân Kiều” – đầu tiên ấy, để thấu hiểu những điều ông viết – cách dựng, quay phim, khả năng diễn xuất, cảnh Hà nội lúc bấy giờ, v.v…
    Bình viết kỹ hơn về công lao ông trong việc hoàn thiện chữ quốc ngữ đi (như hoàn thiện các dấu trong tiếng việt), đó là việc cực kỳ có công lao với nước nhà. Để xác định một dân tộc thì tiếng nói là 1 trong những yếu tố cơ bản, tương đương là chữ viết. Đây là đóng góp thật to lớn của Ông.

  2. Cảm ơn bạn đã đưa tin, đến bây giờ mình mới biết đến tác giả của bộ phim điện ảnh đầu tiên, khai phá nền điện ảnh VN mình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network