Trong quá khứ, đặc biệt là khi nói về những diễn biến lịch sử ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, có tư liệu đã nêu những nhận định chủ quan, phiến diện cùng sự thành kiến, thậm chí có cả sự quy chụp, vì những hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa xã hội.
Điểm lại những ghi chép mang tính tổng hợp, nhiều nhà nghiên cứu đã nêu quan điểm của mình về cái dư âm bất công thức này, có không ít người đã từng đánh giá: Chung quy, chỉ vì những gì Nguyễn Văn Vĩnh làm thời đó, là quá mới lạ…!
Ở những góc khuất, do dân trí giới hạn, xã hội tiểu nông ngày đó bị chi phối bởi định kiến, suy diễn phiến diện, thiển cận, nhiều người quan niệm rằng: Kẻ giầu có – là kẻ bóc lột, kẻ thành công vì giỏi giang – là tay sai của bộ máy cai trị, kẻ nổi danh – là kẻ xu nịnh, kẻ có ý kiến khác mình về đối phương – là kẻ phản nghịch….
Ngày ấy, nhóm người đó, chỉ nhìn thấy một Nguyễn Văn Vĩnh tác phong không truyền thống (mặc âu phục thay vì áo the khăn xếp), nói tiếng Tây như Tây (thay vì dùng chữ Nho), ông sẵn sàng phê phán những tập tục có tính lạc hậu, phản khoa học, bình luận thẳng thắn về những gương mặt được coi là thần tượng của số đông, trong khi dân chúng mang tâm lý, những đối tượng đó đã được khoác lên mình chiếc áo, bất khả xâm phạm (sùng bái)!
Nhà sử học danh tiếng Nguyễn Đình Đầu (1920) nhận định: “Cụ Vĩnh không thích nịnh ai, cũng không thích ai nịnh mình. Cụ không sùng bái ai và cũng không thích ai sùng bái mình. Cụ chống vua quan là vì thế!” (Phim tài liệu lịch sử Mạn đàm về Người Man di Hiện đại-2007).
Nhóm người chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh bao gồm cả trong hệ thống quyền lực, cùng một bộ phận tầng lớp các nho sỹ, sản phẩm của nền giáo dục cựu học. Họ đa phần nằm trong tầng lớp trung lưu, luôn lo sợ sự canh tân sẽ tác động đến khả năng phát triển trí não của dân chúng, mở mang kiến thức, hình thành nền dân trí, dẫn dắt người dân đến nhu cầu đòi phải được thay đổi (cách mạng).
Tầng lớp trung lưu ngày đó vốn bảo thủ, họ lợi dụng những điều được gọi là phong tục, từ đó biến nó thành công cụ gặt hái lợi ích, vơ vét, tích luỹ. Họ bao biện trước thiên hạ về những hành vi chuyên quyền dưới danh nghĩa tập quán, rồi truyền thống, và là đạo đức của thần dân, là thước đo nhân cách trong xã hội Vua – Tôi, họ đe nạt, kết án và đòi trừng phạt những đối tượng vạch ra sự thật đó.
Nhìn lại các di cảo do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, hầu như những người chỉ trích ông không hiểu và không chấp nhận được những triết lý pha chút trần trụi của ông, cho dù chúng được xuất phát từ đạo đức học và nhân bản học.
Thật tai hại, với bản chất bảo hoàng, họ đã dựng lên tâm lý ngăn cách giữa người dân với những tư tưởng quyết liệt của Nguyễn Văn Vĩnh khi ông xác định: Muốn xây dựng một xã hội phát triển, cần biết tư duy logic (khoa học), khả năng phản biện (biện chứng), cần hiểu và cần học thế nào là khoa học, triết học, giáo dục, công nghệ, là văn hóa, y tế, thể thao…. Và dân chúng phải được sống trong môi trường bình đẳng, những điều mà Phong kiến Việt nam ngày đó ra sức ngăn cản.
Nửa thế kỷ sau nhìn lại, khi nhận ra, một phần lớn trong số họ đã hối hận do đã nhìn Nguyễn Văn Vĩnh bằng sự mặc cảm, bằng định kiến, nhưng họ vẫn tránh việc cho rằng, mình đã sai…! Điều này tạo ra hậu quả lâu dài trong tư tưởng, tương ứng với câu ngạn ngữ đầy tính giáo dục nhân văn của người Ba Lan: Định kiến là nguyên nhân của mọi hận thù.
NGƯỜI NAM MỚI
Nghiên cứu quan điểm, tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh qua các di cảo được trình bày trong 30 năm đầu thế kỷ XX, ngày nay dư luận đã đồng ý rằng, ông là người đã tận tâm, cùng với trí tuệ và tài năng, lao vào công cuộc phát triển, hoàn thiện và quảng bá chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh (bảo vật quý của nước Tổ Việt – Lời tựa Tam Quốc Chí 1909, bản in tiếng Việt đầu tiên) một cách thành công. Ông lấy đó làm phương tiện mặc định để vận hành cỗ máy văn hóa, nhằm cải não và gieo mầm tri thức cho người dân ở một đất nước nông nghiệp lạc hậu.
Thứ vũ khí duy nhất mà ông nắm trong tay, đó là năng lực. Ông làm báo nhằm chuyển tải, phổ cập chữ viết, vì đây là phương tiện hữu hiệu nhất trong cuộc đấu tranh giành độc lập về văn hóa, thoát khỏi sự cương tỏa của nền giáo dục Nho học Phong kiến, một nền giáo dục nô bộc chỉ phục vụ cho quan trường kéo dài nhiều thế kỷ đối với đồng bào của ông. Nguyễn Văn Vĩnh muốn mọi người cùng nhận thức, phải có một thứ chữ dễ học, học rồi để biết, thế nào là dân chủ, là tiến bộ, là công bằng xã hội? Từ đó mới xây dựng được một quốc gia độc lập thật sự.
Trong quá khứ, các thế lực ngoại bang luôn tìm cách ngăn cản sự độc lập về văn hóa của người Việt, kẻ nào chống lại sẽ phải trả giá đắt. Vì vậy, đã có kết luận dứt khoát của nhiều nhà nghiên cứu về trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh đó là: Vì đấu tranh cho cái giá trị đặc thù đó… mà Nguyễn Văn Vĩnh đã phải chết!
Xong, chắc chắn Nguyễn Văn Vĩnh đã không nuối tiếc sự trả giá đắt đó của mình.
Hệ thống lại những dấu ấn có tính lịch sử về văn hóa chính trị trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, sẽ giúp chúng ta tin vào sự hi sinh của ông là tự nguyện, đồng thời nhìn rõ tư chất, bản chất và phẩm chất của một mẫu người hiếm gặp.
Ở một mặt khác, hậu thế cũng cần nhớ đến sự tác động tích cực từ nền dân chủ của một nước Pháp văn minh, đã ảnh hưởng đến tư tưởng của các nhân sĩ yêu nước người Việt ra sao, cho dù điều này mâu thuẫn với chính sách kinh doanh thuộc địa hà khắc của Chủ nghĩa Thực dân. Sâu chuỗi những sự thật này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi biết Nguyễn Văn Vĩnh đã giành được Giải thưởng Lớn – GRAND PRIX tại Hội chợ quốc tế Báo chí Thuộc địa, tổ chức tại Paris năm 1932, một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử.

DẤU ẤN CHÍNH TRỊ
Năm 1907, Phong trào Cách mạng Văn hóa Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) bị khủng bố sau 7 tháng hoạt động, với nhiều lý do chính trị khác, Thủ lĩnh Phan Châu Trinh bị Chính quyền Thực dân bắt giam. Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất, đã dám ký vào bản kiến nghị gửi Toàn quyền Đông Dương đòi phải trả tự do cho Phan Châu Trinh vì vô tội!
Xin nhấn mạnh: Phải trả tự do vì vô tội, trong khi nhiều tài liệu lịch sử ghi: Các nhà yêu nước đã đòi Chính quyền ân xá… là một thực tế khác hẳn với bản chất, hành vi của Nguyễn Văn Vĩnh.
Sự kiện chính trị này đã đáp trả những ghi chép ngây ngô mang tính suy diễn của một số nho sỹ đương thời rằng, Nguyễn Văn Vĩnh đã không bị bắt trong ĐKNT vì là kẻ thân Pháp!!!
Các nho sỹ ngày đó đã không hề biết, trước đó một năm (1906) Nguyễn Văn Vĩnh đã là hội viên của Hội Nhân quyền Pháp. Đáng buồn, vì khái niệm về nhân quyền còn là một nhận thức quá xa lạ đối với xã hội Việt Nam lúc đó.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người Pháp đã phát hiện ra vô vàn những tố chất đắt giá của Nguyễn Văn Vĩnh, họ khao khát việc phải ‘sở hữu’ ông để phục vụ cho chính sách cai trị về tư tưởng. Sự khủng bố ĐKNT diễn ra khi mà người Pháp mới đi được có nửa bước chân, trong kế hoạch thu phục Nguyễn Văn Vĩnh, họ không dại gì cắt đi cái măng non ‘mập mạp’ của một loài tre quý, hiếm!
CHÍNH TRỊ HỒN NHIÊN.
Vua Khải Định (1885-1925) được tấn phong năm 1916. Hệ thống cai trị của Thực dân Pháp bố trí tại miền Trung, cơ quan đại diện là Tòa Khâm sứ. Tuy nhiên, theo tập tục, Nhà Vua sau khi được tấn phong, phải ra mắt, yết kiến Quan Toàn quyền Đông Dương (người thay mặt nước Pháp) nằm ở Hà Nội, như một thủ tục bắt buộc.
Năm 1918, Đức Vua cùng đoàn tùy tùng đã đi từ Huế ra Hà Nội. Ngày 27/4, Toàn quyền Albert Sarraut (1872-1962) tổ chức buổi lễ khánh tiết trang trọng tại Dinh Toàn quyền. Tại buổi lễ, Quan Toàn quyền và Đức Vua đứng ở vị trí trung tâm để các đại diện của hệ thống hành chính, cùng đại biểu của các tầng lớp xã hội đến bái lạy cung kính như một nghi thức trọng thị trước bề trên.

Nguyễn Văn Vĩnh có mặt trong nhóm đại biểu Hội đồng Dân biểu Bắc kỳ (1). Khi đối diện với quan Toàn quyền (do đã biết nhau trước), ngài Toàn quyền đã giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh theo nghi thức phương Tây. Lúc này, Đức Vua đứng sát cạnh, chứng kiến phong cách Âu Tây của Albert Sarraut, Vua Khải Định đã thản nhiên bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh… Với bản năng, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đưa tay bắt tay Đức Vua Khải Định.
Hành vi này của Nguyễn Văn Vĩnh là không thể chấp nhận, nhìn ở góc độ luật lệ. Việc bắt tay Nhà Vua là điều cấm kỵ, vì đó là tội xâm phạm ‘Ngọc thể’. Các triều đại Phong kiến luôn nghiêm khắc, cấm việc đụng chạm đến thân thể Đức Vua, theo quan niệm của Triều đình được gọi là ‘Long Thể’.
Các quan trong đoàn tùy tùng có mặt tại buổi lễ đã hoảng hốt đến mức la lối, họ sửng sốt, tỏ ra hoang mang, trước việc phải chứng kiến hành vi vi phạm luật lệ của Triều đình một cách trắng trợn như Nguyễn Văn Vĩnh.
Ngay sau đó, các quan tư pháp đã lập tức dâng lên Đức Vua bản cáo trạng nghiêm khắc, lên án hành vi xúc phạm Long Thể Đức Vua của Nguyễn Văn Vĩnh. Họ khẳng định, Nguyễn Văn Vĩnh đã mắc trọng tội, đó là tội khi quân (coi thường) trong chế độ Quân chủ, hình thức xử phạt: Chém đầu!
Buổi khánh tiết kết thúc, khi Nguyễn Văn Vĩnh đi qua trước mặt các quan trong Triều, do thấy ông ‘gần gũi’ với Quan Toàn quyền, họ đã không ngần ngại phỉ báng ông là kẻ bán nước… đồ phản quốc, đồ đi với Tây! Nguyễn Văn Vĩnh đã điềm tĩnh nói lại một cách nhẹ nhàng rằng: “Các ông bảo tôi bán Nước… Nước người ta đã bán từ bao giờ rồi còn đâu đến lượt tôi để mà bán!”
Đêm hôm đó, cả Hà thành lan truyền tin, Nguyễn Văn Vĩnh bị xử trảm! Tin tức bay nhanh chóng đến khắp các hang cùng ngỏ hẻm của đất Thăng Long. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh rơi vào cảnh hoảng loạn, sợ hãi vì lo lắng. Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh lại tỏ ra bình thản trước bối cảnh éo le này.
Thật khôi hài, vì khi các quan đệ trình bản tấu lên Nhà Vua, đòi trừng phạt thái độ khi quân của Nguyễn Văn Vĩnh bằng hình thức chém đầu, Vua Khải Định đã bật cười và nói: “Chuyện có thế mà đòi chém người ta, các vị kỳ quặc thật!”.
Những lời nói trên của Đức Vua nhanh chóng bay đến tai Nguyễn Văn Vĩnh, ông thở phào nhẹ nhõm. Sau sự kiện ‘chính trị’ chấn động ấy, bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965) đã sinh hạ người con trai thứ sáu, và được đặt tên là Nguyễn Kỳ (1918-2013) để ghi nhớ cái sự kiện chính trị ‘kỳ quặc’, khôi hài không thể quên này.
(Ghi chép của Phạm Huy Lục, nhân sỹ danh tiếng Bắc kỳ – Viện Trưởng Viện Dân biểu Bắc kỳ giai đoạn 1932-1936).
CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN.
Năm 1925, Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) từ đất Trung Quốc trở lại Việt Nam. Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam thuộc địa đã sản sinh ra không ít những gương mặt có chí khí, có lý tưởng đấu tranh cho một xã hội tự do, bình đẳng và dân chủ.
Ngược lại, họ cũng trở nên bất mãn khi phải chứng kiến cách thức cai trị cực đoan của người Pháp Thực dân, trong phong cách của một Đế quốc già.
Thực tế, những nhân sĩ yêu nước người Việt có trí tuệ, có học vấn luôn trân trọng những giá trị nhân văn của dân tộc Pháp, cùng với truyền thống văn hoá lâu đời. Các nhà ái quốc đó đã thật lòng hy vọng vào một sự kết giao theo thuyết lý, các bên cùng tồn tại, cùng phát triển. Nhưng chính những người Pháp Thực dân ở Đông Dương, đã khước từ khuynh hướng chính trị nhân văn này của các nhân sĩ bản địa.
Vốn với bản chất Thực dân, họ đã xử sự với các nhân sỹ xuất chúng người Việt theo hướng một chiều, trong khi họ hiểu hơn ai hết, rằng với xã hội dân chủ, đường một chiều chỉ dẫn đến nghĩa địa!
Napoléon Bonaparte (1769-1821), vị tướng danh tiếng trong lịch sử nước Pháp đã nói về ý nghĩa, vai trò của kẻ cầm đầu như sau: “Một bầy cừu chỉ huy bằng một con sư tử, nguy hiểm hơn một đàn sư tử dẫn đầu bằng một con cừu”.
Người Pháp Thực dân đã không tin vào bất kỳ một gương mặt yêu nước người bản xứ nào, bất chấp việc họ thành thực, tin vào tính khả thi về một sách lược quan trọng, hướng đến chủ trương Pháp – Việt Đề – huề do các nhân sĩ người Việt đề xuất, điều mà đến tận năm 1946, lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh dẫn đầu, cũng đã nêu lên nguyện vọng trở thành thành viên Khối Liên hiệp Pháp, tại cuộc hội kiến lịch sử diễn ra ở Fontainebleau.
Chính Thực dân Pháp, là kẻ đã đẩy những nhân sỹ người Việt ưu tú ngày đó biến thành những vai hề lịch sử dưới con mắt của hậu thế, đối tượng mà sau này đã đưa nước Pháp đến chỗ thất bại ở Đông Dương.
Sai lầm này của người Pháp, đã biến những nhân sỹ người Việt ưu tú đó thành những phần tử phản nghịch, dưới con mắt của lực lượng thắng thế, và là lý do để họ dè bửu, đặt những gương mặt đáng ra phải được trân trọng trong lịch sử, vào vị thế của những kẻ tầm thường, do bị khoác lên mình cái áo là những kẻ cơ hội, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam(2). Thật là sự tệ hại!
Thực tế cho thấy, một khi số phận đã dẫn hai chủ thể đến với nhau, vì bất cứ căn nguyên nào, thì nguyên tắc để mối quan hệ tay đôi đó tồn tại được, phải là sự tôn trọng cái tối thiểu của mỗi bên, điều tối thiểu đó, là cái quyền được sống.
Thôn tính nhau do nghi kỵ, do thiếu lòng tin, tìm cách triệt hạ lẫn nhau, sẽ mãi để lại sự hằn thù dai dẳng. Người Pháp, một dân tộc gắn với Công giáo, làm sao lại không biết Thánh Francis of Assisi đã dạy dân chúng từ bẩy trăm năm trước rằng:
Không ai đáng để được gọi là một kẻ thù, tất cả đều là ân nhân của bạn, và không ai làm bạn bị tổn hại. Bạn không có kẻ thù, ngoại trừ chính mình.
Việc Nhà cầm quyền Thực dân Pháp làm mọi cách để loại bỏ những người bản xứ yêu nước chân chính như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và rất rất nhiều nhà cách mạng có thiện ý khác người Việt, những kẻ tin tưởng ở sự mở mang, khai sáng, sự cùng tồn tại, là thể hiện một chính sách bế tắc và cực đoan, của một thể chế chính trị cằn cỗi và đang suy tàn.
Vì sao, năm 1926, cơ quan An ninh cấp cao của Chính phủ Thuộc địa đã bắt Nguyễn Văn Vĩnh? Suốt 20 năm, bằng nhiều biện pháp, với những toan tính chặt chẽ, họ đã bất lực trong việc khuất phục ông đi theo con đường chính trị thực dân.
Người Pháp đã đánh giá rất cao năng lực và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với xã hội An Nam (Đánh giá của Émile Vayrac – Trưởng Phòng Sách báo bản xứ Phủ Toàn quyền), nhưng lại đánh giá thấp sự kiên định và lòng ái quốc của ông trong việc đấu tranh cho sự bình đẳng, tự do, dân chủ, những thứ là sản phẩm của tư tưởng tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh tiếp thu được từ chính nước Pháp.
8h30 ngày 15/5/1926, trong buổi câu lưu, họ đã tra vấn Nguyễn Văn Vĩnh về tính chất quan hệ với Phan Bội Châu (3), về những nội dung hai người đã bàn bạc, có liên quan tới kế hoạch phản đối chính sách cai trị của Nhà cầm quyền không?! Họ muốn khống chế, chia cắt Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, họ lo sợ ảnh hưởng cách mạng của Phan Bội Châu sẽ kết hợp với trí tuệ và phương thức hành động của Nguyễn Văn Vĩnh, trở thành mối đe dọa tiềm tàng… Và đây là sự khôi hài.
Bằng chứng này, đã giúp người đời sau có thêm cơ hội để thấy sự ngây thơ của người Pháp trong việc hiểu Nguyễn Văn Vĩnh, mà đáng ra, họ phải hiểu nhiều hơn bất kỳ ai trong giai đoạn lịch sử đó. Đành rằng, không loại trừ, họ đã hiểu Nguyễn Văn Vĩnh theo cách tư duy ‘một chiều’ của bản chất Thực dân kiểu cũ.
Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phan Châu Trinh, họ đều giống nhau khi nhìn nhận về vai trò của Phan Bội Châu(4) trong chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng sự khác nhau về khuynh hướng, cách thức thực hiện của những con người đầy chữ nghĩa đó, hoàn toàn không phải là sự đối đầu và tìm cách xóa sổ lẫn nhau.
Bằng văn hoá đối thoại của những kẻ có học vấn, họ trao đổi, luận bàn cùng nhau tìm ra con đường tiến bộ cho dân tộc mình, để hôm nay, trước lịch sử, họ đã không phải ân hận, và không bị hậu thế ‘kết án’ là những kẻ cùng một mẹ mà đá nhau. Chỉ có những kẻ ít hiểu biết, nhưng vì huênh hoang, trong cơn mê hồn trận khi giành được chỗ đứng quyền lực, đã phát ngôn hàm hồ khi nói rằng: Những kẻ cải lương ngày xưa đó đã bêu riếu, chống đối lẫn nhau..!
Ví như, quan điểm trên đây nếu được cho là đúng, thì cũng mới có giá trị 49%, trong khi chúng ta đều biết câu ngạn ngữ hùng hồn, chí lý của người Nga: Một nửa cái bánh mỳ vẫn được gọi là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật là sự giả dối.
Những gì diễn ra giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, đã biến thành sự ồn ào công khai vào những năm sau đó trên mặt báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau (Nước Nam mới). Và nhờ sự ồn ào có tính chính trị này, mà công chúng đã có cơ hội để hiểu được chính xác, bản chất sâu xa của mối quan hệ giữa họ. Chẳng thế, mà khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu đã không dấu nổi lòng thương tiếc, cùng sự quý trọng, và cả nỗi niềm sâu kín để giãi bày trong bài điếu gửi đến tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 tại Hà Nội:
“…Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông…. Mây hạc sẽ về đâu ôi bạn ta ngọc báu của năm châu…”
Chắc chắn trong lịch sử cận đại Việt Nam, mẫu hình tư tưởng chính trị như Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta khó có thể tìm thấy người thứ hai. Ông dấn thân vào một cuộc đấu tranh cho tự do, bình đẳng và bác ái, lấy nền tảng là văn hóa, là tri thức, là nghị lực của mỗi con người. Với ông, việc học tập, tiếp thu những tiến bộ của nhân loại là kim chỉ nam. Ngày nay chúng ta hiểu: Đó là phát huy nội lực!
Ở Nguyễn Văn Vĩnh, người ta không tìm thấy bất cứ một ý định, một sự cậy nhờ nào về ảnh hưởng, hay sức mạnh của các lực lượng bên ngoài (ngoại bang). Đây là khác biệt có tính đặc thù trong tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, so với các nhà cách mạng Việt nam khác cùng thời!

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, việc trao đổi một cách trung thực và công khai trước bàn dân thiên hạ, về quan điểm chính trị trong việc xây dựng một xã hội tiến bộ, chính là sức mạnh của một xã hội. Ông coi đó là giá trị cá nhân, thể hiện tính trách nhiệm trước cộng đồng.
Trên tờ L’Annam Nouveau, ông không chỉ bày tỏ quan điểm về Phan Bội Châu, mà còn với cả Triều đình Huế, với Vua Bảo Đại, với các nhân vật chính trị danh tiếng cùng thời như Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh…. Ông thẳng thắn đề cập đến những vấn đề của hệ thống chính trị, các chính sách xã hội mà người phải chịu trách nhiệm là Toàn quyền Đông Dương – Pierre Marie Antoine Pasquier (1877-1934).
KHÔNG CÓ THỎA HIỆP.
Ngay từ số báo đầu tiên của L’Annam Nouveau, Nguyễn Văn Vĩnh đã chứng minh sự hợp lý, tính thực tiễn của thuyết Trực trị (Anministration directe) mà ông đề xuất. Mục tiêu lớn nhất của ông, là sớm loại bỏ bộ máy bù nhìn trung gian là Triều đình nhà Nguyễn.
Ông phê phán âm mưu đặt xã hội Việt Nam vào chủ trương duy trì chế độ Quân chủ Chuyên chế, mà Nguyễn Văn Vĩnh coi đó là sự cản trở đường tiến hóa của dân tộc Việt Nam, và là môi trường nuôi dưỡng tầng lớp trung gian làm giàu từ mồ hôi và nước mắt của dân chúng, do dựa vào nền tảng chính trị của bản Hòa ước Patenôtre ký giữa Triều đình Huế và Thực dân Pháp năm 1884.
Nguyễn Văn Vĩnh đã không ngần ngại viết: Những vụ áp phe chính trị (La politique des affaires). Cụ thể hơn, ông đã đăng: Bản tường trình của ông Jules Ferry, Bộ trưởng ngoại giao, Chủ tịch Hội đồng, về những vấn đề trong dự án luật của bản hòa ước 6/6/1884 nhân danh ông J.G tổng thống cộng hòa Pháp (Exposé des motifs du projet de loi du traité de 6 juin 1884 aux noms de M Jules Grévy Président de la RF (République Francaise) par M. Jules Ferry, Président de conseil Ministre des affaires étrangères).
Để thấy rõ hơn nhận thức chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, cần đọc 3 bài liên tiếp: Thể chế cho xứ Đông Dương (Le statut Indochinois) số 17, 18 và 19/4/1931.
Việc cho ra đời tờ báo tiếng Pháp, khiến dư luận xã hội đã ồn ào, mỉa mai, thậm chí nhân sĩ nổi tiếng Phan Khôi (1887-1959) đã thách đố dư luận bằng bài:‘Ai giỏi đoán thì đoán cái nầy chơi’, trên báo Trung Lập, ngày 24/12/1930 in tại Sài Gòn. Tác giả đã không tin, rằng L’Annam Nouveau sẽ tồn tại nổi vài tuần, trước sự hà khắc của một chính thể độc tài, và do sự ‘cành cựa’ chính trị giữa Nguyễn Văn Vĩnh với Phạm Quỳnh khi Phạm Quỳnh xuất bản tờ Le Peuple (5)!
Mất nhiều chục năm sau, khi nhìn lại quá khứ, Tannamtu.com mới có cơ hội bàn về sự kiện này bằng bài viết: Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập báo L’ Annam Nouveau 1931?
Điều ngạc nhiên, là về cơ bản, nội dung tờ báo đều do ông xắp đặt, thể hiện đúng tinh thần cương lĩnh của bản báo từ số đầu tiên ra ngày 21/1/1931 khi khẳng định: Để đấu tranh chống lại chủ trương duy trì thể chế Quân chủ Lập hiến, phấn đấu thực hiện thuyết Trực trị.
L’Annam Nouveau đã sống liền 5 năm, đều đặn một tuần ra hai số, 8 trang, khổ giấy 61cm x 45cm, cho đến lúc bị khủng bố một cách toàn diện.
Có lẽ, công luận khỏi cần bàn đến các vấn đề nan giải khi làm báo như: Vốn, nhân công, kỹ thuật in ấn, vật tư, xuất bản, và thị trường tiêu thụ… Rõ ràng, “Người nhà quê” Nguyễn Văn Vĩnh, đã làm được những việc mà kể cả hôm nay, người đời nhìn lại cũng phải thán phục, vì nó không tưởng!
Một số bài báo để đời, thể hiện tinh thần, tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh trên L’Annam Nouveau:
- Viện Dân biểu (Chambre des représentants). 3 bài liên tiếp đầu năm 1931.
- Báo chí bản xứ tự do (La presse indigène libre). 6 bài liên tiếp.
- Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng (La concussion sous ses différentes formes). 4 bài liên tiếp.
- Bản án chế độ thuộc địa (Le procès du colonalisme). 3 bài liền.
- Vấn đề rượu cồn (La question des alcools). 7 bài liền.
- Hãy nói thẳng chuyện cái hiến pháp đích thực cần cho chúng ta (Parlons franc, la vraie constitution qu’il nous faut). 8 bài liền.
- Cuộc đời mới và cuộc sống cũ (Vie moderne et vie aucienne). 12 bài liền.
Nguyễn Văn Vĩnh, dân của một nước thuộc địa, một kẻ bị trị, nhưng làm Chủ bút một tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp, thứ tiếng của kẻ cai trị mình, để đối đầu với kẻ cầm quyền là người Pháp, nhưng rồi lại được chính người Pháp trao giải thưởng lớn, ngay tại quê hương của kẻ cai trị…. là một điều hôm nay, chúng ta không thể không đặt câu hỏi lớn.
Nội dung L’Annam Nouveau đã làm đau đầu nhức óc cả một bộ máy chính trị, nhưng đã làm hài lòng Hội đồng xét giải thưởng… là điều thật thú vị! Ngẫm ra, nếu văn phong Pháp ngữ của kẻ bị trị đó chỉ ở ngưỡng thông thường, theo kiểu làm báo để kiếm sống, thì chắc chắn sẽ không có chuyện tờ báo được nhận giải thưởng!
Nếu coi nhận thức trên đây là suy diễn, vậy thử hỏi vì sao năm 1935, Nhà cầm quyền lại tiếp tục ‘mặc cả’ để Nguyễn Văn Vĩnh phải chấm dứt việc viết? Thậm chí, họ còn cam kết, sẽ xóa những khoản ‘nợ’ ngân hàng (do vay tiền làm báo) nếu chấm dứt mọi hoạt động viết và xuất bản.
Chúng ta không thể không nhận thấy, con chữ, thứ mà tiền nhân tìm ra, khi nó đi qua đầu của một kẻ có trí tuệ, nó đã mạnh lên đến mức nào?!
Việc cương quyết không nhân nhượng chính quyền của Nguyễn Văn Vĩnh, đã trở thành quyết tâm của Nhà Cầm quyền, họ đã tiêu diệt ông theo cách ‘thỏa thuận’: Đi đào vàng để trả nợ! Và rồi, họ đã thành công khi dập vùi, bẻ gãy một cây bút, kẻ luôn tạo ra nỗi ám ảnh cho một chế độ chính trị.
Những người làm báo ngày nay ở Việt Nam, đâu có phải đối đầu với chính thể… để tuyên bố mạch lạc như Nguyễn Văn Vĩnh:
“Báo L’Annam Nouveau tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.
(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).
Đọc lại, có người đã trộm nghĩ: Sao ông lại có thể liều đến như vậy?
Không! Nguyễn Văn Vĩnh không liều, ông không hề ấu trĩ dù là 1%, để nhắm mắt dũng cảm. Vì xét đến cùng, sự dũng cảm nào của con người cũng để đem lại một cái gì đó, trong khi thể chế chính trị đương thời đã quá một lần cam kết dành cho ông nhiều cái gì đó, kể cả danh to và lợi lớn như Bắc đẩu Bội tinh, ghế Thượng thư (Bộ trưởng), và đặc biệt là: Xóa nợ, thứ mà người đời ai cũng mong…
Những vỹ nhân cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh đã từng kính trọng ông, vì ở ông, không có tính hám lợi, hay ham danh… Chỉ có những kẻ nhỏ nhen, nông cạn, hay suy từ bụng mình, rồi gán cho ông những điều tầm thường, và cả bêu riếu ông, rằng ông chỉ thích cuộc sống tối rượu sâm panh, sáng sữa bò!
Nguyễn Văn Vĩnh chỉ đơn giản để chứng minh lòng quyết tâm cho việc tạo dựng một xã hội tiến bộ, và sự bình đẳng phải dành cho tất cả mọi người. Ông đã thành công trong việc ngăn chặn ở mức nào đó, sự tha hóa của một giống nòi, đã phải rơi vào cảnh lạc hậu, nghèo khổ, chỉ vì chưa có văn hóa do không được học.
Nửa thế kỷ sau khi ông qua đời, bộ phận những người mang tư tưởng định kiến, nhưng nhân danh quyền lực, đã không muốn coi sự hy sinh dũng cảm của Nguyễn Văn Vĩnh là giá trị!
Họ không tin các bậc tiền nhân đã gọi Nguyễn Văn Vĩnh là Người công dân vĩ đại! Điều này, làm cho hậu thế hoang mang, ngờ vực tính trung thực của lịch sử.
Đáng tiếc, vì ảnh hưởng của tư tưởng cực đoan, cộng với một xã hội đã sống thực dụng, không để tâm tới những giá trị văn hóa, tinh thần từng bị che dấu trong quá khứ bởi những nguyên nhân mập mờ. Tệ hại hơn nữa, có không ít kẻ mang danh là ‘nhà chuyên môn’ đã không dấu giếm cho rằng, đề tài này không sinh lời!
Đau buồn nhất, là điều trên đây sảy ra kể cả với chính đôi ba hậu duệ của ông, rồi họ chép miệng khi nói đến đề tài: Nguyễn Văn Vĩnh.
Có lẽ, chúng ta sẽ mãi mãi phải sống trong sự bất lực và day dứt, như đầu đề của một bài viết trên Vietnamnet ngày 4/7/2015 mang tên: “Có những giá trị người đã rời bỏ thế gian…”. VàĐây là một loại tội lỗi!
Chúng ta tin rằng, đến một ngày, đề tài nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh sẽ giống như sự việc gần đây, nhân việc kinh doanh xuất khẩu hoa quả tươi nở rộ, thiên hạ đổ xô đi tìm lại cái vị ngọt đặc trưng của quê cha đất tổ, họ mới thấy lo lắng, vì có thể mất giống Nhãn lồng Hưng Yên, Cam Bố Hạ, hay Bưởi Đoan Hùng… Bởi lẽ, người dân vẫn coi các sản vật của quê hương như một lẽ tự nhiên do Tạo hoá ban tặng, giờ cái gốc nếu mất đi, họ sẽ nuối tiếc khôn nguôi, và phải tìm cách giữ gìn để mong cho đời sau hiểu, thế nào là bản sắc, là độc nhất vô nhị, là có một không hai.
Có thể, nghành báo chí Việt Nam sẽ chẳng mấy ‘xúc động’, hay hãnh diện khi biết về một tờ báo viết tiếng Tây của một người nhà quê, đã từng giành được sự nể trọng tầm quốc tế từ gần trăm năm trước, khi đất nước còn hỗn mang về văn hóa báo chí, nhưng họ không thể không biết, rằng đó là lòng tự tôn của một giống nòi.
Họ cũng không thể không nhận thấy (dù là cố tình), nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, một người Việt Nam 100%, đã thành công ra sao, trong sự nghiệp xây dựng văn hóa chữ viết cho toàn xã hội bằng con đường làm báo chân chính.
Nhà nước đang cố sức xây dựng chiến lược phát triển thông tin và tầm nhìn đến năm 2030 để làm gì, khi chưa có chiến lược xây dựng con người chân chính???
BI THẢM NHƯNG BẤT KHUẤT.
Việc tháng 12 năm 1935, Nhà Cầm quyền Thực dân lo sợ đến tận cùng vai trò cá nhân, cũng như tư tưởng dân chủ cùng cách hành động của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ phơi bày, tố cáo sự áp bức người dân An Nam không phải chỉ về vật chất, mà cả về đời sống tinh thần của hệ thống cai trị, nó đi ngược những cam kết về chủ trương Pháp-Việt Đề-huề, phản lại tinh thần của cuộc Cách mạng Dân chủ vĩ đại 1789 của nước Pháp văn minh là: Tự do – Bình đẳng – Bác ái.
Người Pháp đã o ép đến nhẫn tâm, buộc Nguyễn Văn Vĩnh phải rời bỏ tờ báo máu thịt của mình với một lý do hạ tiện: Vay tiền ngân hàng phải trả gấp…
Chính người Pháp đã thú nhận vai trò ghê tởm của tổ chức SDECE (Service de Documentation Extérieure et de Contre-Espionnage), một tổ chức chuyên thực hiện việc thủ tiêu những nhân tài, những nhà chính trị danh tiếng của các nước thuộc địa trong thế kỷ XX.
Hôm nay, chúng ta sẽ lại càng thấy chua chát khi có những người thắng thế, nhân danh bảo vệ truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã lập lờ trong việc định danh những cống hiến của Nguyễn Văn Vĩnh.
Điều này, có phải là một sự chối bỏ lịch sử, hay họ là đồng lõa với những hành vi vô nhân tâm của Chính quyền Thực dân trước một Nguyễn Văn Vĩnh hay không?
Chú thích:
1. “Viện Dân biểu Bắc Kỳ” (Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin), thành lập ngày 10/4/1926 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, là cơ quan tư vấn cho chính quyền Bảo hộ của người Pháp ở Bắc Kỳ. Viện Dân biểu Bắc Kỳ có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính quyền khi được tham vấn, nhưng tuyệt đối cấm bàn về chính trị, và muốn thảo luận thêm vấn đề gì, phải được phép của Thống sứ Bắc Kỳ (Wikipedia).
2. Văn kiện Đảng Cộng sản Đông dương giai đoạn 1929-1935. Trang 290 và 437.
NXB. Sự Thật năm 1964.
3. Tài liệu lưu trữ của Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM). Nội dung văn bản này cùng mã số quốc gia, sẽ được trình bày trong bài tiếp theo có tựa đề: Cái đầu tiên thứ 9.
4. Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 66-68. NXB. Đà Nẵng 2005.
5. http://lainguyenan.free.fr/pk1930nghethay/aigioi.html
BBT.Tannamtu.com
NGUYỄN LÂN BÌNH.
(Chỉnh sửa lần cuối 3.2024)
=========
