Cái đầu tiên thứ Nhất – Molière ở An Nam

Lời dẫn.

Kính thưa các quý độc giả!

Trong năm 2014, trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta vui mừng khi chứng kiến việc các nhà quản lý thuộc các cơ quan chuyên trách của Nhà nước Việt Nam đã để tâm khá nhiều đến việc phục dựng và trình diễn lại nhiều tác phẩm đặc sắc của nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ (1948-1988).

Tôi không hề có ý định luận bàn về sự nổi tiếng hay tài năng của Lưu Quang Vũ, nhưng tôi quan tâm bởi lẽ, cụ thân sinh của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ là Lưu Quang Thuận cũng là chỗ bạn bè quen biết với cha mẹ tôi, vì vậy, tôi đã nghĩ rất nhiều đến một chi tiết viết trên Wikipedia trong mục bàn về cái chết của ông như sau: “…Sau khi ông mất, đã có nhiều dư luận xung quanh vụ tai nạn này. Có tin cho rằng ông bị ám sát bằng cách gây tai nạn ô tô…!”

Là một người có ít hiểu biết về văn hoá nói chung và đặc biệt là sân khấu nói riêng, song cái chết của Lưu Quang Vũ lúc đó (1988) đối với tôi, và đối với bất kỳ một người nào hay xúc động trước nỗi đau của người khác, đều thấy nao lòng trước sự việc đau đớn này của gia đình nhà viết kịch.

Cái chết của gia đình nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, đã trở thành sự kiện gây chấn động tâm lý xã hội… Và vì nó gây chấn động, nên đã đẩy dân chúng để tâm đến việc xem, tìm kiếm để hiểu những gì ông đã viét (Trước khi Lưu Quang Vũ mất, chỉ thấy có một bộ phận xã hội quan tâm, hiểu và ca ngợi những tác phẩm của ông). Chính vì công chúng để tâm (trong đó có cả sự tò mò), nó như một sự kiểm chứng cái nghi án vu vơ rằng, đó là sự thủ tiêu một người tài… Làm sao chỉ có viết kịch thôi mà lại ‘bị ám sát’? Kịch mà cũng gây hệ luỵ ghê gớm vậy sao? Có lẽ nhờ thế, cuối cùng, hầu hết dư luận và công chúng cho đến ngày hôm nay đều đồng ý và đi đến thống nhất: Kịch của Lưu Quang Vũ hay thật! Hay quá…! “Tôi và chúng ta” hay quá!

Tôi xin được phép đứng trước vong linh linh thiêng của người quá cố, dẫn câu chuyện của mình bằng một tâm lý mất mát chung của xã hội, và  xin được nhắn nhủ với mọi người rằng, 100 năm trước, có một người ‘Nhà quê’ Việt Nam, đã nhìn thấy cái ảnh hưởng to lớn của kịch nói, và ông đã làm bằng nhiều cách cùng với cái tư chất đặc biệt của mình, cùng với những quyết tâm khai mở, du nhập một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới vào Việt Nam, khi mà nền sân khấu ở ta, lúc đó chỉ phổ biến các loại hình nghệ thuật như hát tuồng, hát cải lương và diễn chèo, chưa nói đến nền văn hoá chữ Quốc ngữ như sau này.

Nằm trong lộ trình xây dựng nền văn hoá chữ Quốc ngữ, tạo dựng tính độc lập về bản sắc văn hoá dân tộc, kiến tạo một nền học vấn mới, từ đó làm nền tảng xây dựng nền cộng hoà và một xã hội dân chủ, có một người ‘Nhà quê’, đã cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa, giá trị và tính trí tuệ của sân khấu kịch nói. Ông tỏ ra tự tin đến mức tuyệt đối rằng, nó sẽ phù hợp với công cuộc canh tân văn hoá ở một đất nước thuần nông, với những con dân luôn chấp nhận số phận: Bán lưng cho Trời và bán mặt cho Đất. Người ‘nhà quê’ đó, là Nguyễn Văn Vĩnh.

Sokolov Anatoly là PGS, Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga Matxcơva, Liên bang Nga đã viết trong bài “Hiện đại hoá xã hội Việt Nam và sự ra đời của văn học kịch mới (Nửa đầu TK. XX)” đăng trên Văn hoá Nghệ An, ngày thứ Tư 28.7.2010 như sau:

“Sự ra đời của sân khấu kịch nói xuất phát từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán giả Việt Nam của các văn nghệ sĩ. Buổi diễn kịch đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của một thể loại sân khấu mới ở Việt Nam, đã được ra mắt công chúng ngày 25 tháng 4 năm 1920 tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Đó là vở kịch “Người bệnh tưởng” của Molie do một nhóm sân khấu nghiệp dư dàn dựng”.

Vậy là, qua ý kiến nêu có tính xác định về nguồn gốc ra đời của kịch nói Việt Nam (Tuy chưa thấu đáo) của một người Nga chuyên nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, đã giúp chúng ta hình dung được điểm xuất phát của một loại hinh nghệ thuật mới, nghệ thuật sân khấu kịch nói xuất hiện ở Việt Nam như thế nào?!

Để giúp các độc giả nhận biết được đầy đủ hơn ý kiến của PGS. Sokolov Anatoly, cũng như các độc giả quan tâm đến sự nghiệp văn hoá của học giả Nguyễn Văn Vĩnh có thêm những hiểu biết cụ thể, BBT. Tannamtu.com trong lời xin lỗi đăng ngày 22.7.2014, nhân việc phục dựng lại thành công trang Web sau 3 tháng bị ‘sập’, chúng tôi đã cam kết sẽ gửi tặng đến các quý vị và các bạn một tư liệu quý, về sự ra đời của sân khấu kịch nói Việt Nam, đồng thời cũng để chứng minh một chức năng mà lịch sử đã không vô cớ khi trao tặng Nguyễn Văn Vĩnh danh hiệu: Chiếc cầu nối đầu tiên của mối quan hệ văn hoá Đông Tây.

Dưới đây là bài viết của nhà chính trị nổi tiếng người Pháp François de Tessan (1883-1944). Bài được đăng trên tờ báo “L’ILLUTRATION” (Minh hoạ), số 4038 ra ngày 24.7.1920 tại Paris.

Trân trọng!

Tóm tắt về Molliere (Theo Wikipedia).

Molière (tên thật là Jean-Baptiste Poquelin; sinh ngày 15 tháng Một năm 1622 – Mất ngày 17 tháng Hai năm 1673) là nhà thơ, nhà viết kịch, nghệ sĩ người Pháp, người sáng tạo ra thể loại kịch cổ điển, một bậc thầy của kịch nghệ châu Âu. Molière là tác giả của những kiệt tác Le Misanthrope (Anh chàng ghét đời), L’École des femmes Tartuffe ou l’Imposteur (Thằng Táctuýp), L’Avare ou l’École du mensonge (Lão hà tiện) và Le Bourgeois gentilhomme (Trưởng giả học làm sang). Ông được coi là nhà hài kịch vĩ đại nhất thế kỷ XVII.Molière để lại một di sản vô cùng đồ sộ với hơn 30 vở kịch nhiều thể loại. Ông thường xuyên thể nghiệm, chuyển thể và sáng tạo ra những hình thức mới cho kịch. Tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống đương thời cũng như hiện tại: quan hệ của cha mẹ và con cái, hôn nhân và gia đình, giáo dục, đạo đức xã hội (thói hiếu danh, kiêu ngạo, thói giả nhân giả nghĩa…), những vấn đề về tôn giáo, văn hóa, khoa học vv… Molière sử dụng thực tế không chỉ của đời sống đương thời mà còn dùng nhiều tích từ thời cổ đại và của nhiều nhà viết kịch thời Phục Hưng. Ông có sự ảnh hưởng rất lớn đến kịch nghệ không chỉ của Pháp mà của cả thế giới.

Molière ở An Nam

                                                                               François de Tessan

                                                                                              Hà nội, tháng 5.1920

Đây là lần đầu tiên có một sự kiện trọng đại, đó là vở kịch nói “Người Bệnh tưởng”(1) được trình diễn tại nhà hát Thành phố Hà Nội ngày 25.4.1920. Làm sao mà người An Nam dám mơ dịch tác phẩm này ra tiếng Việt và tự dàn dựng, trình diễn vở kịch này?!

Vở kịch của Molière được dịch ra tiếng Việt là điều mới lạ vô cùng! Thần khí  của đại văn hào chuyên về hài kịch của chúng ta đã nhập được vào hồn người dân Bắc Kỳ, và nó đã chinh phục một dân tộc khác xa chúng ta, rất xa về cách suy nghĩ, chắc chắn đây là một sự kiện đầy bất ngờ mà trước đó chẳng ai dám nghĩ đến, và từng nảy sinh các ý kiến rất trái ngược nhau, bán tín bán nghi về một sự thành công.

Tuy nhiên, những người cách tân đã không lầm, và họ đã thành công, (Nó đã thu hút khán giả An Nam) nhất là khi người ta muốn đưa ra một tác phẩm đầy tính nhân văn sâu sắc với sinh lực mạnh mẽ của Molière, nó đã hấp dẫn, thu hút được những khán giả An Nam. Người ta có thể nghi ngại về chất hài hước của vở kịch bị biến đổi, có khi kèm cả sự bực tức vì sự nghịch nghĩa do mô phỏng tính hài. Vậy nhưng tài dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đã tránh được những sai sót này. Nếu tác giả không thể chuyển tải tuyệt đối được cách nghĩ của người Pháp do từ vựng trong tiếng An Nam còn khá giới hạn, và chữ Quốc ngữ chưa sẵn sàng để diễn đạt tính văn chương trong tiếng Pháp một cách uyển chuyển. Song, chí ít là tác giả đã lột tả được giá trị cốt lõi của tính chất hài ước trong vở kịch “Người Bệnh tưởng”.

Mặt khác, Nguyễn Văn Vĩnh cũng không phải là lần đầu tiên thực hiện việc mô phỏng một tác phẩm văn học Pháp. Ông đang là người điều khiển tờ báo “Trung Bắc Tân Văn” (La Gazette de l’Annam –Tonkin). Từ 1913, ông đã cố gắng tặng cho độc giả rất nhiều (có lẽ đến hàng nghìn) các trích đoạn từ các tác phẩm cổ điển của văn học Pháp. Ông đã dịch “Trưởng giả học làm sang”, Lão Hà tiện”, “Tartuffe”, Ngụ ngôn La Fontaine” (dịch theo thơ vần tiếng An Nam), “Chuyện cổ tích của Perrault”, và Gil Blas” (tác phẩm đặc biệt thu hút được người dân bản địa). Nhờ vào sự lựa chọn rất thận trọng của Nguyễn Văn Vĩnh, độc giả An Nam đã biết đến những tác phẩm chính của H. Balzac và A. Dumas. Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã dám tấn công vào việc dịch Anatole France tinh tế của chúng ta. Gần đây nhất, người ta có thể đọcVườn Epicure” trên tờ Trung Bắc Tân Văn”.

Do đó, chẳng ai vượt được Nguyễn Văn Vĩnh trong việc truyền bá các tác phẩm văn học cổ điển của chúng ta, và thu hút được quần chúng với vở kịch“Người Bệnh tưởng”

Việc lựa chọn vở kịch này lại càng thích hợp hơn vào thời buổi hiện nay, vì trong những năm qua, nền giáo dục khoa học đã hoàn toàn đổi mới ở Đông Dương. Những người với lối suy nghĩ cổ hủ theo kiểu nhân vật Diafoirus trong bản kịch, được thay thế bởi cả một thế hệ các y sĩ trẻ đầy nhiệt huyết.  Biết bao nhiêu điểm tương đồng trong cuộc sống đương thời mà người dân An Nam nhận thấy trong ba màn kịch này của Molière, nó đã tô điểm thêm cho tính châm biếm sâu sắc của tác phẩm. 

Tất cả những gương mặt nổi tiếng ở bản xứ đã chen nhau đến dự buổi trình diễn ngày 25 tháng Tư ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Nhiều vị quan chức quần áo chỉnh tề, sang trọng, dẫn đầu là Tổng đốc Hà Đông cùng gia quyến đã đến xem(2). Các doanh nghiệp danh tiếng, sinh viên và dân chúng đến chật kín nhà hát từ sớm. Nhiều phụ nữ An Nam kiều diễm trang điểm như đi lễ hội càng kích thích sự tò mò của dân chúng. Tất nhiên, ngài phụ trách Hội Khai trí Tiến đức An Nam đã đứng ra trình bày về ý tưởng và mục đích của việc dàn dựng vở kịch“Người Bệnh tưởng” khi vở kịch đã được dịch ra Quốc ngữ. Hội có hai mục đích: Thứ nhất, là toan tính việc canh tân sân khấu An Nam, sau là góp quỹ cho những người lính thợ Đông Dương đã hy sinh vì nước Pháp trong đại chiến Thế giới thứ Nhất.

Tiếp đó, chính ngài Chủ tịch Hội đã trình bày một cách uyên bác sự khác biệt giữa sân khấu châu Âu và An Nam. Cuối cùng, theo ngài, sự khác biệt này chính là việc hát đi kèm với dáng vẻ, điệu bộ và âm nhạc trên sân khấu, nó có thể làm cho người xem sướng mắt, vui tai, nhưng điều này tuyệt nhiên không hề ảnh hưởng chút nào đến tinh thần và cảm xúc của khán giả.

Sau khi chỉ ra một cách chính xác rằng, nền sân khấu châu Âu luôn nhắm đến trí tuệ và cảm xúc của con người, và đó cũng là cách giáo dục xã hội tuyệt vời, đúng như lời kết của ngài Phạm Quỳnh(3) :

“Chúng tôi phải xin giải thích trước để tránh cho mọi người do quen với sân khấu truyền thống, không b lối nhận định theo cách nhìn cũ khi xem cách trình diễn vở kịch sắp tới của chúng tôi, tránh khỏi những nhận định sai, không đúng. Nếu vở hài kịch sắp diễn được các quý vị yêu thích, khi các quý vị th hiện việc muốn lắng nghe, thưởng thức, hơn là vẫn thường nghe những tiếng than thở, rên rỉ trên sân khấu quen thuộc của chúng ta, vậy có nghĩa là, việc th nghiệm của chúng tôi đã thành công. Nếu không đạt được điều đó, chúng tôi cũng xứng đáng vì đã dám làm một việc chưa từng có trước đây. Chúng tôi cũng mong có sự độ lượng của các quý vị, để tránh không đánh giá nhầm theo tư duy cũ, dù thế nào đi nữa, mong các quý v đừng gay gắt khi phê phán chúng tôi!”.

Mở màn, 16 nghệ sỹ Thái Hâp, áo dài hồng, đầu chít dải khăn xanh mềm mại đi vòng tròn, như khúc dạo đầu, các cô múa quạt với thân hình mềm mại uốn lượn một cách kiều diễm. Sau màn dạo đầu, các cô lùi vào trong sân khấu, ba hồi trống nổi lên, các nghệ sỹ An Nam bắt đầu trình diễn vở kịch của Molière.

Cả Nhà hát im lặng chăm chú theo dõi. Tất cả khán giả đều tỏ ra căng thẳng, họ cố gắng lắng nghe sao cho chính xác các lời thoại của các nhân vật. Và rồi đột ngột, sự im lặng bị phá vỡ bởi những tiếng cười qua mỗi cảnh diễn. Người xem cảm thấy mỗi câu nói, từ ngữ nghe như rõ hơn, dường như mọi người ngày càng bị cuốn hút, vở diễn càng ngày càng trở nên sống động, Molière cứ thế thấm dần vào những khán giả mới, với những  ‘tín đồ’ mới…

Khi vở diễn kết thúc, tất cả các diễn viên người An Nam đã trở ra sân khấu, họ trình diễn một màn trang phục dân tộc thật ấn tượng. Đây là một tạp chí sân khấu gồm các nhân vật trong các truyền thuyết kỳ quái kiểu Tàu, như: Mặt nạ tuồng, màu sắc sặc sỡ, áo quần trang trí rực rỡ và lạ mắt, kèm theo những tiếng hét nạt nộ, đi cùng với những tiếng kêu thất thanh theo lối tưởng tượng của các dân tộc châu Á. Và một lần nữa, lại xuất hiện giữa sân khấu rực rỡ sắc màu vàng đỏ, chính là các nữ nghệ sỹ với áo dài hồng và khăn xanh nhạt đã xuất hiện từ đầu của buổi trình diễn. Các nghệ sỹ đã gửi lời chào từ đất nước An Nam tới ông Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, người đã trịnh trọng đến dự buổi ra mắt đầu tiên vở hài kịch của đại văn hào thiên tài người Pháp Molière.

Người dịch: Nhà nghiên cứu, tiến sĩ Trần Thu Dung.

Hiệu đính kỹ thuật và chú thích:

BBT tannamtu.com

Chú thích:

  1. Bản dịch gốc, Nguyễn Văn Vĩnh viết đầy đủ là “Người bệnh tưởng”.
  2. Vị Tổng đốc Hà Đông (Tương tự như ngày nay là Chủ tịch tỉnh) lúc này là Hoàng Trọng Phu (1872 – 1946).
  3. Phạm Quỳnh (1892 – 1945) lúc này là Chủ bút báo Nam Phong. Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh gắn bó với các hoạt động văn hoá, báo chí từ năm 1913 khi cùng ở trong Ban Biên tập của Đông Dương Tạp chí. Năm 1917, Phạm Quỳnh tách ra làm báo độc lập.

Hình ảnh tại sân khấu Nhà hát Lớn, Thành phố Hà Nội.

Hồi 2, cảnh 6:

Cảnh Beline tố cáo thái độ hỗn láo của Angelique .

Ông Vượng (trong vai Thomas Diafoirus).

Ông Vĩnh (trong vai Diafoirus).

Ông Duyệt (trong vai Argen).

Tửu ( trong vai Toinette).

Kao (trong vai Angelique).

Tuất (trong vai Beline).

Hồi 3, cảnh 14.

Argan ( Do ông Duyệt thủ vai) đang làm cho Angelique (Do bà Kao thủ vai) yên lòng, người tưởng là đã chết.

===============

BBT tannamtu.com xin trân trọng cảm ơn bà Huỳnh Thiên Kim Bội và anh Hoàng Minh đã gửi tặng chúng tôi những tư liệu này!

(Chỉnh sửa lần cuối 12.2023)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  
April 2024
M T W T F S S
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

Social Network