NỖI BẤT HẠNH CỦA KẺ KHI MẤT RỒI MỚI BIẾT MÌNH MẤT GÌ?! – Phần 1

Phản hồi dư luận về bài “Một giọt dầu văng đi không ai biết tới…”  trên báo Gia Đình Xã Hội số 126 ngày 9/8/2005.

Thưa các quý vị và các bạn độc giả!

Năm 2007, hậu duệ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh tự xây dựng và cho ra đời bộ phim tài liệu lịch sử “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, nói về sự nghiệp lẫy lừng của ông.

Bộ phim thực sự đã đạt được những giá trị nhất định ở một số khía cạnh, đặc biệt, đã đặt ra được một câu hỏi lớn đối với chính sử, về vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh đối với quá trình phát triển nền văn hoá chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Đáng tiếc, tác phẩm đã bị hạn chế ở mức độ, vì những ý đồ không tốt của một vài gương mặt trực tiếp liên quan đến đề tài, do bị chi phối bởi tư tưởng công thần, và sự toan tính về lợi ích cá nhân, gây cản trở đến việc lan toả tác phẩm.

Gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh liên quan đến rất nhiều những diễn biến lịch sử, xã hội, văn hoá và chính trị Việt Nam trong thế kỷ 20. Những giá trị hiện hữu đó, đã để lại nhiều ảnh hưởng lớn đối với xã hội suốt nhiều thập niên qua.

Năm 2005, trong một giai đoạn có tính cao trào, bàn về vai trò của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và những người con, đã có một bài viết cực kỳ khó khăn khi ra đời, nói về trường hợp oan sai của người con trai thứ năm của ông, là nhà tình báo ngoại tuyến của Quân đội Nhân dân Việt Nam – Nguyễn Phổ (1917-1997). Bài báo mang đầu đề: “Một giọt dầu văng đi không ai biết tới”, được đăng trên báo Gia đình và Xã hội số 126 và 127, ngày 7 và 9/8/2005 tại Hà Nội. Bài viết chia làm hai kỳ.

Để tiếp tục làm rõ những góc khuất lịch sử, đồng thời chứng minh những giá trị có một không hai trong sự nghiệp đồ xộ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình, mặt khác, để giúp cho chính những cá nhân đã từng can dự vào việc làm méo mó hình ảnh của gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh do vốn hiểu biến hạn hẹp, cùng với hậu quả của lối truyền thông một chiều, năm 2012, Nguyễn Lân Bình (cháu nội – Người được gia tộc uỷ nhiệm bằng văn bản năm 2005) đã cho ra đời trang tin (website) Tannamtu.com. Mục đích để giúp dư luận, và hậu thế có điều kiện đến gần hơn với những sự thật về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, cùng những con người và những diễn biến liên quan.

Ngày 3/7/2012, Tannamtu.com đã cho đăng lại bài viết về Nguyễn Phổ của báo Gia đình và Xã hội số 126 và 127.

https://www.tannamtu.com/?p=583

https://www.tannamtu.com/?p=593

Năm tháng qua đi, đề tài về nhà tình báo Nguyễn Phổ đã nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả. Ngoài việc chia sẻ, cảm thông, trong đó có không ít ý kiến thắc mắc và muốn tìm hiểu về nguyên nhân đã ‘đẩy’ Nguyễn Phổ vào tù?

Thậm chí có độc giả còn muốn biết, vai trò của người bố Nguyễn Văn Vĩnh – Bồi bút (Cách nói của một số người Vô sản cùng thời), người em trai kỹ sư vô tuyến điện Nguyễn Dực (1921-2000 – Lão thành Cách mạng – Người đầu tiên trực tiếp xây dựng Đài Tiếng nói Việt Nam 8/1945), và người em trai cùng cha khác mẹ từng là sĩ quan Phòng Nhì (1947-1949), luật sư Nguyễn Phùng (1921-1997), có phải là những lý do cấu thành việc Nguyễn Phổ phải bị bắt?

Bên cạnh đó, còn có ý kiến của những người đương thời làm việc trong ngành an ninh quen, biết Nguyễn Phổ, lưu truyền giai thoại: Nguyễn Phổ bị bắt do trả thù cá nhân..!

Quá khứ luôn ẩn chứa nhiều góc khuất và không dễ dàng gì để hậu thế có cơ hội nhận biết được chính xác, kể cả khi ai đó có nguyện vọng chính đáng, đặc biệt trong trường hợp của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Ở nhiều quốc gia từng sảy ra những chuyện thâm cung, đặc biệt trong điều kiện lịch sử của một thể chế, một xã hội chính trị như Việt Nam, nhiều sử gia cũng trở nên khó khăn khi muốn công bố sự thật, trước những đề tài mang tính xã hội rộng lớn, hoặc liên quan đến các chính trị gia. Họ tìm cách né tránh bằng việc lùi vào im lặng với lời biện minh rằng: Đây là vấn đề ‘nhạy cảm’… ‘tế nhị’!

Gần đây, Ban Biên tập (BBT) Tannamtu.com nhận được một số ý kiến liên quan đến bài viết “Một giọt dầu văng đi không ai biết tới”, trong đó có ý mỉa mai việc, vì sao sự mất mát của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh nói chung, và gia đình nhỏ của Nguyễn Phổ nói riêng là quá lớn, nó đau đớn, khổ nhục, cay đắng kéo dài như vậy, mà phần hai của bài viết ở số báo 127 của báo Gia đình và Xã hội, tác giả lại có thể đặt tên: “Chuyện buồn nhưng có hậu”?

Cổ nhân dạy: “Cờ bạc ăn nhau về cuối, cuộc đời ăn nhau về hậu vận”, ở một góc nào đó, quả thật cuộc sống không khác một canh bạc là bao nhiêu, nếu so sánh một cách dung dị với tính khôi hài. Còn với những người sống có tâm đức, hậu vận mới là điều họ bận lòng.

Nhìn từ góc độ nhân văn, việc Nguyễn Phổ chịu đựng và vượt qua được 17 năm tù, là một sự kiện đáng kính nể, chứng minh tính trong sạch của một vụ việc, và đạo đức một con người. Nhờ có đức hi sinh, cùng đức tin cao quý của Nguyễn Phổ, ông đã trở về và là hiện thân của điều người đời trân trọng: Cây ngay!

Với sự trở về, ông đã có cơ hội cùng các người em ruột của mình đổ công sức vào việc tìm kiếm, thu lượm tư liệu, nhằm chứng minh người bố của mình là một Nhà yêu nước, là một người đã tận tâm dâng hiến sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp giáo dục và phát triển giống nòi, cho tinh thần của một dân tộc. Di sản của Nguyễn Văn Vĩnh hiện hữu và cực kỳ phong phú, khác hoàn toàn với những nhận định có tính phiến diện, cùng sự định kiến mang tư tưởng áp đặt đã diễn ra trong quá khứ!

Xin hãy đặt giả thiết, nếu Nguyễn Phổ không vượt qua được những năm tháng gian khổ của số phận, không trở về, hoạch trở về không lành lặn trong tinh thần và thể chất… Từng ấy người con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, liệu sẽ có ai có được cơ duyên bắt tay một cách ráo riết vào việc phục dựng chân dung thực, nhằm chiêu tuyết cho người bố của mình là Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh?

Đành rằng tất cả các con học giả Nguyễn Văn Vĩnh đều rất giỏi, rất kính trọng và thần phục người cha của mình, và họ cũng đã từng cay đắng chịu đựng những điều thị phi dai dẳng, những áp chế tinh thần khắc nghiệt, những biện pháp hạ nhục họ trước con mắt của người đời, gây ra những hậu quả nặng nề trong tâm lý vì có người bố là Nguyễn Văn Vĩnh, và điều đó kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ?!

Chúng tôi tạm không bàn đến những công lao rất đặc trưng mang tính dấu ấn, với quá trình đấu tranh cùng toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm, của những người con học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Nhưng có ai có cơ duyên, giàu kiên nhẫn cùng với sự hiểu biết sát thực, để tìm được sự thật về người cha của mình như Nguyễn Phổ?

Để các quý vị độc giả có thêm hiểu biết về Nguyễn Phổ, BBT chúng tôi xin đăng lại bài “NỖI BẤT HẠNH CỦA KẺ KHI MẤT RỒI MỚI BIẾT MÌNH MẤT GÌ?!”

Chúng tôi tin rằng, khi mở rộng cánh cửa của quá khứ, nhắc lại những điều kiện và hoàn cảnh thực trong một bối cảnh cụ thể như ở Việt Nam, độc giả sẽ thuận lợi hơn để nhìn nhận và đánh giá một sự việc, một con người hay một đề tài theo con mắt khách quan hơn, từ đó sẽ độ lượng khi phán xét.

Bài viết giới thiệu lại hôm nay, đã đăng từ những năm trước, nhưng lần này, bài đã được BBT chỉnh sửa thận trọng, không thay đổi tình tiết, mà chỉ hoàn thiện văn phong, ngôn ngữ, giúp việc chuyển tải nội dung, ý nghĩa câu chuyện được thuận lợi hơn đối với những người quan tâm khi tiếp cận, và cũng sẽ là cần thiết cho những ai muốn hiểu hơn đề tài Nguyễn Phổ.

Nhân đây, BBT chúng tôi một lần nữa xin thành thật cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của các quý vị và các bạn đối với Tannamtu.com!

Xin kính chân thành chúc các quý vị và các bạn đón một năm Giáp Thìn 2024 nhiều may mắn trong mọi phương diện và ở mọi thời điểm!

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH

NỖI BẤT HẠNH CỦA KẺ KHI MẤT RỒI MỚI BIẾT MÌNH MẤT GÌ?!

Phần một

Ngày xưa

Ký ức về xã hội Việt Nam vào những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX, dù sống ở vùng miền nào, hay ở quốc gia nào, chắc chắn khi là người Việt Nam, ai cũng ẩn chứa trong tâm tư của mình không ít những điều trăn trở, những nỗi ám ảnh về thế thái nhân tình, đặc biệt với cá nhân tôi, kẻ có nhiều nỗi niềm hơn ai đó.

Người sống ở miền Bắc, có cái băn khoăn, lo lắng của người miền Bắc, người sống ở trong Nam có cái phiền muộn, dấm dứt của người miền Nam, kẻ phiêu bạt nơi xứ người, có cái xót xa, chua chát của kẻ tha hương? Tất cả đều băn khoăn khi sống trong một bối cảnh lịch sử có quá nhiều điều bất thường, quá nhiều nghịch cảnh.

Những câu hỏi như: Vì sao ngày đó đất nước mình lại phải chia thành hai, mỗi bên một chế độ chính trị? Nào là tại sao khi liên lạc với người thân ở mỗi miền, lại không được gửi thư để trong phong bì, mà chỉ là bưu ảnh với nội dung viết mặt sau để lộ? Nào là vì sao có nhiều người khi nghe đài radio lại phải mở rất khẽ? Và rồi không hiểu vì sao cứ phải ‘khai’ lý lịch từ khi đi học? Phần khai về người thân, họ hàng đôi khi phải tìm cách tẩy xóa?

Còn tôi thì băn khoăn cả khi lâu lâu không thấy bố cho đến chơi nhà các anh các chị họ của mình…?!

Cơ man nào là những sự thắc mắc vì sao, vì sao… ở cái tuổi mới lớn. Phải đến nửa thế kỷ sau, tôi mới hiểu, rằng vì sao giăng cao tới trời…?

Điều tâm sự dưới đây, chỉ là một trong hàng trăm những thắc mắc của cái ngày xửa ngày xưa ấy đối với bản nhân tôi. Cũng phải nhờ duyên may với đời, với những gì liên quan đến mình, và với chính những cái ‘trăn trở’ đã đeo bám mình qua bao năm tháng, tôi đã dần mở mắt nhìn và thấy, rồi hiểu ra. Tôi từng nghĩ rất nhiều về một người ruột thịt, mà chỉ đến khi người đó qua đời, tôi mới bừng tỉnh nhận ra rằng, bác của tôi là ai?! Bác Nguyễn Phổ, người anh ruột của cha tôi là ai?!

Bốn anh em: ông Nguyễn Phổ (ngồi giữa), ông Nguyễn Dực (ngồi bên phải), ông Nguyễn Hồ (đứng bên phải), ông Nguyễn Kỳ (đứng bên trái) cùng người anh rể Bùi Tường Trác (chồng bà Mười)

Vào cuối những năm 1950 đầu 1960, tôi nhớ có được 3 lần, cha tôi cho đến chơi nhà bác Phổ. Ngày đó, chỉ có bác gái và các anh chị tôi sống ở đó, nơi chỉ là góc của một ngôi nhà nằm sâu trong cùng ngõ Liên Trì, rẽ vào từ phố Trần Quốc Toản, gần hồ Hale (nay là Hồ Thuyền Quang). Ngày đó, tôi cứ tự hỏi, sao nhà bác mình ở chật thế? Sao bác trai của tôi lại phải đi tù? Sao trong nhà bác của mình chẳng có gì cả…? Khỏi mơ bác cho cái bánh hay cái kẹo, giống như khi đến những nhà người quen khác…

Tôi thoát ly từ lúc 16 tuổi, rồi 17 năm sau tôi mới dừng lại, không ‘lang thang’ nữa. Ơn Trời, từng ấy năm phiêu diêu, qua đủ những gian nan và khổ hạnh mà tạo hóa vẫn hay thử thách những kẻ lang bạt, kể cả trong những năm yên bình ở xứ người, và cả trong những năm đói rét của chiến tranh và bom đạn ở chiến trường, tôi đã không chết!

Khi cuộc sống ban cho sự thăng bằng, tôi dần xuất hiện khả năng nhận thức lại về những gì đã diễn ra trong quá khứ. Nhưng vẫn phải nhờ có cơ duyên, vì cho đến khi thành người lớn, tôi vẫn rất mơ hồ về nguồn gốc, về gia đình, họ hàng của mình. Tôi mơ hồ đến mức phải nói là xấu hổ về sự vô thức… Nhưng vì sao tôi lại lớn muộn như thế?!

Mọi người cho rằng, không nên phán xét người thân, đặc biệt là những người đã sinh ra mình, những người là bề trên của mình. Song với tôi, sự nhìn nhận một cách công bằng mọi việc, mọi người, mọi điều khúc mắc đều là chuyện không có gì xấu! Thậm chí tôi cho rằng nên làm, bởi lẽ, nếu không hiểu rõ những điều mình có liên quan, sẽ không có nhận thức đúng, và sẽ không ứng xử được đúng, và đương nhiên, sẽ chẳng giúp được cho bất cứ ai điều gì có ích!

Tôi dám nói, việc nhận thức mơ hồ về nguồn gốc, về những mối quan hệ khập khễnh trong nội tộc, lỗi là do các bậc sinh thành. Nhưng vì sao họ lại mắc phải cái lỗi đó? Do họ chủ quan hay do họ bị khách quan chi phối? Đây là một đề tài khá đồ xộ, phức tạp nhưng hấp dẫn đối với tôi!

Một thời gian dài, tôi mổ xẻ nguyên nhân này, và tôi đã tìm được nguyên cớ của một số sự việc cụ thể. Đây là những câu chuyện mang nhiều uẩn khúc. Có người tìm cách né tránh việc phải nó rõ sự thật, phần vì không hiểu được bản chất của vấn đề, nhưng cũng không ít trường hợp vì phải chịu những áp lực tâm lý vô hình chi phối, điều này đã ngăn cản việc nhận thức mọi việc một cách minh bạch.

Tôi muốn sống bằng lòng tự tôn, vì vậy cần hiểu rõ sự thật về những gì liên quan đến mình, và tôi tin, minh bạch sẽ giúp người ta sống thanh thản đến lúc chết!

Chứng kiến những bối cảnh bi thương trong gia tộc mình, tôi mặc cảm với lối sống ‘hiền lành’, dĩ hòa, trong khi một số người lại tâm đắc mà không biết rằng, như vậy sẽ dẫn đến sự ba phải. Đây là một lối sống đáng trách, vì đó là nguyên nhân đưa đến việc che dấu sự thật một cách vô tình, nuôi dưỡng sự vô cảm, dẫn các mối quan hệ trở nên hời hợt, xa lánh nhau. Nguy hiểm hơn, nó tiềm ẩn sự ngờ vực giữa mọi người, thậm chí ngầm oán thán lẫn nhau, làm tan rã sức mạnh tập thể khi cần tập trung để đối phó trước mọi sự áp chế?

Hiểu ra ngọn nguồn của những sự việc gây khúc mắc trong quan hệ nội tộc, tôi trở nên độ lượng hơn trong việc nhìn đời. Tôi bớt gay gắt, tránh đi sự cực đoan cả trong suy nghĩ lẫn hành động, và tôi tự tin lao vào những việc cần làm!

Rồi cũng có một ngày, tôi đã hiểu được vì sao một thời gian dài, cha tôi đã sợ cả việc nhắc đến ông nội tôi, cho dù ông tôi mất từ lúc cha tôi mới có 15 tuổi, nói gì đến chuyện bác Phổ của tôi phải đi tù. Đáng sợ nữa, ngày đó, ‘Họ’ còn gán cho bác tôi bảng hiệu: Tù chính trị!

Các con cụ Vĩnh thưở thiếu thời, ảnh chụp cùng cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh

Phải đến khi thành người đứng tuổi, chứng kiến nhiều cuộc tranh luận giữa cha tôi với chính các em trai mình, đặc biệt, việc ông viết hồi ký (1), tôi mới được biết đầy đủ, rằng trong 10 năm đi theo Việt Minh (1946-1956), ông đã có đến ba lần bị kết án tử hình!!!

Vẫn những câu hỏi vì sao, cả một cuộc đời nuôi 7 đứa con lớn lên (xin không dám nói lớn khôn, vì hai phạm trù này khác xa nhau) mà hầu như, ông đã không ‘dám’ kể cho chúng tôi nghe những sự việc đã gây ra những dấu tích nặng nề trong quá khứ của cá nhân ông và gia đình. Vì sao ông đã im lặng một thời gian dài đến mức khó hiểu? Vậy ông đã sợ hãi điều gì, trong khi ông là mẫu người thích đối thoại, thích giao lưu và rất nhiều lĩnh vực làm ông say mê.

Tôi là kẻ cũng có chút kinh nghiệm sống sau 17 năm lang thang như đã nói, tôi đã từng được đi rất xa từ lúc mới 16 tuổi, đi rất lâu và ở những môi trường khác biệt. Tôi cũng trải qua cảnh từng bị truy bức tinh thần, khi danh dự bị chà xát, nó sẽ dẫn đến những hậu quả gì?

Năm 30 tuổi, tôi đã từng bị triệu tập đột ngột lúc 20h00, và buộc phải dự một cuộc họp đột xuất cùng ban lãnh đạo đơn vị, được bắt đầu từ 21h00 cùng ngày. Cuộc họp diễn ra đến tận 04h45 sáng hôm sau. Nội dung họp, chỉ để ép tôi phải nhận ‘tội’, rằng đứng trong hàng ngũ lãnh đạo giai cấp công nhân, nhưng tác phong lối sống Tiểu Tư sản. Điều mà tôi không hề có ý thức gì, và cũng không liên quan đến cái họ quy kết chỉ vì tôi hút thuốc lá đắt tiền.

Tôi thấm thía, khi chịu sức ép tinh thần, gây tâm lý ám ảnh, nội tâm bị hành hạ, và những điều đó đều có thể dẫn đến trạng thái tâm lý: Thấy điều gì khác thường… cũng sợ. Khi hiểu ra nguyên lý này, tôi thương cha tôi nhiều lắm!

Khốn nạn (tôi thích từ này, ông nội tôi từng giải thích vì sao, khi dịch cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Victo Hugo Les Misérables Những kẻ khốn nạn, ông đã dùng từ ‘khốn nạn’ thay bằng từ ‘khốn khổ’. Ông nói, khốn nạn ở đây là khốn khổ khốn nạn, chứ không phải là khốn nạn mất dạy), tôi đã từng ngây ngô đến mức lầm lỗi vì không hiểu những gì liên quan đến mình trong cuộc đời này!

Phàm khi cơn bĩ cực qua đi, người ta nhìn lại quá khứ và chép miệng rằng: Chuyện ngày xưa ấy mà! Thậm chí còn cho rằng: Quá khứ giống như một trò đùa, và một cái chậc lưỡi là xong… Để rồi, cuộc đời lại cuốn họ theo nhịp sống hàng ngày, với những mong ước giản đơn, bé nhỏ.

Ngày ấy, đa phần chỉ mong cho có miếng ăn, có cái mặc, người ta không nghĩ rằng, việc phải cắt nghĩa cho con cái hiểu ngọn nghành những vướng mắc trong quá khứ, những nguyên nhân đã đẩy cuộc sống đến chỗ cơ cực, khuấy động sự bình yên trong một gia đình, một dòng họ là cần thiết. Trong khi, đó chính là trách nhiệm giáo dưỡng có tính linh hồn, đối với các con cháu của các bậc sinh thành!

Không ít người ái ngại khi phải nhìn lại những nỗi đau trong quá khứ, phần vì sự xót xa vì khi nhắc lại, họ nghẹn ngào, phần vì bị ám ảnh bởi những nỗi sợ hãi vô hình do những thế lực hữu hình tạo nên, lâu dần, nó biến thành sự ức chế khi muốn nhắc lại!

Cũng có những người trong cuộc, đã không đủ lòng tin ở người nghe, nên mang cái cảm giác ngại ngùng không muốn nói ra. Và cứ thế, năm tháng trôi đi cho đến khi mãn kiếp, còn sự thật cay đắng thì vẫn lơ lửng trên đầu hậu thế, gây sự hiểu lầm, dẫn đến xa cách, vỡ vụn, và đó chính là thành công mà những kẻ tàn nhẫn mong đợi.

Thật kinh hoàng để ta tìm và hiểu, rằng vì sao ngày đó lại sảy ra những chuyện như vậy? Bản chất của những sự việc đó là gì? Họ hành xử như thế với ta lúc đó để nhằm mục đích gì?

Một xã hội tiến bộ luôn đòi hỏi con người phải tìm cách giải thích được các câu hỏi: Vì sao?! Đạt được điều này, sẽ là cơ sở để giúp thế hệ kế cận hiểu được nguồn gốc của sự bất công, sự lừa dối, cùng những mưu đồ của sự xảo quyệt, sự tàn nhẫn… Khi người ta hiểu được đúng cái điều ‘vì sao’, người ta sẽ biết, đó là âm mưu của những kẻ ích kỷ, của sự tham lam độc ác, ý đồ của những kẻ cường quyền tìm cách bịt miệng nhân gian để trục lợi.

Hiểu được tất cả những điều đó, con người sẽ có được lòng tin, quyết tâm và ý chí để bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải và bảo vệ chính mình.

Các con cụ Vĩnh, ảnh chụp năm 1955 tại nhà riêng ở phố Nguyễn Gia Thiều

Cái kết xót xa

19h45 phút ngày 16 tháng 12 năm 1997 (Tức ngày 17/11 lịch Âm), bác Nguyễn Phổ của tôi trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng. Đúng vào thời khắc đó, tôi vô tình là người ngồi trước mặt bác, và chỉ trước đó 15 phút, bác vẫn còn nói với tôi: “Lân Bình đấy à?!”. Tôi trở thành nhân chứng cho sự vĩnh biệt của một kiếp người, và tôi đã tự hỏi: Hình như giữa bác và tôi có điều gì đó…?!

Tôi tiếc thương bác cũng như những người con cháu trong gia đình khi mất một người thân, nhưng tôi vẫn ‘ngu’ mãi cho đến ngày đưa tang bác trai của mình.

Đám tang

Tang lễ được tổ chức tại số 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội. Theo phân công, tôi đứng ở vị trí bàn đón và hướng dẫn khách đến viếng. Thông thường, nhóm người được mời vào viếng đầu tiên sẽ là gia đình tang quyến, lễ, bái vĩnh biệt người quá cố, tiếp theo sẽ là họ hàng, rồi đến khách thập phương.

Tôi đang cúi mặt xắp xếp giấy bút tại bàn đón khách viếng, đợi để gia đình, họ hàng lễ xong, sẽ chính thức mời khách vào viếng. Bỗng một giọng nói khô và đanh, đầy chất quân lệnh:“Anh xếp cho chúng tôi vào viếng đầu tiên nhé!”, tôi thoáng thấy khó chịu vì cảm giác bị áp đặt ập đến.

Vốn là kẻ đôi khi cũng ngông nghênh, những năm tôi ở quân ngũ, khi phải chứng kiến chất giọng như vừa gặp, thường là trong bối cảnh căng thẳng, dự báo cho những điều phiền lụy không đoán trước được. Tôi thoáng nghĩ đến việc phản ứng sự ‘áp đặt’ của đối tượng vừa nêu, tôi có lý, vì là đám tang do gia đình tổ chức. Trong bối cảnh đó, làm sao có chuyện ‘ra oai’ như vậy chứ?

Tôi vụt ngẩng mặt lên, thì ôi… ôi… một vòng hoa to cỡ quốc gia (nhiều năm là nhân viên cho cơ quan ngoại giao, tôi hiểu trong công tác lễ tân, thế nào là các quy chuẩn cấp Quốc gia), bên cạnh là bốn sỹ quan Quân đội trong tư thế nghiêm trang với vẻ mặt trịnh trọng. Tôi đọc nhanh dòng chữ trên băng tang vắt ngang vòng hoa ghi: “Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng kính viếng”.

Tôi bàng hoàng, bởi lẽ tôi đâu có khái niệm gì, rằng bác mình là ai? Ông đã từng làm gì? Lẽ gì mà Bộ Quốc phòng mang vòng hoa cỡ Quốc gia đến viếng? Là kẻ từng là lính, tôi thật sự xúc động, trân trọng, ngầm hiểu ra lý do của lời đề xuất có tính áp đặt vừa xong của người sỹ quan nọ.

Tôi đâu có biết, bác Nguyễn Phổ của tôi là người đã kết bạn với nhà tình báo nổi tiếng của Cách mạng Việt Nam Trần Quốc Hương (tức Mười Hương 1924-2020) từ năm 1945, rồi cũng chính ông Mười Hương đã dẫn dắt để bác tôi ra nhập đội quân tình báo của quân đội Nhân dân VN. Tôi cũng khồng hề biết, nhờ cái tài nghiệp vụ trong lĩnh vực ấn loát, bác là người đã khắc in ra ngàn vạn tờ truyền đơn cùng nhiều tài liệu quan trọng phục vụ cho công cuộc Cướp Chính quyền 8/1945.

Có lẽ sự ngây ngô, vô thức về người bác ruột của mình, chính là hậu quả của một quá trình dài tồn tại trong môi trường thiếu sự dạy giỗ, như tôi đã tâm sự ở trên… Còn việc vì sao người lớn trong nhà đã không ‘dám’ dạy bảo chúng tôi về những sự thật đó, bạn đọc tự suy ra được.

Buổi tang lễ diễn ra trong không khí nặng nề khi đến phần truy điệu. Cuộc sống cho tôi thấy, phần nghi lễ này ở Việt Nam lâu nay, đa phần đều mang tính hình thức, hầu hết đều na ná giống nhau về nội dung. Tôi đã đọc trên báo chí họ viết mỉa mai về chi tiết này như sau: “Để được nghe những lời tốt đẹp, để được ngợi ca không cần sự thật, bạn hãy nghe các bài điếu văn trong các buổi tang lễ!”.

Tôi thầm nghĩ, liệu đám tang của bác mình có giống như cái công thức mà người đời đang áp dụng không? Có phải đó là một lối sống tự dối mình không? Trong nhiều trường hợp, người ta lặp đi lặp lại những nội dung giống nhau khi nói về những người quá cố, cho dù họ đều có những quá khứ khác nhau. Còn những người dự tang, bất chấp việc biết rõ bản chất thật của thói quen này, nhưng không mấy ai dám than phiền hay thay đổi, hầu hết đều đồng ý nghe những lời tán tụng không hoàn toàn thật trong bối cảnh ấy. Đáng buồn hơn, nhiều người đã tự biện minh rằng: Thôi, đã có ‘Tổ chức’ lo!!!

Lễ tang ông Nguyễn Phổ

Thật hay vì tang lễ của bác Nguyễn Phổ đã không diễn ra như vậy. Đến giờ truy điệu, mọi người tề tựu đông chật cứng nhà tang lễ. Không khí trầm mặc, tôi nhận ra, sự yên lặng đặc biệt không như thông lệ. Sau này ngẫm lại, tôi hiểu, đó là sự yên tĩnh của bầu trời trước cơn bão.

Gia đình tang chủ kính cẩn mời một cụ già bước lên đọc điếu văn. Đám đông lập tức xuất hiện tiếng xì xào: Cụ ấy già quá, cụ ấy yếu lắm, sao lại để cụ đọc, sao không cử người trẻ hơn, có sức lực hơn một chút…? Có người còn nói: Cụ này năm nay 90 rồi, khổ cụ, vì cụ yếu lắm…

Để trấn an dư luận, chị Phương Mỹ, người con cả của bác Nguyễn Phổ đã khẽ phúc đáp: Thưa… Cụ nói với gia đình và Ban tổ chức lễ tang rằng: “Đọc điếu văn cho ông Phổ phải là tôi, không để ai khác đọc hết!”

Không gian càng trở nên tĩnh lặng, cụ già đứng trước micro, hắng giọng rồi đọc to và rõ ràng, thay vì sự lo lắng, suy diễn của mọi người, tất cả đã tỏ ra ngạc nhiên và chăm chú lắng nghe từng chữ.

Không khí như được nén lại, một vài người đã không giữ được sự kìm nén, bật ra những tiếng chậc lưỡi, xuýt xoa khi nghe người đọc điếu văn nhấn mạnh những chi tiết hệ trọng trong cuộc đời của người quá cố:

“Nguyễn Phổ, bằng tài năng nghiệp vụ hiếm có, là người đã trực tiếp chế tác và hoàn thành bản kẽm để in đồng tiền đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946… Ông đã hiến trọn tài năng và trí tuệ cho cuộc Cách mạng của dân tộc suốt 9 năm kháng chiến khi là tình báo quân đội, nằm ngay trong lòng địch giữa Hà Nội”.

Thế rồi… Giọng đọc của người mệnh danh là Nhà cách mạng lão thành ở tuổi 90 đó, đã hạ trầm hẳn xuống: “Ngày 29/9/1955 tại Hà Nội, ông Nguyễn Phổ đã bị bắt với tội danh: Làm gián điệp cho Đế quốc Mỹ… Và ông đã chịu tù 17 năm 1 tháng một cách oan trái…”

Không khí Nhà Tang lễ bỗng bùng lên, bắt chấp sự uy nghiêm thường phải có theo tập quán, và xuất hiện những tiếng sụt sùi, nấc nghẹn ở góc này, góc kia, nó lan ra tạo thành một thứ âm thanh cay đắng, càng kích thích cái nỗi niềm sâu lắng khi con người ta phải chứng kiến sự oan khuất, sự bất công. Sự thực, nhiều người thân với người quá cố vốn vẫn cất giữ những nỗi đau sâu thẳm trong tình cảm từ bao năm, lúc này mới có cơ hội để bộc lộ, họ làm sao có thể kìm nén được?!

Nhưng khi đọc đến đoạn cuối (điếu văn dài 4 trang), bỗng người già đó đã không còn bình tĩnh nữa, đặc biệt, với một người đã tròn tuổi 90, sức lực còn được bao nhiêu khi cụ còn nhiều hơn người quá cố đến 10 tuổi, và người đàn ông này, vào cái giây phút lắng đọng đó, đã dồn tất cả khí huyết còn lại của cái thân già, gương mặt ông đỏ lên, ông đọc to như gào, như hét trước micro trong sự thảng thốt của tất cả mọi người:

Anh Phổ ơi, sao xót thương quá cho một kiếp người đầy oan trái..!

Người đọc điếu văn đến đây trở nên run rảy, nước mắt cụ chan hòa cùng với tiếng nức nở… Có hai người đứng cạnh cụ vội giơ tay đỡ hai bên, rồi cả Nhà Tang lễ cùng đồng thanh òa lên khóc, tiếng khóc lan toả, âm vang cùng những giọt nước mắt cay nồng với vị chát của nỗi xót xa, của sự oan nghiệt, nó cứ thế tự do tuôn chảy mà chắc chắn, không có lực cản nào có thể ngăn nổi.

Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được chứng kiến tiếng khóc tập thể (Lần đầu là câu chuyện dài, khi tôi lên đường vào chiến trường B, xin được hẹn vào một dịp khác).

Lòng dạ tôi buồn tan hoang, cảm giác của một nỗi buồn không bến bờ, nỗi buồn cho sự ăn năn muộn màng (vì lúc đó, tôi đã gần năm chục tuổi đầu), mà lúc này mới được biết đầy đủ cái nỗi đau khủng khiếp của một người ruột thịt. Tôi thoáng trách những người thân của tôi, đã không dạy bảo mình đến nơi, đến chốn…

Đám tang kết thúc trong không khí u uất, nỗi thương đau không thể nói hết một lúc… Tiếng khóc của đám tang ông Nguyễn Phổ, cứ nghẹn trong tâm khảm những người chứng kiến, cái vị mặn của nước mắt vẫn đọng trên bờ môi của những người thân rất nhiều ngày sau buổi tiễn đưa vĩnh biệt người quá cố.

Sau đám tang hiếm hoi đó (chí ít là với cá nhân tôi), tôi mới được rõ, người già 90 tuổi đứng ra đọc điếu văn là ông Phạm Quang Chúc, là người anh ruột của bà Phạm Thị Cúc, vợ của Thủ tướng nước VNDCCH Phạm Văn Đồng (1906-2000). Ông Chúc biết và quý mến, nể phục Nguyễn Phổ phần vì ông Phổ là con trai học giả Nguyễn Văn Vĩnh, phần vì ông được chứng kiến những hoạt động vô cùng đáng giá, cùng những hy sinh của Nguyễn Phổ cả trong thời kỳ tạm chiếm và những năm bị tù đày sau 1954.

(Hết phần Một)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network