Thưa các quý vị độc giả!
Việc trải qua gần một thế kỷ luận bàn về con người và sự nghiệp của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh càng chứng minh sự đồ sộ của sự nghiệp mà ông để lại. Nói như nhà văn Nguyên Ngọc trong buổi lễ kỷ niệm nhân 125 năm ngày sinh của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức tại thủ đô Hà Nội năm 2007: “Nguyễn Văn Vĩnh như một quả núi mà chúng ta chỉ là những kẻ đứng dưới chân, khi ngước lên không khái niệm được chiều cao của quả núi, chỉ khi thời gian trôi đi, như khi chúng ta đứng ra xa, mới thấy trái núi Nguyễn Văn Vĩnh cao thế nào…”
Như BBT trang web Tannamtu đã giới thiệu, lần này chúng tôi xin tiếp tục chuyển đến các quý vị độc giả loạt bài ký sự của Nguyễn Văn Vĩnh viết về chùa Hương năm 1908, khi mà nước ta còn chưa có nghành phát hành báo chí, chứ chưa nói về các thể loại bài viết trong kỹ nghệ làm báo. Bài viết Hương Sơn ký sự đăng lần đầu bằng tiếng Pháp vì lúc đó cả vùng Bắc Kỳ chưa có tờ báo tiếng Việt nào cả.
Đánh giá bài viết này của Nguyễn Văn Vĩnh, BBT, chúng tôi xin trích đoạn ý kiến của tác giả Nguyễn Thành đăng trên báo Nhân Dân cuối tuần số 35, phát hành ngày 29/8/1999 như sau:
“… Có lẽ mọi người đều công nhận trí thông minh tuyệt vời hiếm có của ông, một người làm báo, viết báo, dịch văn xuôi và văn vần chữ Pháp ra chữ Việt và ngược lại thật tài tình. Cho đến bây giờ vẫn có một số bản dịch chưa có người nào dịch hay hơn ông và các dịch giả vẫn coi ông là bậc thầy. Có người nhìn ông chỉ là nhà dịch thuật, không phải là nhà văn. Tôi không tán thành. Tôi cho rằng, văn ông thể hiện qua văn báo chí, ký sự, phóng sự, tùy bút, tiểu luận và cả văn dịch thật hay. Bài Hương Sơn hành trình do tác giả viết bằng chữ Pháp đăng trên báo Notre journalnăm 1909, sau tự dịch ra chữ Việt, đăng trên Đông Dương tạp chí các số … là một bài ký rất hay, xưa nay chưa có bài thăm Hương Sơn nào viết hay như thế”.
Hương-sơn hành trình
(Une excursion à Hương tích)
Đông Dương tạp chí.số 41, ngày 26/2/1914
Năm 1909, tôi có đăng vào báo chữ tây “Notre Journal” của tôi in ra, một bài hành trình đi chùa Hương. Nay nhân độ đi chùa, thiên-hạ nô nức đi cầu phúc, mỗi ngày hàng nghìn hàng vạn con người; tôi đọc lại bài ấy thấy hãy còn hợp cảnh tượng nhiều, tưởng nên dịch ra quốc-văn mà đăng vào đây, để các khách đi chùa, xem cho tiêu-khiển và đối văn với cảnh, xem có chỗ nào ta cùng ngụ một ý, hoặc chỗ nào mắt tôi có trông sai, xin các ngài bỏ thêm hoặc chữa đi cho.
“Từ khi tôi còn nhỏ, chơi cuộc ú-tim thả-đỉa với mấy cô mấy cậu hàng xóm, có một cô bấy giờ độ tám tuổi, kể cho tôi nghe những chuyện kỳ cảnh lạ chùa Hương ta, nào những núi to, hang rộng, nào những áo cà-sa, nào những núi các Cô các Cậu, nào những đường lên Giời, đường xuống Âm-phủ, biết bao nhiêu là cái lạ mà các bà đi chùa kể lại cho con cháu nghe ngày xưa, từ khi ấy thì tôi vẫn mong mỏi được đi chùa Hương-tích.
Lúc đi học thì lại thấy thằng Phác ở phố Cầu-gỗ, anh em ta ai là chẳng nhớ, nó cứ đến cửa tràng mà: “ A B ếp, hàng đào đi đâu!” làm cho chúng ta cười nức nở. Thiên-hạ thường bảo đó là con cầu tự, thì mình lại càng nóng ruột muốn đi chùa xem các bà ấy cầu tự ra thế nào.
May sao, ước ao mãi cũng phải được. Năm ngoái, ngày tháng hai, hôm ấy mưa phùn mà rét, tôi mới đi xe lửa xuống Phủ-lý, hành trang chỉ có một cái va-lít bằng tre mua ở hiệu Quảng-hợp-ích, bấy giờ là một thứ hàng rất mới, thiên hạ nô nức mua dùng.
Xe lửa thì toa nào toa nấy chật ních. Cứ theo một thói yêu của tôi, thì tôi vứt mũ với sách lên trên cái gác-đô toa hạng ba, rồi chùm áo tơi cho kín, bước lần xuống toa hạng tư, đi kinh-lược suốt một lượt, chẳng ngại len lỏi vào những đám đông các vãi, ngồi sen nhau, có chỗ bà nọ ngồi lên bà kia, mà lẩm nhẩm những câu kinh-kệ.
Từ đầu đến cuối đều một tiếng dì dào, chỉ những truyện đức Phật-bà Quan-âm ngài vạn phép muôn linh, xưa nay đã hiển hiện ra bao nhiêu việc lạ.
Anh kia thì năm ngoái vào chùa ngỗ-nghịch trèo qua cửa chấn-song, ngài làm chết.
Bác nọ vào cầu ngài được con bội ơn không tạ, ngài lại bắt cậu về giời.
Nhà ông Mỗ, xuất tiền nhà ra tu-chỉnh lại cửa tam-quan, ngài phù hộ cho làm ăn khá bây giờ giàu to.
Có một đám những người khinh các truyện bà-già ấy, thì lại bàn với nhau những thơ ông án Chu, và những văn quan phủ Đình.
Tàu đến ga Phủ-lý.
Từ ga ra bến đò đường đi độ 50 bước, tôi đi ra đò, hai bên đường các vãi người bảo thế này kẻ nói thế kia. Một bà kêu:
Phúc đức chưa! Na-mô A di-đà Phật! thày kia ăn mặc theo quan tây mà lại chẳng quên đạo giáo của tổ-tiên, rồi ngài độ trì cho được phúc!
Một đám các me, có ông sư tráng-kiện chùa Hòa dẫn lễ, nhìn tôi với cái cách tỏ ra rằng giả đạo-đức với ai kia, chớ các me không mắc lận đâu!
Tôi mà-cả thuyền một đồng bạc nó chở vào Bến-đục.
Đường đò đi mất tám giờ mà phong cảnh cũng tầm thường, khí buồn. Người phải gập làm đôi, trui vào dưới mui thuyền, chịu ngồi so-ro nghe các lái hát đò đưa tiếng mũi, có một điệu hát hoài.
Thỉnh thoảng mẹ lái thuyền gọi cho xem mấy cảnh lạ, cũng khí hiếm.
Này hai bên quang gánh đức khổng-lồ, là hai hòn núi nhỏ trên có mấy đàn khỉ.
Ba giờ chiều thuyền ghé Bến-đục.
Đường đi mưa dẫm trơn như mỡ, khách đi chùa thường vồ ếch luôn.
Đổ bộ chừng một giờ lại đến bến đò Suối. Đến đây sơn thủy đã khí hữu-tình. Đó đây núi đã năm bẩy ngọn, người trung-châu đồng phẳng quen trông, mới ngó thấy cũng ngụ đôi ba chút ý. Mù tít đằng xa, trông thấy chùa Tuyết-sơn(1) mà tiếc thay không được đi đến.
Chiếc đò mỏng mảnh, ba tấm ván ken, đi một lát đến chùa Ngũ-nhạc, thờ Năm quan-tướng, giữ cửa nơi Phật-địa. Khách đi chùa đi tới đó, ghé lễ trình, khách nào lệ bên Tây vào nhà trước phải hỏi ông giữ-cửa.
Đò vừa ghé vào chân núi đá ( tục gọi núi Mâm-xôi con-gà, hoặc là núi Lồng-bàn) thì thấy đã tối giời. Trèo độ 20 bậc đá trơn, lên đứng nơi cao ngó xuống, thấy một vùng xung quanh cũng đẹp thay!
Đi theo một con đường nhỏ nhỏ, xếp tuyền bằng đá, thì vào tới chân một dặng núi nữa. Đó là chùa Ngoài ( chùa Yến-vĩ, tục thường gọi là chùa Trò). Trước có cửa Tam-quan, sư cụ khéo làm ra khách-sạn, lầu cao kính chớp, phòng ngủ chốn ăn. Khen thay người tu-hành mà khéo bày phương thực-dụng.
Thoạt mới vào qua cửa, có một điều hơi khó chịu. Tuy giời lạnh ngắt, gió bấc thấm xương; xung quanh khói hương thơm mù mịt, mà cũng chẳng lấp được mùi hôi lộn mửa. Nào ruột gà, nào vỏ chuối, nào đồ lễ bái còn thừa, đồng bào ta quen nết ở bẩn, vứt bậy ném bạ ra tứ phía. Kể đến ức triệu chân người tha dần những chất nhơ bẩn ở ngoài vào, trộn lộn với nhau, thành ra một vật vô-khá-danh, sông uế khí ra vang lừng trời đất.
(còn nữa)