Bối cảnh lịch sử
117 năm trước (1905), đất nước An Nam gồm ba phần là Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ, với các chế độ chính trị khác nhau, đồng thời tồn tại trong những môi trường văn hoá có sự khác biệt đến mức đáng kể, ảnh hưởng của truyền thống, và sự chi phối của xã hội Phong kiến, cộng với sự có mặt của người Pháp Thực dân.
Ngày ấy Việt Nam chưa có quốc tự (chữ viết chính thức – Quốc ngữ), vì vậy ở giai đoạn lịch sử này, ở Việt Nam chưa có NGHỀ BÁO!
Gương mặt chưa phải là nhà báo, nhưng đã dùng bút danh.
Từ một cậu bé 15 tuổi (1897), Nguyễn Văn Vĩnh đã ‘vô tình’ trở thành một phiên dịch, làm việc cho Toà sứ Lao Cay (cơ quan lãnh sự của Pháp). Sau đó, từ năm 1898 đến 1901, Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về Toà sứ Hải Phòng. Tính chất và hoạt động của Toà sứ Hải Phòng khác rất nhiều so với Toà sứ Lao Cay, bởi đây là trung tâm giao thương hàng hải của toàn bộ khu vực phía Bắc Việt Nam.
Để đáp ứng mọi yêu cầu của một cơ quan đại diện với các mối quan hệ quốc tế, Nguyễn Văn Vĩnh đã vừa làm vừa học thêm Hán văn và Anh văn một cách thành công. Để kho tri thức sớm trở thành vốn hiểu biết của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã xem và đọc hầu hết các loại ấn phẩm như sách, báo, tạp chí, bản tin in bằng các loại ngôn ngữ khác nhau có tại nơi làm việc.
Thông qua những những loại hình thông tin mà ông tiếp cận, điều đã giúp tạo ra một Nguyễn Văn Vĩnh có lối sống, nhãn quan xã hội, tinh thần, trí tuệ vượt ra khỏi giới hạn của truyền thống và tập quán. Mặt khác, nó đã lôi cuốn ông đến với các vấn đề xã hội, khoa học, chính trị, tư tưởng, kích thích ông cọ xát tư duy khi tiếp thu sự đa dạng của các học thuyết, các triết lý sống từ những ấn phẩm được đọc, và từ các gương mặt danh sĩ đương thời không chỉ có ở Việt Nam.
Sống trong môi trường giao lưu và thông tin phong phú, cộng với khả năng đọc hiểu, và sẵn bản tính cởi mở, cùng với lòng khát khao thay đổi, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị hấp dẫn bởi lối tư duy phản biện khi đối diện với các vấn đề gay cấn và hệ trọng trong cuộc sống hàng ngày. Lối sống này của ông đã bộc lộ bản chất, tính cách của mẫu người bộc trực, ưa thích tranh biện, mà không tính tới những diễn biến mặt trái của mọi vấn đề.
Qua những tâm sự của Nguyễn Văn Vĩnh được ghi chép dưới nhiều hình thức mà chúng tôi thu thập được, năm 1905 khi còn là thư ký cho Toà sứ Bắc Giang – Bắc Ninh, lần đầu tiên Nguyễn Văn Vĩnh đã dám viết bài bằng tiếng Pháp, phê phán một khía cạnh trong quan điểm về xã hội của một viên chức người Pháp, và ông đã gửi bài viết của mình cho một tờ công báo. Vị Thư ký (sous-éditeur) Toà soạn đọc xong bài viết, đã tỏ ra khó chịu vì nhìn thấy ở cuối bài ghi: Tân – Nam – Tử. Ông ta đã nói với Nguyễn Văn Vĩnh bằng chất giọng vừa tò mò vừa có tính lục vấn, vậy Tân Nam Tử là ai? Tại sao ông không ‘dám’ ghi tên của mình?
Nguyễn Văn Vĩnh cười mỉm, từ tốn nói lại với viên Thư ký Toà soạn rằng, vì ngài không biết tiếng An Nam, tôi viết Tân Nam Tử không có gì là bí mật, nếu suy từ tiếng An Nam ra, nghĩa của nó rất đơn giản là: Người Nam Mới, thưa ông! Tân là mới, Nam là An Nam, Tử là Người… Đây là cách nói của người An Nam chúng tôi theo âm Hán – Việt, tôi muốn làm một Người An Nam mới (fils de L’Annam nouveau),có thế thôi… Vả lại, tôi không có lý do gì để phải giấu diếm!

Trường đời
Vào lúc Nguyễn Văn Vĩnh 24 tuổi (1906), số phận đã may mắn cho ông cơ hội đặt chân đến nước Pháp trong chuyến đi tham dự Hội chợ Thuộc địa (Đấu xảo). Dấu ấn lớn nhất đối với Nguyễn Văn Vĩnh trong chuyến đi, là nó đã tạo ra cơn địa chấn tâm lý khi ông được chứng kiến tận mắt sự sôi động, cùng những giá trị nhỡn tiền của nền công nghiệp xuất bản và phát hành báo chí.
Trong những tâm sự của Nguyễn Văn Vĩnh viết gửi cho những người bạn tâm giao ngày đó, ông đã tỏ ra ấm ức khi nhận thấy người dân An Nam chưa có một loại chữ viết của mình, ông khẳng định: “Chữ Hán, chữ Pháp không kể…”, vậy để phát triển báo chí, ngành công nghiệp in ấn thì chúng ta sẽ phải dùng loại chữ nào?
Ngày ấy, Chính quyền Thực dân ở Nam kỳ đã từng ban hành những quyết định, yêu cầu mọi giao dịch hành chính bằng văn bản, phải dùng chữ quốc ngữ. Tuy nhiên nó cũng chỉ nằm trong phạm vi hẹp ở Sài Gòn – Gia Định, và đáng tiếc hơn, nó đã không được tổ chức theo hướng đại chúng, vả lại việc này là không thể áp đặt. Vì thế, đa phần người dân lao động An Nam đã tỏ ra bàng quang với việc cần có một thứ chữ viết phổ thông bởi lẽ, dân chúng chưa nhìn thấy sự hấp dẫn và ích lợi của việc biết chữ trong một xã hội mà truyền thông văn hoá là sự xa lạ.
Nguyễn Văn Vĩnh nuôi mộng lớn từ đây, mộng truyền bá và phổ cập loại chữ viết dùng ký tự La Tinh, thứ chữ mà theo hiểu biết của ông, đó là tiếng nói mẹ đẻ, nó lại dễ học nhất, ít tốn tiền nhất, người nghèo, người kém khả năng nhận biết, người không siêng năng cũng sẽ vẫn học được, khi ông so sánh với những trở ngại của việc học Hán văn hay Pháp văn.
Ông nhận ra rằng, báo chí là phương tiện chuyển tải hữu hiệu nhất để tổ chức cuộc vận động toàn dân học chữ quốc ngữ. Làm được việc này, chữ viết sẽ thực sự là cỗ xe chuyên chở kiến thức, giúp cải tạo một xã hội lạc hậu, bồi bổ tri thức cho một giống dân, miễn là đồng bào của ông có một loại chữ viết dễ học, được phiên âm từ tiếng nói mẹ đẻ, một thực tế mà ai cũng hiểu.
Chỉ có sáu tháng ở Pháp, nhưng với Nguyễn Văn Vĩnh từng đó thời gian là đủ để quan sát, học hỏi, tiếp thu và hiểu được những quy trình, quy phạm căn bản của ngành xuất bản và phát hành báo chí.
Trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh quyết tâm thực hiện mơ ước của mình trong việc gây dựng nghề làm báo. Ông ý thức rằng, để thuận lợi và có sự chủ động, việc đầu tiên, ông cần phải là một người tự do, không ràng buộc bởi những khuôn khổ và nghĩa vụ đối với bộ máy hành chính, nên tuy mới 25 tuổi (đầu năm 1907), Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định xin thôi việc ở Toà Đốc lý Hà Nội (cơ quan quản lý Thành Thăng Long), là nơi vừa vinh hoa vừa phú quý ngày ấy.
Định mệnh đã chọn Nguyễn Văn Vĩnh khi Jean-François-Henri Schneider (1851-1929) một chuyên gia về in ấn và xuất bản, là người Pháp gốc Đức, do đang thực hiện một hợp đồng kéo dài với Chính phủ Pháp về phát triển ngành in ở Đông Dương, và ông ta nghe nói đến những năng lực khác thường của Nguyễn Văn Vĩnh, ông đã quyết định mời (có tài liệu nói là rủ) Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ bút cho một tờ báo lần đầu tiên ra mắt ở Bắc kỳ in bằng chữ viết tiếng Việt – Quốc ngữ, mang tên Đăng Cổ Tùng Báo (Khêu đèn róng trống).
Đây là cơ hội ngàn vàng để Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện cái tham vọng vĩ đại của mình, khi ông là kẻ không có bất cứ thứ gì ngoài một bộ óc thông minh. Đành rằng, đây cũng là ý đồ có tính toán của Schneider, là kẻ vừa có quyền, vừa có tiền, và có cả chuyên môn, thì ông ta trở thành kẻ sáng lập cũng là điều dễ hiểu.
Ở đời không thiếu những mối nhân duyên nảy sinh từ hai phía đối lập lẫn nhau, giữa kẻ cai trị và kẻ bị trị, thậm chí giữa hai kẻ cựu thù, song điều quan trọng hơn hết, là mối lương duyên đó có mang đến lợi ích thiết thực cho các bên hay không, người đời có được hưởng những lợi ích thiết thực đó không?!
Bước đi đầu tiên
Ngày 28.3.1907, Đăng Cổ Tùng Báo chính thức ra mắt công chúng Bắc kỳ bằng cả Hán văn và Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách phần Quốc ngữ.
Vốn là kẻ giàu năng lực và trí tuệ, nhân danh Chủ bút, Nguyễn Văn Vĩnh đã có lời dẫn đầu tiên cho Bản báo mang đầu đề rất mộc mạc NHỜI GIAO HẸN với danh ghi TOÀ SOẠN. Cũng tại số báo này, ông đã đăng bài viết đầu tiên của mình với đầu đề TRƯỜNG KỸ NGHỆ HANOI, bàn về việc cần phải xem việc học nghề với người dân là cần thiết, chứ không thể để người dân cả nước chỉ chăm chăm tìm miếng ăn bằng việc bán lưng cho trời và bán mặt cho đất, bài báo có bút danh V.
Tuy là lần đầu tiên người dân chứng kiến một tờ báo, song nó đã mang đúng bản sắc của báo in có tính đại chúng ở miền Bắc Việt Nam, lại được in bằng chữ quốc ngữ, là một sự kiện hoàn toàn mới mẻ trước những người dân đang khao khát tiến bộ. Cũng từ đây, dân chúng đã thực sự có được khái niệm về thế nào thì được gọi là báo?!
Cho đến nay, chúng ta không thấy có ghi chép nào cho biết, rằng Đăng Cổ Tùng Báo có Ban Trị sự không? Có phóng viên, biên tập viên không? Có bộ máy quản lý hành chính như thông lệ sau này mà xã hội áp dụng không? Theo chủ quan, chúng tôi hiểu rằng, những câu hỏi trên đều được trả lời là: Không!
Chúng tôi đường đột kết luận như vậy bởi lẽ, qua nghiên cứu nội dung tờ báo, qua việc phân tích văn phong, ngữ pháp, cấu trúc các bài viết, và cách xưng danh với độc giả… Hầu như cơ bản, mọi chi tiết đều được thể hiện từ một người, và người đó chỉ có thể là Chủ bút mang tên Nguyễn Văn Vĩnh.

Ngay từ số báo đầu tiên, một bài viết hệ trọng khuyến khích người An Nam nên dùng loại chữ viết theo ký tự La Tinh, và đây được coi là chủ trương, là linh hồn của tờ báo, nó trùng với thời điểm diễn ra Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, bài viết có đầu đề: NGƯỜI AN NAM NÊN VIẾT CHỮ AN NAM và được tác giả ký tên ÁI MỘ.
Vẫn tại số báo này, người ta còn thấy một bài khác có cùng nội dung kêu gọi dân chúng học và dùng chữ quốc ngữ, kêu gọi đàn bà con gái hướng đến việc học hành, là điều xa lạ trong xã hội Việt Nam ngày ấy, bởi theo truyền thống, việc học vốn chỉ dành cho con trai, cho đàn ông, bài viết NÓI TRUYỆN HỌC TRÒ CON GÁI, được ghi với bút danh PHẠM CÔNG.
Bút danh PHẠM CÔNG này còn được lặp lại ở trang cuối của số báo đầu tiên trong mục VIỆC VẶT CÁC TỈNH, nay chúng ta gọi là mục TIN VẮN.
Sang số báo tiếp theo ra ngày 4.4.1907, với bài NHỜI TẠ NGƯỜI KHEN CHÊ, nội dung nêu sự phản hồi từ dư luận của công chúng về sự ra đời của tờ báo, ở bài này, tác giả đã ghi là TỰ TẠ – TOÀ SOẠN BÁO.
Phải đến số thứ ba của tờ báo, ngoài việc trên trang đầu vẫn đăng lại lời NHỜI GIAO HẸN, lần đầu tiên người đọc thấy xuất hiện bút danh Tân – Nam – Tử trong bài GÁI ĐẢM, nội dung vẫn xoay quanh việc vận động đàn bà con gái An Nam nên đi học, đặc biệt, trong lời chua ở cuối bài, thay vì nhắc lại tên tác giả Tân Nam Tử, bản báo đã ghi: T-N-T.
Như vậy, tính từ bài báo tiếng Pháp viết năm 1905 của Nguyễn Văn Vĩnh với bút danh Tân Nam Tử, người ta phải đợi đến Đăng Cổ Tùng Báo ra ngày 11.4.1907, bút danh này của ông mới chính thức trở thành bút hiệu.
Ngẫm về các bút danh được sử dụng như: V, ÁI MỘ, PHẠM CÔNG, TỰ TẠ… Chúng ta nhận ra việc cắt nghĩa các từ ngữ này so với ba từ Tân Nam Tử, đều mang cả nghĩa đen và nghĩa bóng sâu xa.
Bút danh Tân Nam Tử đã được Nguyễn Văn Vĩnh sử dụng suốt hơn 20 năm làm báo, đặc biệt trên các tờ báo in chữ Quốc ngữ do ông làm Chủ bút từ Đăng Cổ Tùng Báo 1907, đến Đông Dương Tạp Chí 1913, Trung Bắc Tân Văn 1915, Học báo 1919, người đọc cả nước dần trở nên quen thuộc với danh xưng Tân Nam Tử, và độc giả đều hiểu, rằng đó là Nguyễn Văn Vĩnh, người đầu tiên nói bằng lời, rằng muốn phấn đấu để trở thành Người Mới của đất nước An Nam nghèo khổ.
Chỉ đến khi Nguyễn Văn Vĩnh bị Nhà Cầm quyền cấm viết báo bằng chữ Quốc ngữ (1931), những bài báo ông viết bằng tiếng Pháp trên L’Annam Nouveau (Nước Nam Mới) mới được ghi rõ ràng là NGUYỄN VĂN VĨNH.

Dấu ấn
Vào thập niên 20 ở thế kỷ trước, sự đòi hỏi phải thay đổi xã hội, cải cách toàn diện một đất nước có quá nhiều sự bất công và lạc hậu, đã dần bộc lộ nhờ thông qua sự hình thành phương tiện truyền thông là báo chí. Làn sóng này thực sự đã trở nên rầm rộ, đặc biệt tại Nam kỳ, cho dù đó là nơi được tồn tại trong một thiết chế xã hội có phần phóng khoáng hơn, ‘tiến bộ’ hơn nhờ quy chế chính trị Thuộc địa, khác rất xa với Trung kỳ và Bắc kỳ là chế độ Phong kiến – Bảo hộ.
Nhu cầu đòi hỏi cải cách xã hội của Nam kỳ ngày đó, trở nên phù hợp với tinh thần và khuynh hướng cách mạng mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi, là xây dựng một nước Nam mới, vì vậy bút danh Tân Nam Tử càng trở nên gần gũi, thiết thực, biến thành biểu tượng trong tâm lý của giới tri thức cách mạng, đặc biệt với những đối tượng được hấp thụ nền tân học tiến bộ. Thực tế này bộc lộ sự thất bại của các phương thức cai trị mang tính pha trộn giữa Thực dân và Phong kiến của Nhà Cầm quyền. Rõ ràng, để đất nước An Nam được đổi thay và phát triển, cần nhiều hơn những Người Nam Mới!
Những năm qua, nhờ lòng hâm mộ và quý trọng học giả Nguyễn Văn Vĩnh của các bạn trẻ say mê khám phá, sưu tập sách báo lịch sử, với tấm lòng dâng hiến, các bạn đã gửi tặng cho BBT Tannamtu.com nhiều tài liệu quý về ông, liên quan đến ông, trong đó có cuốn sách của Nhà Xuất bản Xưa – Nay được in ở Sài Gòn năm 1925 với đầu đề “Dân đạo và dân quyền”. Lời giới thiệu có tính cảnh báo được in ngay trên trang bìa của cuốn sách là ‘Một giống dân không biết quyền lợi của mình là một giống dân không đáng sống’, trên đầu cuốn sách ghi Tân Nam Tử.
Nếu chỉ dựa vào những tình cảm mang tính sùng bái, do nhìn thấy cách đặt vấn đề thông qua lời dẫn có thái độ thẳng thắn đến mức hơi trần trụi, hao hao tính cách Nguyễn Văn Vĩnh, cộng với tên tác giả, có người lập tức nghĩ đến Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh!
Đây là một lĩnh vực nghiêm túc kèm với tính trách nhiệm trong việc nhận biết những cứ liệu lịch sử đối với bất kỳ ai. Đáng tiếc, là Chủ trang Tannamtu.com không đủ điều kiện và trình độ tra cứu để xác minh, nhất là khi nhận được ảnh bìa của cuốn sách trước khi được biết nội dung, xong vì căn bệnh sùng kính, đã ngộ nhận và vội vàng cho rằng, cuốn sách là của Nguyễn Văn Vĩnh.

Thật may mắn, vì từ Tokyo xa xôi, tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đăng, một người đặc biệt trân trọng học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một người dày dạn và cực kỳ cẩn trọng, mực thước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đã bỏ thời gian tìm hiểu và đi đến nhận định: Cuốn sách “Dân đạo và Dân quyền” không phải của học giả Nguyễn Văn Vĩnh!
Kết luận này của tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng đã giúp cho Tannamtu.com tránh được những điều tiếng không đáng có trước lịch sử.
Vẫn trong dòng chảy tìm hiểu về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, gần đây chúng tôi lại nhận được những tư liệu lịch sử có liên quan đến tác giả Tân Nam Tử, đã giúp chúng tôi hiểu, vì sao cuốn sách “Dân đạo và dân quyền” lại mang tên tác giả là Tân Nam Tử?
Xét từ góc nhìn biện chứng, chúng ta có thể hiểu, rằng ý nghĩa Người Nam Mới mà Nguyễn Văn Vĩnh gắn cho mình từ hơn một thế kỷ trước, không phải chỉ là ước nguyện của riêng ông, nó còn là biểu tượng của tất cả những ai yêu dân tộc, yêu tự do và yêu đất nước An Nam này, khi họ muốn tạo dựng một Nước Nam Mới đích thực.
Những tư liệu chúng tôi nhận được ghi ‘Tân Nam Tử’, là những lời kêu gọi của các nhà cách mạng, được in trên báo chí tại Sài Gòn và Hà Nội vào những năm 40 ở thế kỷ trước, khi mà Nguyễn Văn Vĩnh đã qua đời từ gần chục năm trước đó.
Việc kêu gọi dân chúng tham gia vũ trang, đánh đổ chế độ thực dân, điều này khác với khuynh hướng động viên cách mạng của Nguyễn Văn Vĩnh, người chịu ảnh hưởng của Phan Châu Trinh là nâng cao dân trí, trấn an dân khí, và có đủ nhận thức để đòi quyền con người, quyền tự chủ, từ đó phát triển cuộc sống dân sinh, mục đích nhằm tránh sự đổ máu của dân chúng. Xin trích đoạn tư liệu:
“Dân-quân chém giết quân-thù rất hăng. Cùng một lòng đoàn kết tiếp tục cuộc kháng-chiến…
Hỡi anh chị em Nam-Việt! Giờ phút nghiêm trọng đã sảy ra rồi….”
Tân Nam Tử

Trong những di cảo của Nguyễn Văn Vĩnh, có rất nhiều trao đổi, nhận xét thể hiện sự trân trọng và tin tưởng của ông đối với các đồng nghiệp phía Nam, vì vậy, khi nhìn lại những lời phúng điếu gửi đến đám tang Nguyễn Văn Vĩnh (1936), người ta thấy rõ những ảnh hưởng to lớn của bút danh Tân Nam Tử, cũng như tình cảm sâu nặng và lòng cảm phục sâu sắc của đồng bào Nam kỳ nói chung và giới báo chí nói riêng, đã được thể hiện và in trên các báo phát hành ở Sài Gòn ngày ấy.
Chúng tôi xin được nhắc lại đôi dòng về tấm lòng, những nhận xét chân tình, thể hiện lòng tin của đồng bào phía Nam trước hình ảnh của một Tân Nam Tử – Người Nam Mới, người đã để lại nhiều nỗi niềm cho dân chúng, và thực sự là niềm tin của một dân tộc khao khát sự tự do, sự tiến bộ cho tương lai của đất nước này.
Trích báo Sài Gòn tháng 5. 1936:
“Có người bảo: ‘Ngọc lành bị vết, tiên-sinh trong lúc thiên hạ khóc đã nỡ cười’, nhưng ta bảo ‘Đêm vắng người thưa, tiên-sinh trong lúc thiên-hạ mê, một mình tỉnh’. Một bức thư cứu mạng cụ Tây-Hồ (Phan Châu Trinh), khí-phách ấy ta làm gì tìm thấy được trong làng tân niên-thiếu; đập hũ rượu, ra công trong nghị-viện, tâm-trường ấy ta còn thấy phơi-bày giữa báo-chương, nào tiên-sinh có phụ gì đời đâu?
Huống chi đương đầu cùng thiên-hạ mà không một chút khuất-phục đến cho thân, đứng trước mặt lợi-danh mà vẫn giữ được cái bản-sắc người quân-tử. Thà tìm vàng ở chốn rừng xanh, không thà bới tiền ở những cái ân-huệ, tiên sinh vẫn là người đáng quý mà!”
Vậy là, sau bao cuộc bể dâu, với bao điều thị phi hàm hồ, những gì Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh để lại, mãi mãi là những tài sản quý trong kho tàng văn hoá, trí tuệ của người Việt ở thế kỷ 20.
Hôm nay
Tannamtu.com được giãi bày thêm một góc quá khứ về một con người, đã từng là sự ‘gai góc’ trong óc của những kẻ thiển cận với lối tư duy thiên kiến và ti tiện!
Chúng tôi tin rằng, nội dung này đã góp thêm vào việc làm rõ hơn nguồn gốc, ý nghĩa, vai trò của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong quá trình hình thành nền văn hoá báo chí ở Việt Nam trong thế kỷ 20.
Một lần nữa, chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn các quý vị và các bạn, những người đã quan tâm, góp ý, gửi tặng, cung cấp và chia sẻ những tư liệu quý giá liên quan đến học giả Nguyễn Văn Vĩnh!
Cảm ơn các quý vị và các bạn, những người đã luôn giữ hơi ấm với lòng trân trọng Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh, giúp chúng tôi ngày càng đi được xa hơn trong việc chứng minh một Người Công dân vĩ đại, đúng như sự vinh danh ông của những người cùng thời!
NGUYỄN LÂN BÌNH