GIÁO SƯ NGƯỜI MỸ ERIC HENRY với HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH

Hà Nội, ngày 12.8.2022

Tôi vừa được đọc bàiViệt Nam – những ngày trở lại của cựu chiến binh Eric Henrycủa tác giả Ngô Thế Vinh là một bác sỹ ở Mỹ, cảm xúc của tôi ngổn ngang khi nghĩ về thế thái nhân tình với những suy ngẫm, và cả một chút phiền muộn…

Nhân danh là người đã may mắn được quen biết với giáo sư Eric Henry ở một giai đoạn, đặc biệt lại thông qua một đề tài lịch sử của Việt Nam vốn luôn được gọi là nhạy cảm, nên tôi cũng có những nỗi niềm khi nhắc đến vị giáo sư tuyệt vời một cách đặc biệt này.

Giáo sư Eric Henry và Nguyễn Lân Bình trước đền Cửa Ông, Quảng Ninh năm 2008

Khởi nguồn

Năm 2005, trong một buổi cà phê sáng tại Cà phê Mô Ka (45 phố Bùi Thị Xuân – Hà Nội), tôi vô tình được biết, đạo diễn phim tài liệu Trần Văn Thuỷ bị tai nạn giao thông!

Là kẻ từng trải qua nhiều lần tai nạn kinh hoàng, tôi thấm thía cái nỗi đau về thân xác đã đành, nhưng nỗi đau tinh thần khi nằm trên giường bệnh còn khó đong đếm hơn nhiều, vì vậy tôi đã nảy ra ý định tìm đến bệnh viện nơi ông Trần Văn Thuỷ điều trị để thăm. Tôi tâm tư vì: ‘Vào những năm 80, mình đã từng được ‘ưu tiên’ xem bộ phim “Hà Nội trong mắt ai”, bộ phim là tác phẩm bị cấm, nên tôi chú ý tới những nội dung ghi ở cuối phim.

Khác các tác phẩm điện ảnh thường thấy, và hình như những người làm phim biết trước, phim sẽ không dễ vượt qua được sự kiểm duyệt, nên tôi không thấy sự cụ thể trong phần giới thiệu, thay vào đó, chỉ thấy ghi một loạt họ tên, và không cho biết, rằng ai là đạo diễn, ai là quay phim, ai làm về âm thanh, ánh sáng… Trong những dòng ghi đó, có tên: Trần Văn Thuỷ (hàng thứ ba). Về sau, nhắc đến bộ phim này, mọi người thường bảo nhau, ông ấy là đạo diễn!

Tôi ấn tượng về tinh thần đạo lý và tính tư tưởng của bộ phim, và tôi thấy vô lý của sự cấm đoán, trong lòng tôi xuất hiện sự nể phục ông Thuỷ từ đó, tôi tin ông ta là người tài. Giờ người mình ngưỡng mộ gặp rủi ro, việc đến thăm là điều nên làm, và đó là một sự phải đạo.

Tôi đã tìm đến nơi ông Thuỷ điều trị, và đây lý do tôi và ông quen nhau. Tôi tự cho rằng, mình đã làm một việc tử tế (lúc đó tôi chưa biết ông Thuỷ cũng làm một tác phẩm khác có tên “Chuyện Tử Tế”). Cho đến thời khắc được làm quen với đạo diễn Trần Văn Thuỷ, tôi tuyệt nhiên không hiểu bất cứ điều gì về ông, ngoài việc mang ấn tượng do được xem bộ phim ‘Hà Nội trong mắt ai’.

Nỗi lòng

Vào những năm tháng ấy, khi đã hơn năm chục tuổi đời, tôi mới bị dằn vặt bởi những cảm xúc hỗn độn, do hiểu ra bề rộng và chiều sâu về gia đình và gia tộc của mình, tôi lơ mơ nghĩ đến việc tìm cách ghi chép, sưu tầm những gì liên quan đến ông nội, đến các bác các chú của tôi. Tôi đọc nhiều tài liệu lịch sử xác nhận, ông nội tôi là người nổi tiếng, vì ông rất giỏi, ông là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).

Một lần, tôi vô tình nhận được lời khơi gợi của giáo sư sử học Nguyễn Huệ Chi trong một buổi gặp xã giao tại nhà riêng của ông. Hôm đó, sau những trao đổi giữa chúng tôi về cuốn tử điển “Việt Nam Văn học bộ mới”, giáo sư Huệ Chi hỏi thăm về những người là con đẻ của cụ Vĩnh hiện nay sống ra sao, còn lại những ai? Và ông bảo: “Cậu phải hỏi chuyện họ về ngày xưa, mà nên ghi âm lại, vì chỉ vài năm nữa thôi, khi các vị ấy ra đi hết, cậu có đến cả triệu Đô, cũng không làm được đâu!”. Tôi tâm đắc với sự lưu ý này của giáo sư Huệ Chi.

Tôi đã lần mò tìm phương án, tôi tưởng tượng việc, nếu đã có ý định ghi âm (audio) lời kể, thì tại sao mình không ghi hình (video)?! Bây giờ tôi nên tìm ai để học, để hỏi? Trong các diễn biến, bỗng xuất hiện mối quan hệ với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) do tôi được một người quen của Đài dẫn dắt.

Sau mấy tuần lễ ‘tâm sự’ với những người có chuyên môn, và có ý nguyện cùng tôi làm thành phim Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã từ chối tất cả, kể cả VTV, vì sự khác biệt căn bản giữa các điều kiện của tôi với các tiêu chuẩn do các đối tác dự kiến nêu ra.

Bỗng tôi bị kích động do bất bình, tôi nhận ra một vài khía cạnh không rành mạch trong nội dung các cuộc trao đổi, đáng chú ý nhất theo tôi, nếu làm phim về Nguyễn Văn Vĩnh, họ cần phải nhận ra cái bản chất cốt lõi của con người ông, điều sẽ là linh hồn cho tác phẩm.

Họ chỉ quan niệm rằng, Nguyễn Văn Vĩnh rất ‘nổi tiếng’… trong âm thầm. Ông là kẻ đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hoá, nhưng thể chế chính trị đã không có ý đả động đến, vậy nếu làm được thành phim, và phát trên sóng truyền hình Nhà nước, đó sẽ là lần đầu tiên, và nó sẽ tạo thành sức hút, nhất là họ dự định đặt tên phim là “Người Khổng Lồ”!

Tôi thấy nghiêm trọng hơn, và khác với suy nghĩ của tôi, là họ không xác định được đề tài mang mục đích đặc thù, đó là việc cần chứng minh cái vô lý, cái bất công trong lịch sử chính trị và văn hoá xã hội ở Việt Nam trong thế kỷ 20 đối với một nhân vật lịch sử… Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh lại là người ‘nổi tiếng’ trong âm thầm? Mặc dù họ (những người dự định hợp tác với tôi) đã đọc một số lượng tài liệu nhất định, khá cụ thể về Nguyễn Văn Vĩnh do tôi cung cấp.

Tôi rất hiểu cái môi trường tư tưởng và phạm vi tuyên truyền của Nhà Đài giới hạn ở đâu, phụ thuộc vào ai? Tôi cũng lơ mơ hiểu về những thủ thuật khác nhau để được phát hành một tác phẩm văn hoá có tính nhạy cảm, nhưng tôi không muốn bộ phim sẽ như một bài tính cộng đơn thuần. Tôi tỏ ra ngờ vực, đặc biệt khi thấy họ đã để lộ đôi ba ý định cá nhân mà tôi không tiện nhắc lại, và tôi nảy ra ý đồ, đã vậy mình sẽ tự làm!

Trong bệnh viện

Tôi nhớ rõ những tình tiết của buổi đầu tiên khi tôi xuất hiện tại phòng bệnh, nơi ông Thuỷ đang điều trị (Bệnh vện Xanh Pôn). Tôi nhìn thấy bàn chân phải của ông Thuỷ bị gãy dập nát, họ phải treo cái chân bị thương của ông lên, nhìn thấy rõ cái đinh kim loại sáng trắng, to như chiếc đũa đóng xiên ngang qua bàn chân… Tội nghiệp, tôi chứng kiến ông Thuỷ đau đớn lắm.

Vậy nhưng ông Thuỷ đã không dấu nổi sự ngạc nhiên đến mức trợn mắt lên, khi nghe tôi thưa với ông rằng, tôi tên là gì, và vì sao tôi tìm đến thăm ông?!

Ông Thuỷ nghe rõ tôi nói gì, ông đợi khi cơn đau có phần hạ bớt, ông đã nói thẳng với tôi trong cái âm giọng nén đau, nên tôi không quên được, vì tôi tin nó rất thật, ông bảo: “Vì sao chúng ta không hề quen biết nhau, mà chỉ vì lòng ngưỡng mộ, và vô tình biết tôi bị nạn, mà cậu lại quyết định đến thăm tôi… Liệu cậu có cần gì ở tôi không..?”

Tôi cười mỉm, suy luận, sự việc ông Thuỷ bị tai nạn hình như không đơn thuần là do kẻ gây ra tai nạn vô tình, có những dấu hiệu mà có lẽ, chỉ có cơ quan chuyên trách mới hiểu rõ được. Tôi đột ngột được biết điều này, vì trong lúc đi tìm nơi ông Thuỷ điều trị, tôi đã hỏi thăm một cô nhân viên mặc áo blu trắng, rằng ở tầng này (tầng 4) có bệnh nhân nào tên là như thế… người bị tai nạn như thế… có nằm ở khoa này không?

Hình như, cô nhân viên đang bị dồn nén trong tâm trí những thắc mắc gì đó, cô như muốn có người để chia sẻ những điều làm cô khó hiểu, về trường hợp mà tôi cũng đang quan tâm này. Cô như ‘vớ’ được tôi, và lập tức kể cho tôi nghe những điều cô ấn tượng về người mà tôi cũng đang tìm gặp. Tay cô chỉ số phòng nơi ông Thuỷ nằm, rồi cô nói một mạch, rằng anh ơi, vì sao nhiều người đến tìm ông này thế? Sao lại có cả Tây nữa anh ạ… Ông ấy là gì hả anh?

Tôi cũng ngạc nhiên về sự thắc mắc có tính tò mò này của cô. Song nhờ cái thái độ khác thường ấy của cô, tôi linh cảm ra điều gì đó có thể, xa xa, thường ẩn chứa đằng sau những vụ ‘tai nạn’ bất thường mà tôi cũng có chút kinh nghiệm… Tôi nghĩ, ông Thuỷ cảnh giác khi xuất hiện những bộ mặt lạ đến với mình là có lý!

Ở mặt khác, lối tư duy của ông Thuỷ khá phổ biến trong xã hội Việt Nam, nhất là với những người từng đứng ở vị trí được xã hội đề cao, trọng vọng, những vị thế được quyền quyết định những mong muốn của kẻ khác. Việt Nam, một xã hội nhìn đâu cũng thấy ‘xin’ và ‘cho’, cả cuộc đời thằng người làm gì cũng phải… ‘Xin’. Xét ra, câu hỏi ông Thuỷ đặt ra với tôi không phải là điều quá khó hiểu.

Tôi đã phúc đáp ông Thuỷ một cách lễ phép rằng, không, em không muốn gì cả!

Dấu ấn

Vào những năm đó, sau khi cha tôi mất (Nguyễn Dực – con trai thứ bẩy của học giả Nguyễn Văn Vĩnh), tôi được biết và làm quen với một số nhà nghiên cứu xã hội có danh, các bậc cha chú, các bạn làm báo, viết văn, họ đã động viên và hỗ trợ tôi về việc, cần phải giới thiệu rộng rãi cho công chúng biết và hiểu về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, bằng cách có các bài viết để đăng trên các báo khác nhau, và tôi đã làm tốt việc này.

Những bài viết về Nguyễn Văn Vĩnh, hoặc về những người con nổi tiếng của ông, đăng trên các báo giấy tôi đều mua. Tôi sao chụp các bài đó ra nhiều bản, và luôn để sẵn trong chiếc cặp đi làm, gặp người quen hay người quan tâm, tôi lại rút ra tặng, biếu họ.

Ngày đó, tôi biết đây là cách làm thủ công, thậm chí hơi ‘nhà quê’, song với tôi, đó cũng là khả năng duy nhất mà mình có, và tôi coi là động thái để đánh thức nhân tâm xã hội, vì người đời đã hiểu rất ít và hiểu sai về một gương mặt hiếm hoi trong lịch sử như Nguyễn Văn Vĩnh. Xa hơn nữa, đó cũng là cách để an ủi vong linh một người từng bị phán xử sai lạc, thậm chí có những khía cạnh từng bị xuyên tạc đến mức thô bỉ. Tôi tin, mỗi bài viết sẽ là một nén hương dành cho một người quá cố.

Sau đôi lần tâm sự, tôi nhận thấy đề tài Nguyễn Văn Vĩnh đã cuốn hút ông Thuỷ, bởi thời gian đầu, sau khi ông Thuỷ mới đọc đôi ba bài báo tôi biếu, ông đã bộc lộ với tôi, rằng ngày xưa mình cũng có nghe ‘loáng thoáng’ về cụ Vĩnh…

Rồi một hôm, tôi bộc bạch với ông Thuỷ về ý định sẽ làm phim về sự nghiệp của cụ, tôi cũng đã kể cho ông Thuỷ nghe, về một vài gương mặt mà tôi dự kiến và đang thương lượng sẽ hợp tác, để thực hiện mong muốn này.

Ông Thuỷ đã chủ động đặt vấn đề không đắn đo với tôi, sau khi được biết các diễn biến liên quan đến ý đồ làm phim của tôi, và rằng, ông muốn cùng được tham gia. Ông còn nhấn mạnh: “Bình nhờ ai cũng được, đó là quyền của Bình, tôi chỉ muốn được tham gia thôi… Kể cả việc không cần ghi tên tôi trong phim nếu làm”.

Những lần gặp tiếp theo, do được đọc nhiều hơn, ông Thuỷ không dấu được sự đam mê và nhanh chóng thần tượng Nguyễn Văn Vĩnh, đến mức ông đề nghị tôi cam kết, phải cho ông được tham dự, và không quan trọng là ông sẽ giữ vai trò gì với bộ phim!

Tôi đã suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều ở mọi khía cạnh trong các mối quan hệ để tìm người hợp tác, tôi cũng hình dung ra khá nhiều những bất cập về chính trị (ở xã hội Việt Nam, không có diễn biến nào trong cuộc sống tách biệt được với góc nhìn chính trị) khi hợp tác với đạo diễn Trần Văn Thuỷ!  

Cuối cùng, sau nhiều lần trao đổi, tôi đã quyết định mời ông Thuỷ tham gia, và nếu được, xin ông làm đạo diễn (Thực chất vào lúc đó, tôi không có khái niệm rõ lắm về thế nào là đạo diễn? Nhóm ‘Ekip’ làm phim là phải có những ai, bao nhiêu người?). Đặc biệt, là tôi nhận được cả sự ủng hộ chân thành và nồng nhiệt của phu nhân ông Thuỷ, là nhà quay phim Nguyễn Thị Hằng.

Ảnh chụp Nhóm làm phim tại nhà ga Lyon – Paris, chuẩn bị lên tàu TGV đi Montpellier và Aix en Provence năm 2006. Từ phải sang trái: Ông Nguyễn Khánh Hội, Chủ tich Hội Vietnam Memoire – Ký ức Việt Nam, đạo diễn Trần Văn Thuỷ, ông Trịnh Xuân Phú, hội viên Vietnam Memoire tại Paris, ông Roger Hùng, Giám đốc cơ quan bảo vệ quyền tự do của Chính phủ Pháp và quay phim chính Nguyễn Sỹ Bằng.
Phu nhân đạo diễn Trần Văn Thuỷ (Nguyễn Thị Hằng – bên trái)
và vợ ông Lân Bình ( Trịnh Thị Thảo – bên phải) cùng con gái chụp tại Hạ Long năm 2008.

Vô tình… Hay có ‘chủ ý’ của đấng Tạo hoá?!

Khi tôi thực sự quyết tâm lao vào việc chuẩn bị làm bộ phim về học giả Nguyễn Văn Vĩnh (lúc đó tôi chưa biết sẽ gọi là phim tài liệu, phim phóng sự hay gì đó…), bỗng một ngày ông Thuỷ cho biết, rằng ông có người bạn thân từ Mỹ sang, biết nhau đã từ nhiều năm, ông ta là giáo sư đại học rất giỏi, người Mỹ, tên là Henry. Cùng đi với ông Henry còn có một người bạn nữa. Ông Thuỷ kể rằng, ông đã tâm sự và ‘khoe’ với họ về mối quan hệ với tôi. Ông Thuỷ đã thích thú vì, ngạc nhiên khi thấy cả hai người bạn Mỹ, nói đến Nguyễn Văn Vĩnh họ đều rất thích, họ biết, bởi vậy hai ông có lời mời chúng ta một bữa ăn tối.

Tại buổi gặp gỡ lịch sử đó (với tôi), hai người bạn Mỹ đã tặng tôi cuốn sách “UnderstandingViet Nam – Hiểu về Việt Nam” in bằng tiếng Anh, của tác giả NEIL L. JAMIESON do Đại học Báo chí California xuất bản năm 1994. Người bạn cùng đi với giáo sư Eric Henry có tên là Diakov. Khi trao tặng tôi cuốn sách, ông Diakov đã nhấn mạnh: “Chúng tôi hiểu và ngưỡng mộ Nguyễn Văn Vĩnh nhờ đọc cuốn sách này!”. Ông Diakov còn đánh dấu hơn 30 trang trong cuốn sách, đoạn viết về Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Diakov xin lỗi tôi vì cuốn sách đã được mua ở phố Đinh Lễ, Hà Nội, là sách sao chụp, thay vì phải là sách gốc được mua ở Mỹ.

Cuốn sách Understanding Vietnam của tác giả Neil l .Jamieson

Tôi và ông Eric Henry

Tại buổi gặp gỡ lần đầu giữa tôi và giáo sư Eric Henry, ông nói tiếng Việt. Khi giãi bày việc vì sao ông nói được tiếng Việt, ông Henry tâm sự rằng, sau khi mãn quân dịch ở Việt Nam, trở về Mỹ, ông theo học đại học, khoa Đông phương và học tiếng Hán, nhưng rồi ông quyết định phải học lại tiếng Việt vì ông đã từng đến Việt Nam. Ông khẳng định với tôi, rằng tiếng Hán của ông tốt hơn tiếng Việt, và tôi thầm phục giáo sư Henry vô cùng…

Trong bữa ăn tối hôm đó, khi giáo sư Eric Henry biết tôi cũng đã từng đi lính, ông đã hỏi, vậy tôi có vào chiến trường miền Nam không? Năm nào và ở đâu? Tôi trả lời là năm 1972, ở phía Tây Quảng Bình, Quảng Trị. Giáo sư ồ lên và nói: “Tôi cũng đã ở mặt trận Quảng Trị, nhưng là năm 1971, thật may vì 72 anh mới vào, chứ nếu sớm hơn một chút, không biết khi chúng ta gặp nhau ở đó thì ai sẽ bắn ai…?”. Mọi người chúng tôi cười rung ghế. Phàm ở đời, khi con người rơi vào những bối cảnh éo le, và khi số phận giúp vượt qua được, lúc nhìn lại, người ta hay coi đó là chuyện vui, mà xét ra thì trường hợp của chúng tôi cũng đáng để vui thật!

Năm 2006, Nhóm làm phim về Nguyễn Văn Vĩnh của chúng tôi mải miết thực hiện những toan tính của mình. Bộ phim không có kịch bản (điều mà tôi đã trả lời ông Lưu Trọng Văn, sau khi ông ấy xem bộ phim tại nhà riêng của tôi và hỏi: Kịch bản phim của ai?). Việc tôi trả lời ông Lưu Trọng Văn sự thật này, đã làm cho ông Trần Văn Thuỷ bực đến mức mắng tôi là ngu … là dốt!

Thực tế, mọi trường đoạn trong tiến trình quay phim hoàn toàn phụ thuộc vào những gì tôi tưởng tượng và xắp đặt trong từng tuần lễ, đồng thời, còn phụ thuộc vào sự kết nối của tôi với các địa điểm, nhân vật cần quan tâm, và cả chuyện tôi chạy vạy tiền bạc được đến đâu…? Sự thật này đã làm cho những ai quan tâm đều không tin!!!

Ngôi nhà số 55 của gia đình ông Lân Bình xây năm 1992 tại quận Đống Đa, Hà Nội, lúc ông là Trưởng Đại diện hãng hàng không BALKAN – Bungaria tại Việt Nam. Khi thực hiện việc làm phim được quá nửa thời gian, để có được khoản tiền cần thiết đưa Nhóm làm phim sang Pháp quay, được sự đồng ý của vợ và các con, ông Bình đã đem thế chấp ngôi nhà tại ngân hàng lấy 400 triệu đồng. Năm 2008, người chú ruột của ông Lân Bình (con út của học giả Nguyễn Văn Vĩnh) do bán ngôi nhà riêng trên phố Quang Trung, Hà Nội và đã cấp cho ông Bình số tiền ông đã vay để trả lại ngân hàng và xoá nợ.

Hệ luỵ

Bộ phim ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’ hoàn thành một năm sau đó (2007). Làm được bộ phim đã có quá nhiều chuyện, nhưng tôi không hề thấy có áp lực gì. Vậy mà khi bộ phim ra đời rồi, mới sảy ra những điều buồn đến tê tái đối với tôi.

Ngày đó, khi tôi quyết định lao vào làm phim, đơn giản chỉ vì khi tôi xâu chuỗi những nỗi đau của cái gia đình lớn của mình, tôi nhận ra sự bất công, nhất là cái tên học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã bị lịch sử ‘hắt hủi’, bị các chính thể cố tình xa lánh… Vậy thì vì sao?

Không lẽ, một con người như Nguyễn Văn Vĩnh có cái tâm trong sáng như thế (lời của Phan Bội Châu 1867-1940), với tài năng đích thực như thế (lời của Phan Châu Trinh 1872-1926), với bao nhiêu cống hiến hiện hữu, giá trị lâu dài với lịch sử văn hoá như thế (lời của Nguyễn Văn Tố 1889-1947), lại làm cho các chế độ chính trị không ưa? Thậm chí có giai đoạn nhiều người ái ngại, sợ nhắc đến tên Nguyễn Văn Vĩnh!

Hình như quá khứ đau đớn của đất nước Việt Nam, đã làm cho đa phần lớp người hiểu Nguyễn Văn Vĩnh đều im lặng, hoặc khi nói ra, thì lập tức họ mang hệ lụỵ.

Hậu duệ của ông cũng không cưỡng lại được số phận chung của dân tộc mình, đó là sự ly tán, mà ly tán không chỉ về mặt địa lý, xót xa hơn, đó là sự ly tán về lòng người. Tôi muốn làm mọi việc để hàn gắn nỗi đau này, để con cháu của một người ‘công dân vĩ đại’ có quyền ngẩng mặt, và không việc gì họ phải ‘sợ’, kể cả đến hàng các cháu, chắt!

Bộ phim là cơ sở để họ hiểu đúng về một người ông đáng kính, hoàn toàn không như các luận điệu đã bôi nhọ ông trong quá khứ, và chắc chắn ở Việt Nam không tìm thấy người thứ hai. Tôi dám bất chấp việc ai đó có quan tâm hay không, có nhận ra sự thật này hay không, khi tôi dần dần có được trong tay hàng loạt những cứ liệu, bằng chứng của sự thật lịch sử!

Nhờ làm phim, tôi mới biết họ hàng nhà mình sinh sống ở những đâu, và họ là thế nào với mình? Vì sao họ đã phải ra đi khỏi Hà Nội, khỏi đất nước? Đặc biệt, với bộ phận cháu chắt không nói tiếng Việt, thì mục đích giữ gìn và chứng minh với hậu thế của tôi, về cội nguồn vẻ vang và đáng tự hào của một gia tộc, và để khích lệ lòng tự tôn, thì nhất thiết bộ phim phải được dịch sang cả tiếng Pháp và tiếng Anh.

Tôi nghĩ, không quan trọng việc khi nào họ sẽ xem, nhưng nếu người đi trước không làm, hay để lại những gì đó cụ thể về nguồn gốc, quá khứ, để người đi sau  có cái để xem, để hiểu khi họ muốn, thì đó là lỗi đáng tiếc. Tôi rất hiểu, không phải vô cớ các quốc gia trên thế giới đã bỏ ra bao nhiêu tiền của để duy trì, bảo tồn các di tích lịch sử và xây dựng các viện bảo tàng. Hơn thế nữa, chúng ta hãy tin rằng, ai cũng có lòng trắc ẩn, lòng tự tôn dân tộc.

Và, việc dịch phim là một khó khăn vô cùng lớn mà khi khởi sự, tôi đã không tính trước được, vậy nhưng tôi vẫn quyết tâm làm.

Duyên phận

Tôi tâm đắc với hai từ nhânduyên?! Tôi chứng kiến bao nhiêu sự đổ vỡ, sự hy sinh, mất mát của thằng người đôi khi chỉ vì những điều không may rất ngớ ngẩn trong cuộc sống, để rồi người đời nói, vì nó kém duyên. Còn khi con người ta gặp may, vượt qua được những giây phút mỏng manh của rủi ro và bất hạnh, thì họ sẽ bảo, đó là nhờ có nhân duyên! Tôi thấm thía câu nói của cổ nhân trước sự may rủi của thằng người, rằng: Nó may vì gặp được thầy, được thuốc…!

Bộ phim tài liệu ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’ cần phải được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh theo ý định của tôi. Tôi được rất nhiều người hiểu biết, ra tay chỉ dẫn các địa chỉ dịch tiếng Pháp tốt ở Hà Nội. Tôi lần mò đến tìm không biết bao nhiêu gương mặt ‘sáng danh’ về tiếng Pháp, mà hôm nay, nếu tôi có nhắc đến tên họ, chắc họ không thể không thấy áy náy (kể cả các vong hồn đó đang ở thế giới bên kia) vì những giai thoại chẳng dễ để nói ra khi tôi ‘cầu xin’ họ dịch.

Tôi đã nhiều lần tự nhận trước thiên hạ, rằng tôi là đứa ít học, nhưng ơn Giời, tôi cảm nhận được thế nào là sự tin cậy, hoặc có thực đáng tin hay không?! Để dịch được bộ phim sang tiếng Pháp, tôi đã phải trả đến ba lần tiền, nhưng quan trọng hơn đồng tiền, là tôi đã… Hoàn thành! Còn như giá trị của nó sẽ đến được tới đâu, thì đó lại là một câu chuyện dài.

Một cảnh trong bộ phim tài liệu đã được phụ đề bằng tiếng Pháp
và đã được trình chiếu tại Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace ở Hà Nội năm 2009.

Cũng trong khoảng thời gian đó, bỗng một ngày, giáo sư Eric Henry lại có mặt ở Hà Nội. Vẫn thông qua ông Trần Văn Thuỷ, lần ấy, tôi lại được trò chuyện với giáo sư. Ông Henry chúc mừng chúng tôi vì đã hoàn thành bộ phim. Chúng tôi xin mời ông xem phim, nhưng ông nói: “Tốt nhất là anh cứ để tôi tự thu xếp, xem xong tôi sẽ trao đổi với các anh”.

Ba ngày sau khi tôi trao cho ông bộ phim, chúng tôi lại gặp nhau. Giáo sư Henry nhìn thẳng mắt tôi và nói câu đầu tiên một cách chậm rãi: “Tôi đã xem ba lần liền bộ phim này, tôi xem suốt đêm một cách chăm chú…”

Nhận xét của giáo sư bao gồm những vấn đề như bố cục, tư liệu, các cảnh quay, lời thoại và nhạc nền, ông còn có những trao đổi sâu về giá trị mà bộ phim hàm chứa. Ông Eric Henry đã không ngần ngại nêu những suy nghĩ sâu sắc, và cả những mong muốn trong sâu thẳm của mình về một tương lai đối với bộ phim. Tôi nghe ông nói trong tâm trạng của sự hạnh phúc và cảm thấy lạc quan gần như bất tận…

Tôi trình bày với ông nguyện vọng dịch bộ phim sang tiếng Anh, giáo sư Eric Henry đã không ngần ngại nói luôn: “Tôi nhận sẽ làm công việc này. Tôi tin vào vốn tiếng Việt của mình, tôi đang dịch hồi ký của nhạc sỹ Phạm Duy mà, có nhiều chuyện hay lắm, mà hình như chỉ có ông Phạm Duy là dám viết lại tất cả, cả những chuyện riêng tư mà người khác khó tưởng tượng được”.

Giáo sư cũng cho biết: “Tôi còn muốn viết một cuốn sách bàn về các ca từ trong các ca khúc của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nữa, nó hay lắm, đầy tính triết lý và có nhiều điều để suy ngẫm”.

Thời khắc của buổi nói chuyện đã làm tôi khắc cốt ghi xương về những cảm xúc khi được nghe những lời giãi bày của giáo sư, bởi đó là những bài học đắt giá dành cho một kẻ sống bản năng như tôi, một kẻ ngoại đạo như tôi.

Khi chia tay, giáo sư Henry còn dặn tôi cách thức chuyển lời thoại của bộ phim đến cho ông như thế nào cho dễ đọc. Ông còn lưu ý tôi, những đoạn văn dịch từ tiếng Pháp sang dùng trong phim, nên gửi cho ông cả nguyên văn tiếng Pháp.

Tôi đã thầm sung sướng, hãnh diện. Hãnh diện vì những trình bày về Nguyễn Văn Vĩnh qua bộ phim, chí ít đã làm cho một vị giáo sư đại học ở Mỹ rung động, hiểu vai trò lịch sử đặc sắc của một nhân vật hiếm hoi trong tiến trình hình thành nền văn hoá hiện đại ở Việt Nam. Những nhận xét sâu sắc của giáo sư đã giúp tôi, kẻ xây dựng đề tài nhận ra những giới hạn trong nhận thức của mình. Tôi cũng nhận thấy, rằng mình đã thực hiện một việc quá lớn mà chỉ dựa vào bản năng, bằng một thứ ma lực vô hình…

Khi từ biệt giáo sư Eric Henry, tôi đã xin phép được thưa với ông về dự kiến kinh phí cho việc dịch bộ phim, tôi muốn được gửi ông đầy đủ như thông lệ. Giáo sư nói với tôi nhẹ nhàng như người thân: “Không, anh không phải thanh toán gì với tôi cả, cứ yên tâm nhé. Tôi dịch đến đâu, tôi sẽ chuyển cho anh tới đó, mà tôi sẽ viết thành hai màu mực để các anh dễ sử dụng”.

Tôi chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ tấm lòng của ông, vì ông không chỉ là người thày của ai đó, ông còn là người thày của tôi và là ân nhân của tôi.

Ông Eric Henry tại buổi giao lưu với nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Thị Minh Thái, giảng viên của Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, và nhà báo Yên Ba của báo Quân đội Nhân dân, với sự có mặt của ông Trần Văn Thuỷ tại nhà riêng ông Nguyễn Lân Bình năm 2008.

Năm 2008, ông lại có mặt ở Việt Nam cùng vợ. Nhân dịp này, tôi bàn với gia đình, rằng chúng ta sẽ mời ông bà Eric Henry đi chơi Vịnh Hạ Long như một sự hàm ơn. Khi tôi ngỏ ý mời vợ chồng ông đi Hạ Long ba ngày, ông nói với tôi rất giản dị: “Hay lắm, tôi thì đã được đến Vịnh Hạ Long rồi, hai lần rồi, nhưng còn vợ tôi thì chưa đi lần nào, bà ấy chưa biết vịnh Hạ Long”.

Vì ý nghĩa của chuyến đi, gia đình tôi đã xin mời cả vợ chồng ông Trần Văn Thuỷ cùng dự. Ngoài ra, để có người trò chuyện tiếng Anh, tôi mời thêm một người quen, một người rất kính trọng và yêu quý học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông là anh ruột một người bạn thân, là Việt kiều Mỹ, giáo sư Lê Ngọc Ly (Lý) lúc đó đang ở Việt Nam thăm gia đình. Giáo sư Lê Ngọc Ly, người mà báo Tiền Phong ở Việt Nam đã ca ngợi: “Là người đã viết tên vào bản đồ khoa học thế giới tên một giáo sư Việt Nam, vì ông có tên trong NASA”.

Ảnh trong chuyến đi Hạ Long, ảnh chụp phía sau ngôi đền Cửa Ông (Từ trái sang phải: Giáo sư Lê Ngọc Ly, phu nhân giáo sư Eric Henry, đạo diễn Trần Văn Thuỷ, phu nhân ông Trần Văn Thuỷ (Nguyễn Thị Hằng), giáo sư Eric Henry, phu nhân ông Lân Bình (bà Thảo) và ông Nguyễn Lân Bình).
Vợ chồng giáo sư Eric Henry cùng vợ chồng ô Bình và giáo sư Lê Ngọc Ly chụp tại phía trước đền Cửa Ông, nơi nhìn ra vịnh Bái Tử Long. Chụp năm 2008.

Nỗi niềm

Bộ phim ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’ ra đời, thu hút được sự quan tâm của dư luận ở Việt Nam và một vài quốc gia khác. Nhìn từ góc độ nghề nghiệp, bộ phim đã làm nảy sinh một mảng dư luận, nhất là với một số người làm nghề điện ảnh. Ngoài sự ngạc nhiên có ý khâm phục vì thấy bộ phim là phim lịch sử, lại do cá nhân thực hiện, nhưng còn có cả sự hờn dỗi, thậm chí giận dữ của đôi ba gương mặt, vì đã ‘trượt’ ra khỏi mối quan hệ với một đề tài lớn. Tôi đã buồn, kèm cả sự bất bình vì sự thiếu thấu đáo trong suy xét của họ!

Đáng buồn nhất, là có người trong số họ, đã chỉ quan tâm đến giá thành của bộ phim, họ không bận lòng đến mục đích, nội dung và ý nghĩa của tác phẩm!

Còn với tôi, về căn bản ở góc hẹp, bộ phim đã trở thành sự kiện, tạo sự kết nối đối với hậu duệ trong gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh, và đó là một thắng lợi. Bộ phim cũng đã trở thành lý do để đôi ba người tìm đến nhau vì những nghi ngại, do chưa hiểu được đầy đủ những chi tiết phức tạp liên quan đến quá trình làm phim.

Tôi biết, đây là sự tác động có chủ ý của những hồn ma, bóng quỷ, lợi dụng những khác biệt về nhận thức, góc nhìn mà vì xa cách hơn nửa thế kỷ, từ cả nửa vòng trái đất của các thành viên trong gia tộc tạo nên. Những góc nhìn không lành mạnh về cá nhân tôi, lợi dụng sự đơn giản trong lối sống của tôi, không phải chỉ để hạ thấp danh dự cá nhân, tệ hại hơn là để ngăn cản ảnh hưởng của đề tài.

Giá trị lớn nhất của bộ phim đối với tôi, là sự hài lòng và thái độ viên mãn của các chú, các bác, những người con đẻ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (bao gồm cả các vong hồn của những người đã mất).

Tôi tự cho rằng mình đã thành công, vì gần một thế kỷ qua, các chế độ chính trị đã không chấp nhận việc nhìn nhận danh phận của học giả Nguyễn Văn Vĩnh một cách danh chính, một cách sòng phẳng, thì nay tôi đã đưa được vấn đề ra trước ánh sáng thanh thiên bạch nhật.

Thử hỏi, đã khi nào, đã có ai đó, hoặc tổ chức nào đó thực hiện việc đánh giá toàn diện cái được và cái không được ở con người Nguyễn Văn Vĩnh từ góc nhìn lịch sử chưa? Với một nhân vật đã giữ vai trò, ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến quá trình hình thành nền văn học chữ Quốc ngữ, thứ đã trở thành hồn cốt của một dân tộc, thứ đã tạo nên nhân cách của một giống nòi, mà họ vẫn cố tình như không biết gì sao? Có phải sự lặng thinh này đã đẩy hậu thế đến chỗ ngày hôm nay, một Uỷ viên Bộ Chính trị của Đảng cầm quyền, đã phải hô hào ngành giáo dục Việt Nam:  ‘Dạy các cháu trung thực các đồng chí à’ (VNN 25/8/2022)*

Tôi chứng kiến, hầu hết các gương mặt có danh trong xã hội Việt Nam, khi nhắc đến Nguyễn Văn Vĩnh, họ đều không dấu được sự bùi ngùi và xót xa, thậm chí có không ít các vị nhân danh là Nhà Khoa học còn dám nhận, rằng mình đã sai trong quá khứ khi từng giảng dạy cho học sinh những quan điểm không đúng về Nguyễn Văn Vĩnh!

Đành rằng sự minh bạch với lịch sử là điều những người cầm quyền tránh né trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, song danh dự của một người có công với nước, lớn đến mức, hầu hết các gương mặt chính danh của tất cả các thể chế cầm quyền ở Việt Nam trong thế kỷ 20, đều nể trọng và nói những điều đắt giá về ông.

Bộ phim ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’ đã đặt được câu hỏi: Một con người có thật, với một quá khứ lịch sử rõ rành rành như thế, vậy tại sao bây giờ chúng tôi mới được biết? Câu hỏi này đã toát ra từ rất nhiều người xem phim, từ những nhà khoa học tóc bạc phơ, kính dày cộp, cho đến lớp trẻ là sinh viên và học sinh ở cả hai miền Nam, Bắc!

Vậy mà, đã có một đạo diễn điện ảnh có tên là Nguyễn Thước, đã mỉa mai mục đích của những người làm phim cá nhân, phim gia đình, rằng đó là một “cuộc chơi xa xỉ” (VNN-TuanVietnam, thứ Sáu 17/11/2008).

Đọc ý kiến này, tôi đã muốn thưa ngay với công luận cái giá thành sơ toán lúc đó của bộ phim, để vị đạo diễn đó và những ai muốn biết, số tiền mà tôi đã trịnh trọng thông báo bằng văn bản trong nội bộ gia tộc họ Nguyễn, không phải để khoe vì nó rẻ hơn rất nhiều nếu đem so sánh với các sản phẩm tương tự dùng ngân sách Nhà nước (tôi có chứng cứ).

Tôi có bổn phận phải rành mạch với mọi thành viên là hậu duệ trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đặc biệt là vấn đề tài chính, vì để hoàn thành bộ phim, nó bao gồm cả những đóng góp của nhiều thành viên trong gia đình lớn của chúng tôi, và đó cũng là quyền lợi tâm linh của họ, đồng thời để họ có quyền tự hào, rằng ở đời, đừng nghĩ cứ có nhiều tiền sẽ làm được điều mình muốn!

Muốn làm được điều mình tâm nguyện, cái cần có là: Tấm lòng, là lòng tự tôn!

Tôi luôn có một cảm giác chua chát trước thực tế, rằng nhân loại dễ bị chi phối bởi tâm lý sùng bái. Một kẻ có danh, rồi nổi danh, rồi vang danh thường coi đó là cơ sở để chi phối và lạm dụng dư luận, bất chấp việc một ngày nào đó, người đời nhận ra sự giả tạo của bộ mặt thật ấy vốn đã có từ ngày kẻ đó mới lớn.

Một người bình thường, làm được những điều khác lạ, có ích, không hẳn kẻ đó sẽ được trân trọng, mà thay vào đó lại là sự nghi ngại, thậm chí thấp thoáng cả sự dèm pha, cơ hội cho những kẻ đố kỵ, nô lệ của chủ nghĩa sùng bái khi lập luận: Nó làm gì có chuyên môn, bằng cấp! Nó cũng không phải là ông nọ bà kia, quan tâm hay ủng hộ nó, mình được gì…?! Một lối tư duy thiển cận đến mức vô đạo, sản phẩm của lối sống thực dụng ở một kỷ nguyên vật chất và danh lợi là trên hết.

Năm 2008, khi giáo sư Eric Henry còn đang đi Trung Quốc, chuẩn bị sang lại Việt Nam, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức mời chiếu bộ phim ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’ cho cán bộ và sinh viên Khoa Báo chí xem, tôi đã mạnh dạn viết thư hỏi ý kiến giáo sư Henry, liệu ông sẽ có thể tham dự buổi giao lưu với sinh viên sau buổi chiếu phim được không? Nếu ông đồng ý, tôi sẽ xin đề nghị Nhà trường viết giấy mời ông tới dự…

Tôi đã nghĩ quá đơn giản, rằng ông là người rất giỏi, am hiểu văn hoá Việt Nam, là người đã dịch bộ phim về Nguyễn Văn Vĩnh sang tiếng Anh, và tôi hãnh diện vì là người quen với giáo sư… Đáng tiếc vì cách nhìn vấn đề của tôi quá ngây thơ.

Giảng viên và sinh viên Khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong buổi xem phim tài liệu lịch sử ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại ‘ được tổ chức tại trường.

Sau này, liên hệ giữa tôi với giáo sư Eric Henry bị gián đoạn, mặc dù có lần, tôi đã chân thành, tìm cách giãi bày với giáo sư qua email, những mong giữ lại sự ấm áp mà ông đã dành cho đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi có lòng tin rằng, những con người uyên bác, thường giàu lòng nhân ái, những kẻ giàu kiến thức và vốn sống phong phú, hiểu rõ về thế thái nhân tình, sẽ không bao giờ bỏ qua những điều trong đời đã đem đến cho họ sự ngưỡng mộ, sự thiện cảm, và kèm theo cả sự dâng hiến.

Tôi là kẻ tôn thờ việc, Thà đi tìm kiếm sự thật suốt một đêm, còn hơn phải nghi ngờ nó suốt một đời, và tôi đã nhìn ra đôi ba điều đáng tiếc.

Kết

Chặng đường phục dựng chân dung thực của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã giúp tôi phân biệt được đâu là những người thật lòng với tinh thần văn hoá, trân trọng tài đức, và đâu là những gương mặt chỉ mang danh Nhà này, Nhà kia… những mẫu người thành danh nhờ có cái ‘phẩm chất’ của tính cơ hội.

Đã có những kẻ, vì vô tình hay hữu ý, đã trở thành tội đồ trước sự thật. Và sự thật đó đã biến thành những món nợ đời, món nợ về lòng trung thực đối với quá khứ của một hiền nhân, của một đất nước. Tôi dám nói như vậy, bởi rất nhiều danh nhân nước Việt ở thế kỷ 20 đã từng khẳng định: Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ là của gia tộc họ Nguyễn, mà ông còn là của dân tộc Việt Nam!

Chắc chắn, ngày mai, ngày kia, lịch sử và nhân loại sẽ biết rõ về Nguyễn Văn Vĩnh nhờ thông qua những con người có lòng nhân ái, lòng cao thượng và sự hiểu biết rộng lớn như vị giáo sư người Mỹ Eric Henry, người đã tham dự vào cuộc gột rửa những lớp bụi thời gian phủ dày lên nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh!

Tôi và hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, cùng những người trân trọng tài năng và trí tuệ con người, mãi biết ơn ông, giáo sư Eric Henry!

Chúng tôi mãi biết ơn những người có tấm lòng với văn hoá nguồn cội, với lòng tự tôn dân tộc, tôn trọng sự công bằng, đã dành nhiều thiện cảm và sự cổ vũ trước đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong suốt nhiều năm qua!

Vợ chồng giáo sư Eric Henry bên bàn thờ gia tộc tại nhà riêng ông Nguyễn Lân Bình. 2008

NGUYỄN LÂN BÌNH

2 Responses

  1. Cảm ơn Anh!

    Xin trân trọng giới thiệu một bài nữa về Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn hoá, nhà phát triển chữ Quốc Ngữ, nhà yêu nước Việt Nam. Nội dung bài nói về những nỗ lực, khó khăn, gian khổ, sự hiểu lầm, tình bạn, lòng tự hào…mối tương tác tuyệt vời với những người bạn lớn như đạo diễn Trần Ngọc Thuỷ, Tác giả, đạo diễn nổi tiếng của bộ phim tiền phong “Chuyện Tử Tế”, giáo sư đại học người Mỹ Eric Henry, một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng chiến đấu tại Việt Nam, và những nhà văn hoá, trí thức khác của Việt Nam, những người đã nhận ra giá trị thực sự về Nguyễn Văn Vĩnh vốn đã bị chôn vùi trong gần một thế kỷ qua!

    Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ lại được tuyên dương nay mai cùng với những nhân vật lịch sử cùng thời với ông khi cái mụ phù thủy trong câu chuyện thành phố hoá đá không còn nữa! Cuốn phim anh đã làm sẽ là một tài liệu quý giá cho tất cả mọi thư viện, trường Trung Đại Học trên toàn thế giới khi nghiên cứu về sự phát triển của ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam!

    Tokyo một ngày cuối Hạ 2022

  2. Kính gửi Anh Bình:

    Rất cảm ơn Anh gửi bài viết này cho tôi thưởng thức. Tôi sẽ đọc kỹ, và nếu có phản ứng gì sẽ chia sẽ với Anh.

    Nhân dịp này, tôi cũng muốn cho Anh biết là tôi có hứng thú về khá nhiều bài viết khác có giá trị của Anh mà tôi đã thấy trên website , như “Nhật Báo,” “Ăn Mày,” “Làm Biếng,” “Trần Trọng Kim,” “Doumer,” vân vân.

    Trân trọng,
    Eric Henry

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network