NGUYỄN VĂN VĨNH NÉ LỆNH CẤM VIẾT CHỮ QUỐC NGỮ NĂM 1930 NHƯ THẾ NÀO?!

(Loạt bài đăng nhân ngày sinh lần thứ 140 của học giả Nguyễn Văn Vĩnh)

Thưa các quý vị và các bạn!

Từ số đầu tiên của tờ báo in bằng tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ Đăng Cổ Tùng Báo ra ngày 28/3/1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết bài “Người Annam nên viết chữ Annam”, trong đó có đoạn: “Chữ quốc-ngữ có non nửa thế-kỷ mà vẫn ít dùng, vì văn chương từ trát, vẫn cứ theo lệ cổ dùng chữ nho…” Tư tưởng có tính cảnh báo này không phải của riêng Nguyễn Văn Vĩnh, mà còn là tinh thần và định hướng của Phong trào Cách mạng Văn hoá Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) 1907.

Tận dụng những lợi thế về năng lực và uy tín cá nhân với Chính quyền Pháp, kết hợp với những toan tính của Chính phủ Thuộc địa trong việc lựa chọn một loại ngôn ngữ chữ viết thống nhất ở An Nam, nhằm giúp cho việc cai trị được thuận lợi, Nguyễn Văn Vĩnh vốn mang trong lòng sự bất bình sâu sắc với bộ máy Phong kiến Việt Nam, với Triều đình Nhà Nguyễn, nơi quyết tâm duy trì hệ thống giáo dục cổ hủ bằng việc dùng chữ Hán làm nền tảng, ông với năng lực trời cho, đã lao vào làm mọi cách để quảng bá chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La Tinh mà ngày đó, gọi nôm na là quốc ngữ, nhằm cạnh tranh với vị thế của chữ Hán, chữ Nôm và cả chữ Pháp trong đời sống văn hoá, tinh thần của người Việt.

Đáng tiếc, với bản chất cường quyền, Chính phủ Bảo hộ và Triều đình Huế luôn lo sợ sự lớn mạnh trong tư tưởng, trí tuệ của người dân Annam, điều sẽ là ngòi nổ cho việc lật đổ thể chế chính trị do họ nắm quyền, họ đã triệt hạ ĐKNT, dập tắt ngọn lửa khai dân trí, đẩy lý tưởng cách mạng văn hoá của các nhân sĩ yêu nước muốn cải cách xã hội vào vòng lao lý, dập vùi, làm tan nát phong trào.

Nguyễn Văn Vĩnh đã không đầu hàng trước sự tàn bạo đó của bộ máy cai trị, ông vẫn kiên nhẫn bằng nhiều cách thức khác nhau, bằng cả sự biết tận dụng hoàn cảnh và điều kiện cho phép, để làm sao con dân nước Việt thấy được chữ viết Quốc ngữ thật sự dễ học, và nó là của ta, biết nó sẽ biết được nhiều điều hay, biết nó sẽ nhìn thấy được nhiều điều tệ hại của một xã hội ngu muội…

Ông ra sức tìm mọi cơ hội để phát tán, quảng bá chữ quốc ngữ, năm 1913, định mệnh một lần nữa lại đặt vào tay Nguyễn Văn Vĩnh vận may, khi ông được tiến cử là Chủ bút của tờ báo hiện đại in chữ quốc ngữ nổi tiếng nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam, tờ Đông Dương Tạp Chí.

Các nhà nghiên cứu chuyên ngành xã hội và báo chí của Việt Nam và thế giới đã xác nhận, rằng đây là bước đi quan trọng hàng đầu trong việc chứng minh sự tiện lợi và giá trị của chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh, nó tạo ra sức ép với Triều đình Huế, đòi sớm đưa chữ Quốc ngữ vào hệ thống giáo dục toàn quốc, chấm dứt việc sử dụng chữ ‘mượn’, từ bỏ nền giáo dục tầm chương, học thuộc lòng, nền giáo dục không chấp nhận sự sáng tạo của con người, đặt xã hội vào những khuôn mẫu gò ép, nhằm ngăn chặn khả năng phát triển tư duy của người dân.

Năm 1919, sau gần chục thế kỷ, Triều đình Nhà Nguyễn chính thức bãi bỏ các khoá thi dùng chữ Hán. Năm 1922, chữ Quốc ngữ chính thức được đưa vào dạy tiểu học trên toàn đất nước Việt Nam, cơ sở để đất nước có một nền giáo dục mới.

Đến lúc này, Nguyễn Văn Vĩnh đã tự thưởng cho mình bằng việc liều lĩnh quyết định thay đổi toàn bộ dây chuyền công nghệ in ấn bằng kỹ thuật phương Tây đang sử dụng, được một người Pháp nhập vào Việt Nam từ ba chục năm trước. Nguyễn Văn Vĩnh nhận ra, một phần vì công nghệ máy móc đã lỗi thời, nhưng quan trọng hơn, là việc in ấn và phát hành các ấn phẩm bằng chữ Quốc ngữ cần phải đáp ứng được ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, do chữ viết Quốc ngữ đã chính thức trở thành chữ viết phổ thông. Tuy nhiên vì là loại chữ dùng nhiều dấu, quá trình in ấn cần có những loại thiết bị tiên tiến hơn, phù hợp hơn và thuận lợi hơn mới có khả năng nâng cao được năng xuất và chất lượng ấn phẩm lên nhiều lần.

Chính từ bước đi này, Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung thực hiện cuộc cải cách ngành in các ấn phẩm bằng chữ Quốc ngữ, đưa nó trở thành ngành xuất bản. Trung tâm Âu Tây tư tưởng (1926) do ông phụ trách, đã phát hành được nhiều đầu sách và báo với số lượng lớn, mang dáng dấp của một ngành công nghiệp in ấn và xuất bản. Nhưng thật nguy hại và đầy rủi ro, vì dưới con mắt của Bộ máy Cai trị, họ nhận ra sự ẩn chứa nhiều tư tưởng giải phóng của Nguyễn Văn Vĩnh được thể hiện trong các sản phẩm in ấn của mình, họ không coi điều đó là cần thiết cho việc nâng cao dân trí, mà họ thấy đó là hiểm hoạ, là sự đe doạ tính bền vững của hệ thống cai trị được kết hợp giữa Thực dân và Phong kiến.

Đường lối, chính sách của các thể chế cường quyền luôn run sợ trước tinh thần đòi giải phóng, đòi bình đẳng, đòi dân chủ của dân chúng, từ thực tế này, Nhà Cầm quyền đã không còn kiên nhẫn trong việc hợp tác với Nguyễn Văn Vĩnh, họ tìm cách giới hạn mọi hoạt động của ông, họ đưa ra đủ các món lợi để dụ dỗ, để thu phục ông, nhưng bất thành.

Năm 1930, Chính phủ Thuộc địa ra lệnh cấm Nguyễn Văn Vĩnh viết, in và xuất bản các ấn phẩm bằng chữ viết tiếng Việt, chữ Quốc ngữ nếu ông không chấm dứt các bài viết có nội dung lên án Triều đình Huế và phê phán các chính sách cai trị của Nhà Cầm quyền!

Đầu năm 1931, đứng trước hàng loạt những khó khăn và khủng hoảng do Nhà cầm quyền Thực dân dồn ép, họ cấm thành lập các đảng phái chính trị. Họ ra ba điều kiện với Nguyễn Văn Vĩnh rất rõ ràng nếu không muốn bị phá sản gồm:

  •  Chấm dứt việc viết.
  •  Chấm dứt việc phê phán chính quyền và triều đình Huế.
  •  Chấp nhận làm quan cho Vương triều Huế.

Nguyễn Văn Vĩnh đã bác bỏ những đòi hỏi này của Chính phủ Thuộc địa.

Để tiếp tục con đường cách mạng, ông thành lập tờ báo viết bằng tiếng Pháp “L’Annam Nouveau – Nước Nam mới”, với các mục đích:

– Tiếng Pháp không phải xin phép.

– Tiếp tục vận động xã hội chống chế độ Bảo hộ và Quân chủ Lập hiến.

– Xây dựng và kêu gọi áp dụng học thuyết Trực trị.

– Tiếp tục phổ biến những kiến thức xã hội tiến bộ về khoa học, văn hóa, chính trị.

Ngày 21.1.1931 tại Hà Nội “L’Annam Nouveau – Nước Nam mới” ra đời với lời tuyên ngôn trên trang nhất:

“Báo L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.

(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).

Một trang báo Nước Nam Mới in tiếng Pháp do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ nhiệm, Chủ bút, ra đời từ 1931 đến giữa năm 1936. Đây là tờ báo cuối cùng trong cuộc đời ba mươi năm làm báo của ông

Kể từ đây, văn đàn, báo giới ở Việt Nam đã không còn được nhìn thấy những ấn phẩm, những bài viết do Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng chữ Quốc ngữ, cho đến khi ông từ giã cõi trần vì một sự ám hại độc ác đầy toan tính của Nhà Cầm quyền.

Trải qua hàng chục năm trời, chúng tôi ra sức tìm kiếm, sưu tập và thu thập những tư liệu liên quan đến dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, và cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, sự thăng hoa nhất trong quá trình lao động của mình, chính là lúc chúng tôi nhận được sự quan tâm của các độc giả, những người hâm mộ Nguyễn Văn Vĩnh ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần xã hội và ở mọi miền trái đất. Chúng tôi vui mừng, tự hào vì tất cả những diễn biến đó đã tạo ra bức chân dung của sự thật, nó chính là sự linh thiêng của một linh hồn bất diệt, linh hồn Nguyễn Văn Vĩnh!

Năm 2021, chúng tôi nhận được sự quan tâm của dịch giả Võ Xuân Quế, khi đặt vấn đề về mối quan hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh và một tờ báo in chữ Quốc ngữ ở miền Trung Việt Nam nửa đầu thập niên ba mươi ở thế kỷ trước.

Dịch giả Võ Xuân Quế có mối băn khoăn không phải chỉ về quan hệ nghề báo của Nguyễn Văn Vĩnh, mà còn băn khoăn, rằng bối cảnh chính trị nào đã âm thầm kết nối Nguyễn Văn Vĩnh với một tờ báo ở miền Trung Việt Nam? Điều gì đã đẩy Nguyễn Văn Vĩnh đến chỗ hợp tác một cách chặt chẽ với tờ báo ở nơi xa là THANH NGHỆ TỊNH TÂN VĂN?

Lý giải những nỗi băn khoăn của nhà nghiên cứu văn hoá Võ Xuân Quế, chúng tôi xin trình bày ngắn gọn như đã nói ở trên. Để hiểu rõ hơn nội dung này, các quý vị độc giả có thể đặt vấn đề với chúng tôi, chúng tôi có đủ dẫn chứng về những quan điểm đã nêu trong các bài viết của mình.

Nhân 140 năm ngày sinh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin được đăng lại toàn bộ những nghiên cứu công phu về sự hợp tác giữa báo THANH NGHỆ TĨNH TÂN VĂN và học giả Nguyễn Văn Vĩnh của dịch giả Võ Xuân Quế.

Nhân danh cá nhân, nhân danh trang tin Tannamtu.com cùng hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi thành thật biết ơn tấm lòng của dịch giả Võ Xuân Quế đối với đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh!

Chúc ông mọi sự tốt lành, với sức khoẻ vững bền để tiếp tục con đường khoa học của mình!

Trân trọng!

NUYỄN LÂN BÌNH

Nguyễn Văn Vĩnh

với báo “Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn”

1. Vài nét về báo Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn

Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn (TNTTV) là tờ báo do Hội Văn học Pháp-Việt phía bắc Trung kỳ bảo trợ, Lê Hữu Nhơn làm chủ bút, Phó Đức Thành quản trị. Báo ra mỗi tuần một số vào thứ sáu ở Vinh. Số đầu tiên ra ngày 14/7/1930 và số cuối cùng 210 ra ngày 27/7/1934.

Tờ báo tự nhận là “nửa công nửa tư” với 4 trang khổ lớn, chủ yếu thông tin về chính trị, xã hội và văn học của khu vực Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh, song cũng đăng tải những thông tin quốc tế và quảng cáo, với tôn chỉ “làm cái ngôn-đàn cho dân trong ba hạt ở phía bắc xứ Trung kỳ ta…Chúng tôi cho tờ Thanh-Nghệ-Tịnh-Tân-Văn ra đời là để dắt díu cho anh em chị em được văn minh tiến hóa mà chẳng đi sai đường, giữ đạo lý cương thường mà không hủ bại” (Kính-cáo độc-giả, số 106).

Ba măng sét của Thanh-Nghệ-Tịnh-Tân-Văn

Ngoài hai cây viết chính là Lê Hữu Nhơn (bút danh Thanh Phong) và Phó Đức Thành (bút danh Chân Ngôn) báo còn có sự cộng tác của các cây bút; Lý Đình (Nguyễn văn Đông), Mã Giang Đông, Lê Nguyên Thụ (Đạm như), Phạm Vọng Chi (Ph.v.Ch.), đặc biệt là dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh.

Từ số 85 (4/3/1932) đến số 164 (6/9/1933), mỗi số có giải thích một câu tục ngữ để trong một ô góc trên, bên phải tờ báo. Từ số 167 đến số 204 trích đăng Luật hình Hoàng Việt bằng chữ Hán.

Trong thời gian 5 năm, TNTTV thay đổi măng sét tới 3 lần. Từ chỗ báo có 2 trang chữ Hán trong mỗi số chẵn đến chỉ còn chữ Quốc ngữ từ số 97 (27/5/1932) ta có thể thấy sự thay đổi của chữ Quốc ngữ trong đời sống xã hội ở Trung kỳ. Từ tháng 8/1934 TNTTV chuyển thành tờ báo mới hoàn toàn mang tính tư nhân với tên gọi Thanh-Nghệ-Tĩnh do Lê Hữu Nhơn làm chủ bút, Phó Đức Thành quản trị.

2. Nguyễn Văn Vĩnh với báo Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn

Bên cạnh chủ bút và người quản lý của tờ báo, Nguyễn Văn Vĩnh là một cây bút có sự đóng góp rất lớn đối với báo TNTTV. Theo dõi 210 số báo, chúng tôi thấy tác giả Nguyễn Văn Vĩnh cùng với bút danh “Tân-nam-Tử” và “T.N.T” xuất hiện trong hầu hết các số của TNTTV. Ngay từ số 2 (1/8/1930) Nguyễn Văn Vĩnh đã được bạn đọc biết đến với bản dịch “Tê-lê-Mặc phiêu lưu ký” dịch từ tiểu thuyết tiếng Pháp “Les Aventures de Télémaque” của Fénelon. Bản dịch này đã được in gần như liên tục trong 89 số liền, từ số 2 (1/8/1930) đến số 90 (8/4/1932), nhiều số đăng ở 2 trang.

Khi đăng sắp hết truyện dịch này, TNTTV quảng cáo sẽ đăng tiếp bản dịch “Ba người ngự lâm pháo thủ” cũng của Nguyễn Văn Vĩnh, song đến số 91 có thông báo “Trái với lời đã kính cáo trước và theo như ý kiến của nhiều bạn đọc báo, báo hoãn không đăng tiểu thuyết “Ba người ngự lâm pháo thủ” nữa. Tiểu thuyết ấy vui và hay thật, nhưng hiềm vì dài quá, mà bản báo chỉ xuất bản mỗi tuần lễ chỉ có một kỳ phải đăng lâu mới hết, e độc giả hoặc có vì lâu mà chán chăng.”

Từ các số 94 (ra ngày 6/5/1932) trở đi Nguyễn Văn Vĩnh đã đóng góp cho TNTTV các bài viết về nhiều đề tài khác nhau với bút danh “T.N.T” và “Tân-nam-Tử”. Đáng chú ý, nhiều số có hai, thậm chí ba bài liền với hai bút danh này. Một số số cùng bút danh với hai ba bài khác nhau (như các số 145, 147, 152, 161, 162).

Bản dịch “Tê-lê-Mặc phiêu lưu ký” bắt đầu in ở trang 2, số 2/1930, TNTTV

Dưới đây là các bài viết với hai bút danh “T.N.T” và “Tân-nam-Tử” của Nguyễn Văn Vĩnh cho Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn chỉ trong vòng hơn 1 năm (từ tháng 5/1932 đến tháng 9/1933)

2.1. T.N.T với 6 bài, trong các số sau:

  • Số 94 (6/5/1932): Một ý kiến chúng ta sớm nghĩ,
  • Số 115 30/9/1932): Hai mươi lăm vạn bạc ấy ở đâu,
  • Số 116 (7/10/1932): Trên con đường cải cách,
  • Số 125 (9/12/1932): Cái án phụ nữ tự sát,
  • Số 140 (24/3/1933): Lễ tế nam giao tại đế đô,
  • Số 156 (14/7/1933): Sau cuộc hội nghị đình chiến ở Dương Cô

2.2. Tân-nam-Tử với 45 bài, trong các số sau:

  • Số 96 (20/5/1932): Ta nên hiểu nghĩa hai chữ Nhân-đạo như thế nào
  • Số 97 (27/5/1932): Chung quanh mùa thi cử
  • Số 98 (3/6/1932): Đức Bảo Đại hồi loan
  • Số 102 (1/7/1932): Quan tổng trưởng bộ thuộc địa mới
  • Số 109 (19/8/1932): “Nhân cuộc phỏng vấn của nhà văn sĩ Jean Dorsenne”;
  • Số 110 (26/8/1932): “Cuộc kinh tế khủng hoảng”,
  • Số 115 (30/9/1932): Gia đình giáo dục
  • Số 116: (7/10/1932): Tình cảnh nghề nông ở nước ta
  • Số 120 (4/11/1932): Ông Phạm Quỳnh với thiếu niên
  • Số 121 (4/11/1932): Truyện “Con dê và con cáo”,
  • Số 122 (11/11/1932): Một nhà học giả sẽ không lỗi với thiên chức mình),
  • Số 125 (9/12/1932): Trí thức thất nghiệp
  • Số 127 (23/12/1932): Sau cuộc tuần du ở phía bắc trung kỳ
  • Số 132 (27/1/1933): Thế giới trong cơn giông tố,
  • Số 135 (17/2/1933): Trong cuộc Nam tuần của Đức Bảo Đại
  • Số 136 (24/2/1933): Ba-lê, Bá-Linh và Đông Pháp
  • Số 137 (3/3/1933): Trong cuộc nam tuần của Đức Bảo Đại (tr.1, 4)
  • Số 138 (10/3/1933) Trong cuộc nam tuần của Đức Bảo Đại (tr.1, 3)
  • Số 139 (17/3/1933): Xứ Đông Dương trong cuộc Trung-Nhật chiến tranh
  • Số 140 (24/3/1933): Quan Khâm sứ Châtel
  • Số 141 (31/3/1933): Lễ Nam-giao tại đế-đô
  • Số 143 (14/4/1933): Nguyện vọng của thiếu niên ta
  • Số 144 (21/4/1933): Bên nước láng giềng
  • Số 145 (28/4/1933): Tặng bạn thiếu niên (tr.1, 2), Cô An chết (tr.2)
  • Số 147 (12/5/1933): Cuộc cải cách lớn tại triều đình (tr.1, 4), Hồ Xuân Hương (tr.2), Văn Uyển: Thơ họa-Tết (tr.2)
  • Số 148 (19/5/1933): Để làm bài tựa cho cuộc tuyển cử sau này
  • Số 149 (26/5/1933): Bước đầu vào một kỷ nguyên mới (tr.1, 2)
  • Số 151 (9/6/1933): Bộ Quốc gia giáo dục
  • Số 152 (16/6/1933): Mỹ thuật ở nước ta (tr.1), Hồ Xuân Hương (tr.2)
  • Số 153 (23/6/1933): Lý thuyết và thực sự
  • Số 155 (7/7/1933): Nguyễn Du
  • Số 156 (14/7/1933): Một sự ngộ nhận
  • Số 157 (21/7/1933): Quan Bà
  • Số 158 (28/7/1933): Bộ thể dục
  • Số 159 (4/8/1933): Ở Geneve
  • Số 160 (11/8/1933): Hội nghị Thế giới kinh tế
  • Số 161 (18/8/1933): Bút sắt và bút lông, Nhân một chuyện từ chức (Tân-Nam-Tử nói về việc Ngô Đình Diệm từ chức Thượng Thư bộ Lại của chính phủ Bảo Đại)
  • Số 162 (25/8/1933): Cải cách (tr.1), Huế (tr.1, 2)
  • Số 163 (1/9/1933): Đời mới
Bài thơ duy nhất của Nguyễn Văn Vĩnh trong mục “Văn Uyển”, số 147 (1933) TNTTV

Như vậy, nếu tính cả các số in truyện dịch và số có bài viết, Nguyễn Văn Vĩnh đã ghi tên mình và bút danh trong tất cả 140/210 số phát hành của Thanh-Nghệ-Tịnh Tân-Văn. Một con số không hề nhỏ, nói lên sự đóng góp rất lớn của Ông cho tờ báo xứ bắc Trung kỳ những năm đầu thế kỷ XX!

Võ Xuân Quế

Dựa trên tư liệu sưu tầm từ (https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/cb32877142c/date.item)

2 Responses

  1. Lân Bình ơi, bài viết công phu, rõ ràng. Mình thấy đoạn đầu có thể viết thêm về bối cảnh Đông Kinh Nghĩa Thục, tình hình chữ quốc ngữ bấy giờ, các khuynh hướng về ngôn ngữ, các nhà nho khác khuyến khích học chữ quốc ngữ thế nào. Đặt NVV trong bối cảnh ấy thì mới rõ tại sao ông viết bài năm 1907 ấy và giá trị của nó.
    Huy

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network