Thưa các quý vị và các bạn!
Tháng 9 năm 2021, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam đã phát hành cuốn sách Viết và Đọc – Chuyên đề mùa Thu.
BBT Tannamtu.com rất vui mừng khi đọc một bài của tác giả Phan Tường Đan, với tựa đề Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và những món quà trong veo cho trẻ thơ được in trong cuốn sách.
Đây là một trong nhiều hoạt động của dịch giả nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hoá ngôn ngữ, hoàn toàn nằm trong chiến lược phổ cập giá trị của chữ viết tiếng Việt, xây dựng nền văn hoá chữ Quốc ngữ nhằm cạnh tranh với các loại chữ viết có từ trước đó trong lịch sử Việt Nam. Mục đích của ông để phục vụ cho chủ trương từ giã nền giáo dục Nho học, với lối học từ chương trích cú chỉ để phục vụ cho mục đích làm quan.
Phổ biến kiến thức nhờ việc đọc, Nguyễn Văn Vĩnh muốn phát triển lối tư duy hiện đại, nhân văn cho dân chúng ở những thập niên đầu thế kỷ 20.
Như mọi người đều biết, Pháp là quốc gia sở hữu nền văn chương rực rỡ nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, tạo thành các trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, gây ảnh hưởng rộng khắp đối với việc xây dựng nhân cách cho con người. Thực tế này đã tác động mạnh đến ý thức và nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh, dẫn dắt ông đến việc quyết định dịch và chuyển tải nội dung các tác phẩm văn học kinh điển của các tác gia danh tiếng dành cho thiếu nhi như:
- Truyện trẻ con của Charles Perrault (Cô Bé Lọ Lem, Con Mèo Đi Hia, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ hay Hằng Nga Ngủ Trong Rừng ….)
- Tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten (Jean de La Fontaine)
- Guy-li-ve du ký – Gulliver’s Travels của Jonathan Swift. (Tiếng Pháp Le Voyage de Gulliver à Lilliput et chez les géants)
- Tê-lê-mặc phiêu liêu ký – Les aventures de Télémaque của Fénélon.

Ông còn tìm cách sưu tầm, tổng hợp từ cuộc sống những trò chơi dân gian truyền thống của trẻ em Việt Nam, để tạo thành cuốn sách nổi tiếng Trẻ em hát trẻ em chơi, nhằm chứng minh những tập tính văn hoá mang tâm hồn của một dân tộc vốn truyền đời mưu sinh bằng nghề trồng lúa như bài Phụ đồng chổi, Thả đỉa ba ba, Giung giăng giung giẻ…. Nguyễn Văn Vĩnh đã chủ động cho xuất bản hàng vạn số và bán với giá tượng trưng, nhằm giúp cho việc truyền bá được rộng khắp.
Chưa hết, ông còn muốn nhắm đến người Pháp nói riêng và người châu Âu nói chung cần biết rằng, dân tộc An Nam cũng có những tinh hoa văn hoá dân gian, hoàn toàn không thể gọi là một giống dân Mọi, vì thế, ông đã đưa các bài hát đồng giao đó lên tờ báo tiếng Pháp xuất bản ở Hà Nội L’Annam Nouveau – Nước Nam mới với chuyên mục: Những bài hát trẻ con – Les Chansons d’enfants.

Sự nghiệp dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh dựa vào những nguyên tắc căn bản của đạo lý và tâm đức của con người. Những tác phẩm ông lựa chọn để chuyển sang tiếng mẹ đẻ, đều đã được ông xác định, đó là công việc diễn nôm (*), không kể là những ấn phẩm có tính hàn lâm, hay văn học nghệ thuật, hoặc chính trị triết học.
Ông đã luôn đi từ bước thứ nhất là, tìm đọc và hiểu về nhân thân, lịch sử của các tác giả có các tác phẩm mà ông sẽ chuyển ngữ, một nguyên tắc không chỉ khoa học, mà còn mang tính bác học, tạo cơ sở để nhận thức toàn diện, từ đó, giúp cho việc diễn giải sang tiếng mẹ đẻ được thấu đáo và dễ hiểu đối với người đọc, dù những người đó ở tầng lớp xã hội nào đi nữa.

Nhìn lại, quả thật chúng tôi không thể không vui mừng khi đọc bài viết của tác giả Phan Tường Đan, phân tích và ca ngợi mục đích cao thượng, cùng với tài năng dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn học và văn hoá dành cho trẻ em Việt Nam từ gần một thế kỷ trước. Điều này, có ý nghĩa tương tự như bài phân tích, đánh giá về năng lực dịch của Nguyễn Văn Vĩnh với Truyện Kiều của Nguyễn Du của tác giả Thu Trang (Công Thị Nghĩa), và thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Nguyên (Khoa Việt Nam học – Đại học Sư phạm Hà Nội) trong tiểu luận về Phương pháp dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đối với tập truyện thơ ngụ ngôn của Giăng đờ La Phông Ten – Jean de La Fontaine.
Để giúp các quý vị và các bạn hiểu sâu hơn về năng lực dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, tới đây, BBT chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các bài viết của tác giả Thu Trang và Nguyễn Thị Thu Nguyên như đã giới thiệu ở trên.
BBT Tannamtu.com xin trân trọng cảm ơn tác giả Phan Tường Đan, và hân hạnh được gửi tới các quý vị và các bạn đoạn trích trong bài viết Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và những món quà trong veo cho trẻ thơ.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ xin được gửi tới các quý vị và các bạn một bài viết khác của tác giả Lê Minh Quốc, nhìn nhận và phân tích vai trò đặc biệt có ý nghĩa sâu sắc của hoạ sĩ Mạnh Quỳnh, người đã cùng Nguyễn Văn Vĩnh thổi hồn cho các tác phẩm dịch của ông, giúp cho các thế hệ người đọc ở Việt Nam dễ dàng nhận ra sự gần gũi của nội dung các tác phẩm do ông chuyển ngữ.

BBT chúng tôi còn may mắn lưu giữ được bản sao của cuốn sách Truyện Hồ Lang của Emile Vayrac, nội dung cũng dành cho trẻ em do Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ tiếng Pháp cổ sang tiếng Việt, mà độc giả Việt Nam chưa có cơ hội tiếp cận. Chúng tôi hi vọng sẽ sớm có cơ may để giới thiệu với các quý vị và các bạn tác phẩm này trong tương lai!
Trân trọng!
Ghi chú:
Trong nhiều cuốn từ điển tiếng Việt hiện nay, việc giải thích từ ‘Diễn nôm’ được mô tả khác nhau, thậm chí có nơi còn giải thích theo khái niệm: Dịch từ chữ Hán ra chữ Nôm….
Diễn nôm theo Nguyễn Văn Vĩnh, là trình bày nội dung mà mình dịch từ tác phẩm tiếng nước khác ra tiếng Việt.
Điều này được hiểu trên cơ sở dựa vào thực tế lịch sử khi Nguyễn Văn Vĩnh chuyển ngữ các tác phẩm in bằng Pháp văn, lúc đó chữ quốc ngữ chưa được xác nhận là Quốc tự, và do nó còn quá nhiều khiếm khuyết và thiếu tính hoàn chỉnh.
Mặt khác, từ nôm, theo Nguyễn Văn Vĩnh còn có ý giải thích ‘nôm na’ nội dung một câu chuyện. Nguyễn Văn Vĩnh tự biết, rằng khi đưa các tác phẩm tiếng Pháp sang tiếng Việt, do chữ viết tiếng Việt còn nhiều hạn chế, nên ông không ngần ngại xác định, việc mình chuyển ngữ, mặt nào đó cũng vẫn mang tính khái quát và chưa thoả mãn những yêu cầu mang tính văn học của tác phẩm (Lời tựa trong cuốn Truyện ngụ ngôn La Phông Ten).
Chính những thực tế nêu trên trong quan hệ với chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh đã dốc lòng đi tới cùng trong việc hoàn thiện một thứ chữ viết để nâng nó lên tầm văn hoá, tạo dựng một nền văn học mà sau này chúng ta xác định, đó là Nền văn học chữ Quốc ngữ.
Thực chất, con đường Nguyễn Văn Vĩnh đi, là một cuộc cách mạng văn hoá, đặt chữ quốc ngữ vào vị thế cạnh tranh gay gắt với chữ Hán, Nôm và Pháp ngữ trong giai đoạn lịch sử đó, đưa thứ chữ viết này trở nên độc tôn.

BBT Tannamtu.com
NGUYỄN LÂN BÌNH
Sự thanh nhã của văn chương Đại Pháp!
Phan Tường Đan
Nguyễn Văn Vĩnh đã bỏ công dịch nhiều tác phẩm đồ sộ của văn chương phương Tây sang chữ quốc ngữ để người Việt Nam có thể đọc, thưởng thức những giá trị kinh điển, đẹp đẽ của văn hóa nhân loại. Có thể kể đến bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo (mà Nguyễn Văn Vĩnh dịch là Những kẻ khốn nạn) tổng cộng 48 cuốn đóng thành 4 tập dày hơn 5000 trang do Trung Bắc tân văn lần lượt xuất bản trong 4 năm, từ 1925 đến 1928; Truyện Ba người ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas 4 tập hơn 1200 trang do Trung Bắc tân văn ra năm 1927…
Tuy vậy, một mảng sách dịch cực kỳ đặc biệt trong di sản đồ sộ của Nguyễn Văn Vĩnh là những cuốn sách mỏng dành cho thiếu nhi.
Trong số đó có hai tuyệt phẩm sách thiếu nhi, hai món quà trong veo của Nguyễn Văn Vĩnh dành cho trẻ thơ. Cả hai ấn phẩm đều xuất bản trước năm 1945 và đi cùng với những minh họa tuyệt tác của họa sĩ Mạnh Quỳnh.
Năm 1943, cơ sở xuất bản Alexandre de Rhodes xuất bản cuốn Chuyện trẻ con của tác giả Perrault, Nguyễn Văn Vĩnh dịch, Mạnh Quỳnh minh họa.
Charles Perrault sinh ngày 12-1-1628 trong một gia đình tư sản giàu có tại Paris, có cha làm luật sư. Perrault cũng theo học luật với dự định sẽ theo nghề của cha. Tuy nhiên, đến năm 1663, Perrault được bổ nhiệm chức vụ thư ký, làm việc dưới quyền Bộ trưởng tài chính cho vua Louis XIV là ông Jean Baptiste Colbert, đến năm 1682 thì nghỉ hưu.
Sau khi thôi làm việc cho nhà nước, Perrault quyết định cống hiến sức lực của mình cho con trẻ. Năm 1697, ông công bố tập Những truyện cổ tích của Mẹ Ngỗng. “Mẹ Ngỗng” ở đây không phải chỉ một người cụ thể nào đó mà nói đến những người kể truyện dân gian, cổ tích ở các vùng nông thôn, vốn rất được ưa chuộng rộng rãi trong nhân dân. Perrault đã sưu tập những câu chuyện được nghe kể rồi viết lại theo cách của mình.
Có thể nói Perrault là người đầu tiên trên thế giới sưu tập và hệ thống hóa, viết lại những câu chuyện cổ tích trong dân gian để in thành sách phục vụ các bạn đọc nhỏ tuổi, mở đường cho thể loại sách truyện cổ tích hiện đại. Sau Perrault, nhiều người khác cũng đi theo hướng này mà nổi bật nhất là anh em nhà Grimm ở Đức…
Perrault còn viết một số cuốn sách khác nữa nhưng tập truyện cổ tích cho trẻ em của ông mới là tác phẩm đưa tên tuổi ông vào ngôi đền vĩnh cửu của văn học. Những câu chuyển trẻ con của Perrault tiếp tục được đọc và kể trong nhiều thế kỷ sau ông.
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh dịch 8 trong số 11 truyện từ tập Những truyện cổ tích của Mẹ Ngỗng, đặt tên là “Truyện trẻ con”, xuất bản lần đầu năm 1916. Năm 1943, Édition Alexandre de Rhodes chỉnh sửa và tái bản với các hình minh họa sinh động, ngộ nghĩnh của họa sĩ Mạnh Quỳnh.
Bản Chuyện trẻ con của Perrault do Nguyễn Văn Vĩnh dịch gồm có 8 truyện, lần lượt là Chuyện Hằng Nga ngủ trong rừng, Chuyện cô bé quàng khăn đỏ, Con yêu râu xanh, Con mèo thầy thợ hay là con mèo đi hia, Chuyện tiên, Chuyện con Lọ Lem hay là chuyện chiếc giầy lót da sóc, Chuyện Hoàng tử có bờm, Chuyện thằng nhỏ tí hon.
Sách trình bày cứ một trang tiếng Pháp bên trái lại một trang chữ quốc ngữ bên phải, theo hình thức dịch tương đương giữa hai trang.
Ấn bản nhà xuất bản Alexandre de Rhodes tái bản năm 1943 khổ to, hai bìa trước sau in màu hai bức minh họa của Mạnh Quỳnh. Bìa 1 theo chủ đề Chuyện thằng nhỏ tí hon còn bìa 4 theo Chuyện cô bé quàng khăn đỏ.
Mở đầu tập sách, Nguyễn Văn Vĩnh viết phần “Tiểu truyện”, giới thiệu sơ tiểu sử Perrault tiên sinh, trong đó giải thích lý do chỉ dịch 8 trong số 11 truyện của Perrault vì mấy truyện đầu trong nguyên bản theo lối thơ nên không dịch, chỉ dịch những truyện theo lối văn xuôi. Nguyễn Văn Vĩnh cũng bày tỏ lý do đặt bút dịch những truyện cổ tích này bởi “văn chương rất nhẹ nhàng có ý nhị” để người đọc, không chỉ trẻ con, thấy được “cái tính tình thanh nhã” của văn chương Đại Pháp!
Những câu chuyện cổ tích Nguyễn Văn Vĩnh dịch trong tập truyện của Perrault lưu truyền trong nhiều thế kỷ, được kể ở bất cứ nơi nào có trẻ con trên mặt địa cầu. Những “cô bé quàng khăn đỏ”, “Hằng Nga ngủ trong rừng”, “yêu râu xanh”, “cô bé Lọ lem” đi vào giấc ngủ của ức triệu cô bé, cậu bé, là những hoài niệm tuyệt đẹp về một tuổi thơ vĩnh viễn qua đi không bao giờ còn trở lại…Có những câu chuyện Perrault kể qua lời văn dịch có những nét rất gần với chuyện cổ tích Việt Nam, chẳng hạn như Chuyện con Lọ Lem hay là chuyện chiếc giầy lót da sóc gần như tương đồng với phần đầu chuyện Tấm Cám…
Nét vẽ của Mạnh Quỳnh trong Chuyện trẻ con của Perrault do Nguyễn Văn Vĩnh dịch vẫn vô cùng khoái hoạt, sống động. Bìa màu cuốn sách vẽ theo Chuyện thằng nhỏ tí hon, bảy chú bé, mỗi chú một vẻ, đậm phong thái của…trẻ con Việt. Chú để tóc trái đào, chú phanh áo khoe rốn, tất cả đều là những chú bé xứ nóng nhiệt đới mặc quần cộc chạy bạt cả gió cùng với con vịt và con chó lưng đốm, như trong một điệu luân vũ sinh động, chạy đua tìm kiếm một chỗ trú an toàn trong hoàn cảnh bị bố mẹ nghèo bỏ lại trong rừng…
Bà mẹ với hai cô con gái và cô bé Lọ Lem trong Chuyện con Lọ Lem hay là chuyện chiếc giầy lót da sóc lại áo dài Lemur Cát Tường, vấn khăn hoặc chít khăn mỏ quạ, chẳng khác từ một làng quê Việt nào đó bước thẳng vào thế giới cổ tích qua nét vẽ Mạnh Quỳnh. Cũng hiền hậu, chân chất cổ truyền là cô bé quàng khăn đỏ mặc váy đụp đứng đối đáp với con sói ở bìa 4 cuốn sách, không khác gì một cô bé nghèo ở một làng quê Việt nào đấy…
Người dịch những nụ cười mỉm!
Nếu Chuyện trẻ con của Perrault là những truyện cổ tích ngắn, xinh xắn thì đến Qui li ve du ký (Gulliver du ký), Nguyễn Văn Vĩnh đã thử sức dịch hẳn một truyện dài cho trẻ em Việt, không phải của một tác giả người Pháp mà từ một tác phẩm của tác giả viết tiếng Anh (chắc chắn vẫn qua bản dịch Pháp văn).
Tác giả của Gulliver du ký, Jonathan Swift, người Ireland, sinh năm 1667 tại Dublin trong một gia đình theo đạo Tin Lành. Swift học khoa Thần học tại Đại học Dublin rồi làm mục sư, có thời gian làm thư ký cho William Temple, một chính khách nổi tiếng thời đó ở Anh. Năm 1696, Jonathan Swift bắt đầu sự nghiệp văn chương, viết hai cuốn Cuộc chiến của sách (The battle of books), một tiểu luận về cuộc tranh luận giữa phái cũ và phái mới và Chuyện cái chậu (The Tale of a Tub), phê phán ba giáo phái thời đó. Hai cuốn sách này đến năm 1704 mới được in, trong khi một cuốn Jonathan Swift viết sau, Những sự chia rẽ ở Athens và Rome (Dissensions in Athens and Rome) lại được xuất bản trước vào năm 1701.
Sau đó, Jonathan Swift còn viết nhiều sách nữa nhưng phải đến năm 1726, khi ở London phát hành một cuốn tiểu thuyết hư cấu của Jonathan Swift thì ông mới chính thức trở thành nhà văn nổi tiếng trên toàn thế giới. Cuốn sách này có một cái tên dài thòng, không biết tên nào là chính, tên nào là phụ: Những cuộc phiêu lưu đến vài quốc gia xa xôi trên thế giới. Gồm bốn phần. Bởi Lemuel Gulliver, lúc đầu là một nhà giải phẫu, sau đó là thuyền trưởng của vài con tàu.
Sau này, người đời chỉ gọi ngắn gọn tên của nó là Gulliver du ký!
Đến năm 1735, Jonathan Swift chỉnh sửa lại Gulliver du ký một chút nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên những nội dung chính của cuốn sách. Nó nhanh chóng nổi tiếng trên toàn cõi nước Anh rồi lan rộng ra trên thế giới, được đọc từ trong nội các cho tới các nhà trẻ, trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học Anh và không ngừng được in đi in lại trên toàn cầu kể từ đó.
Gulliver du ký kể lại bốn cuộc phiêu lưu của anh chàng Gulliver: đến xứ sở của những người tí hon Lilliput; đến xứ sở của những người khổng lồ Brobdingnag; đến xứ sở của người Laputa (đảo Bay, theo đó đi qua cả loạt hòn đảo khác nhau); đến xứ sở của ngựa người Huin.
Trong 4 phần này, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ dịch hai phần đầu là hai cuộc phiêu lưu của Gulliver đến xứ người tí hon Liliput và xứ người khổng lồ Brobdingnag.
Sách Qui li ve du ký Nguyễn Văn Vĩnh dịch thuật, do Alexandre de Rhodes xuất bản khổ to giống cuốn Chuyện trẻ con của Perrault, Mạnh Quỳnh minh họa bìa màu, bên trong đen trắng. Sách in xong ngày 31-8-1944 tại nhà in Trung Bắc tân văn, 3000 cuốn giấy thường, 200 cuốn trên giấy Đại La Impérial đánh số từ 1 đến 200 và 10 cuốn bằng giấy Thăng Long Impérial, đánh số từ I đến X.
Anh chàng Qui li ve quê Nottingham nước Anh học nghề giải phẫu, vợ con đùm đề nhưng ôm mộng hải hồ. Vào thời ấy, cách tiện lợi nhất để có thể tham gia vào các chuyến phiêu lưu là xuống những con tàu buôn đi khắp các đại dương và anh Qui li ve đã làm đúng y như thế! Những chuyến đi biển gặp cuồng phong đã dẫn anh chàng đến xứ những người tí hon Liliput, nơi cư dân chỉ cao chừng trên dưới 20 phân, hay xứ những người khổng lồ Brobdingnag, nơi cư dân cao bằng cái gác chuông nhà thờ!
Độc giả thiếu nhi khi đọc Qui li ve du ký hẳn sẽ phải nín thở theo từng chuyến phiêu lưu của anh chàng Qui li ve từ mấy trăm năm trước. Văn của Jonathan Swift qua ngòi bút dịch thuật tài hoa của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn giữ được nét thơ trẻ, hấp dẫn hồi hộp như những câu chuyện cha mẹ kể cho con trẻ trước giờ đi ngủ.
Không chỉ là một cuốn truyện phiêu lưu, Qui li ve còn là một tác phẩm văn học châm biếm; Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch thuật cực kỳ tài hoa những nụ cười mỉm của Jonathan Swift ẩn sau những dòng chữ, khiến người đọc không khỏi bật cười theo những bước chân của chàng Qui li ve.
Cộng với những nét vẽ ngộ nghĩnh của Mạnh Quỳnh càng khiến cho Qui li ve du ký thật vô cùng hấp dẫn, đọc hơn trăm trang sách chỉ thoáng qua đã thấy tiếc nuối vì chuyến phiêu lưu của anh chàng Qui li ve sắp kết thúc…
Chính sức hấp dẫn đó khiến Qui li ve du ký từ thời Jonathan Swift đã được đọc say mê suốt mấy trăm năm sau. Đến khi được Nguyễn Văn Vĩnh chuyển tới bạn đọc Việt Nam qua chữ quốc ngữ trên báo chí, sau đó tập hợp lại thành sách với nét vẽ hồn hậu Mạnh Quỳnh, Qui li ve du ký là món quà tuyệt mĩ gửi đến tuổi thơ từ trăm năm trước của một trong những cây bút dịch thuật tài hoa bậc nhất hồi đầu thế kỷ XX trong văn chương Việt.
—————– Trích trong “Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và những món quà trong veo cho trẻ thơ” Viết và Đọc – Chuyên đề mùa Thu, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội tháng 9/2021.