NỖI BẤT HẠNH CỦA KẺ KHI MẤT RỒI MỚI BIẾT MÌNH MẤT GÌ?! – phần 2

Phần Hai

Hệ quả của cảm xúc

Dư âm của buổi tang lễ đã làm tôi buồn nhiều ngày sau đó. Nhưng phải mất nhiều năm sau nữa, khi tôi thấm cái hồn của gia tộc mình, khi tôi được sự khích lệ của người thân và bè bạn, để năm 2004 tôi và các bạn làm báo mới viết được loạt bài liên tiếp, đăng trên các báo lớn khác nhau về ông nội tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh, về cha tôi, kỹ sư vô tuyến điện Nguyễn Dực, về nhà thơ Nguyễn Giang là người anh thứ hai, về Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp là người anh thứ tư của cha tôi, và luật sư Nguyễn Phùng người em cùng cha khác mẹ với cha tôi.

Và rồi trong một lần gặp gỡ trò chuyện với cố nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc (1926-2012), ông đã nhắc nhở tôi thế này:

“Con làm được như vậy là con có hiếu lắm rồi, nhưng muốn thế nào, con cũng phải ra được một bài về bác Phổ của con. Bác Phổ của con khổ quá, bác chịu nhiều cay đắng quá. Viết để vong linh của bác được siêu thoát con ạ, viết để phần hồn của bác được giải oan, cố gắng con nhé!”

Tôi ngậm ngùi, vâng, nhưng trong đầu không hiểu sẽ phải bắt đầu từ đâu?!

Bốn nhà sử học danh tiếng tham dự buổi lễ kỷ niệm 100 năm tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ, do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút – Đăng Cổ Tùng Báo 1907-2007. Buổi lễ do gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức tại Hà Nội. Từ phải sang trái: Giáo sư sử học Chương Thâu, Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm và giáo sư sử học Huệ Chi.

Phàm ở đời muộn vẫn hơn không, người đời dạy thế! Tôi đã thú nhận về sự yếu kém, sự đáng tiếc trong nhận thức và tư duy về gia thế của mình. Mình là con cái ‘nhà ai’? Gốc gác, ông bà, cha mẹ mình thế nào? Những chuyện mờ mờ, ảo ảo trong quá khứ của gia đình, họ hàng mình, thực chất là gì? Và phải làm gì trước những nguyên nhân mà mình đã và sẽ tìm ra? Nếu đó đúng là niềm hãnh diện, thì tính chính đáng đến đâu? Mình có quyền thế nào với niềm kiêu hãnh đó? Hay chỉ để tô vẽ với cuộc đời thôi sao?

Có tuổi rồi tôi mới thấm câu ‘mắng mỏ’ của người lớn khi còn đi học, mỗi lần gặp một bài tập khó, xin cầu cứu người lớn, đều bị quát: Phải suy nghĩ chứ, phải động não lên không thì sau này sẽ thành con gì hả Giời? Tôi trăn trở triền miên, gặp được người nào có thái độ thiện chí khi nghe các giai thoại về gia đình mình, có hiểu biết rộng về cuộc sống, về xã hội, về lịch sử văn hoá… tôi cũng tìm cách duy trì và phát triển các mối quan hệ đó, hòng tìm kiếm những hiểu biết liên quan đến những người họ hàng của mình.

Đề tài về gia tộc của chúng tôi thật lớn, khỏi cần phải khoa trương, những người có hiểu biết về thế thái nhân tình, về văn hoá xã hội Việt Nam ở thế kỷ 20 đều xác nhận với tôi như vậy.

Tôi luôn bị ám ảnh bởi những gì ông thầy giáo người Bungari đã dạy tôi từ lúc mới 18 tuổi rằng: Biết mà không nói ra, coi như không biết, có tiền mà không tiêu, coi như không có!

Thế rồi, tôi may mắn có được một thế giới bè bạn ở khắp các lĩnh vực, đủ mọi lứa tuổi với rất nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Đành rằng, cuộc sống luôn là một quá trình chọn lọc, mình sàng lọc nó và ngược lại.

Một cuộc vật lộn tâm lý

Đầu năm 2005, một người cùng cơ quan, hơn tuổi tôi, anh đã từng có nhiều năm chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, khi giải ngũ, anh được theo học nghề nấu bếp, chuyên nấu ăn cho các vị Đại sứ các nước khi nhận nhiệm kỳ tại Việt Nam. Khi anh nhiều tuổi lên, không còn phù hợp để làm cho các cơ quan nước ngoài, anh về làm bảo vệ tại cơ quan Cục Phục vụ NGĐ.

Một hôm, vô tình gặp tôi ở cổng cơ quan, anh vồn vã hỏi:

“Bình ơi, hôm qua, tớ đọc trên tờ An ninh Thế giới cuối tháng, có bài viết về ông nội cậu đấy, ông Nguyễn Văn Vĩnh đúng không? Thế vậy cậu gọi ông Nguyễn Phổ là gì?”

Tôi mừng quýnh vì thấy xuất hiện thêm người quan tâm đến đề tài gia đình mình. Tôi đáp:

“Em gọi là bác ruột anh ạ!”

Anh ta tiếp tục hồ hởi khoe:

“Này, tớ cũng biết về ông bác cậu đấy, ông Phổ ấy, tớ biết nhiều lắm, sao ông ấy khổ quá thế không biết?!”

Tôi bắt buộc phải tò mò hỏi sâu hơn, rằng làm sao anh biết nhiều về bác em? Và hình như, anh chỉ đợi có vậy, rồi anh tưng bừng kể:

“Tớ cùng sinh hoạt hội Cựu chiến binh ở địa phương với một ông tên là Tín, ông ấy là Phạm Bá Tín, ông là Trung tá, về hưu rồi, lần nào chuyện trò với ông ta, ông cũng hay kể với bọn tớ về bác Phổ của cậu. Ông Tín là cán bộ của Tổng Cục 2, ông ấy tỏ ra kính phục ông Phổ và thương ông Phổ lắm”.

Tôi thấy mình như bắt được thứ gì đó rất quý mà chưa dám mơ bao giờ. Tôi nghe một lúc, và đặt vấn đề luôn:

“Vậy em muốn được gặp ông Tín có sao không anh?”

Anh nhiệt tình cho ngay tôi địa chỉ và số điện thoại của ông Phạm Bá Tín. Tôi sung sướng âm ỉ suốt cả ngày hôm đó!

  • Tờ Áp phích do Đại sứ quán Cộng hòa Pháp giới thiệu bộ phim tài liệu lịch sử “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, nói về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh được công chiếu tại Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace tháng Tư năm 2009. Ảnh tờ áp phích được giới thiệu tại sảnh chính cơ quan Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn số 10 phố Lê Phụng Hiểu.

Tôi nấn ná về việc sẽ chọn ai trong số các bạn nhà báo mà tôi quen, để thực hiện bài viết về bác Nguyễn Phổ. Cuối cùng, tôi tìm và rủ Việt Hằng.

Việt Hằng ít tuổi, là con trai của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, tác giả cuốn sách nhiều người biết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Theo tôi, Việt Hằng là kiểu người giản dị, chân thành và làm việc mẫn cán lắm. Việt Hằng được tôi mời hợp tác, cậu ấy mừng quýnh vì nhận thấy câu chuyện có nội dung ly kỳ và nhiều uẩn khúc này.

Đầu tiên, chúng tôi xin làm quen với ông Tín qua điện thoại, sau đó xin phép được đến chơi, trao đổi tìm hiểu về trường hợp ông Nguyễn Phổ. Ông Tín tỏ ra rất sẵn sàng, đồng ý nói chuyện với chúng tôi. Ông còn cho phép chúng tôi được ghi âm nội dung buổi trò chuyện.

Thật mừng và vui hết chỗ nói. Cuộc gặp gỡ với ông Tín đã kéo dài hết cả một buổi sáng. Trong buổi trò chuyện đó, ông nhấn mạnh:

“Cả cuộc đời làm tình báo của tôi, tôi kính trọng nhất ông Nguyễn Phổ. Tôi kính trọng không phải vì ông ấy nhiều chiến công, không phải chỉ vì ông bị oan, tôi kính trọng đức hy sinh của ông Phổ!

Việc ông bị 17 năm tù vô cớ, nhưng chính thức phải là 21 năm. Bởi lẽ khi các vị ấy bắt ông Phổ phải đeo cái án 15 năm (không bằng chứng), nhưng trong 15 năm đó, có 2 lần ông Phổ được tặng giấy khen do thành tích ‘cải tạo’ tốt, và mỗi lần được giấy khen, đều có kèm theo phần thưởng là, giảm án tù 2 năm. Vậy án tù phải được giảm 4 năm, 15 trừ 4 còn 11 chứ, tại sao lại là 17 năm???”

Ông Phạm Bá Tín tâm sự:

“Qua điều tra và nghiên cứu của chúng tôi, suốt 17 năm đó, ông Phổ tuyệt nhiên không một lần than vãn. Ông Phổ chỉ im lặng chịu đựng. Ông có lối suy nghĩ cao thượng lắm, cao thượng ở chỗ này; Con cái ông lên trại cải tạo thăm ông, các con ông buồn lắm, có người khóc vì nhìn thấy bố khổ quá, nhưng ông bảo: Các con đừng buồn nữa, cuộc cách mạng nào cũng hoạt động như một cỗ máy. Một cỗ máy muốn vận hành được thì phải có nhiên liệu, phải có dầu, mỡ chứ. Khi cỗ máy hoạt động, việc một vài giọt dầu văng ra ngoài là chuyện bình thường, cha cũng như những giọt dầu văng ra khỏi cỗ máy đó thôi các con ạ!

Ông Tín nhắc đi nhắc lại câu nói này của ông Phổ với hai chúng tôi. Ông khẳng định:

“Cả cuộc đời làm tình báo của tôi, tôi không bao giờ quên và tôi kính trọng ông Phổ nhất, tôi thương ông ấy nhất…!”

Sự ngậm ngùi với tình cảm chân thành của ông Tín, càng làm tăng nỗi đắng cay trong tôi khi nghĩ về người bác ruột của mình.

Những tư liệu chúng tôi ghi nhận được qua ông Tín, cùng với bao nhiêu những hiểu biết khác về bác Nguyễn Phổ, đã giúp cho Việt Hằng và tôi yên tâm về tính trung thực của dữ liệu sẽ dùng cho bài báo sẽ viết.

Tôi còn đưa cả Việt Hằng đến thăm bác Phổ gái, lúc này bác đã yếu lắm rồi, và cũng chính thực tế này, đã thúc đẩy chúng tôi càng phải khẩn trương hoàn thành bài báo, vì bác gái có nói với hai chúng tôi thế này:

“Bác yếu lắm rồi, chẳng biết được đến ngày nào, nếu báo in được về bác trai, Bình nhớ đem ngay cho bác nhé!”

Ảnh chụp ông bà Nguyễn Phổ và người con trai cả Nguyễn Lân Sử, trong buổi tiếp đoàn cán bộ Tổng Cục 2 Bộ Quốc phòng năm 1995 tại nhà riêng.

Có ai biết được, ở cõi đời này, nhiều khi con người dù chỉ nuôi những mong muốn đơn giản, chính đáng, dù nó chỉ là những nguyện vọng bé nhỏ thôi, đôi khi tưởng như ngẫu nhiên nó sẽ là như thế… Nhưng cuối cùng, nó vẫn như bị phụ thuộc vào định mệnh!

Việt Hằng và tôi hăng hái, trao đi đổi lại những chi tiết dùng cho bài báo đến năm lần, bảy lượt. Rồi chúng tôi cân nhắc việc sẽ đưa cho báo nào để đăng? Báo nào sẽ đồng ý với chúng tôi và ‘dám’ đăng?

Loanh quanh hơn 4 tháng trời, rồi cũng đến một ngày vui, Việt Hằng thông báo cho tôi:

“Anh ơi, báo An ninh Thế giới đồng ý rồi, ông Nguyễn Như Phong (Phó TBT) duyệt rồi, sẽ cho đăng luôn vào số báo kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám đấy anh ạ! – Lúc này TBT là Hữu Ước”.

Tôi vui phát cuồng, vội nhận lời ngay với mấy người bạn đi xuống Quảng Ninh 3 ngày như một sự tự thưởng. Tôi định bụng, lúc mình về là đã có báo ra, mình sẽ hân hạnh và hãnh diện đem dâng cho bác Phổ gái, chắc bác sẽ phải vui lắm.

Ngược lại, tôi tự hỏi, vì sao từng ấy năm, sau khi bác Phổ tôi được ‘minh oan’ (1982), được truy lĩnh các quyền lợi chính trị, nhận huân chương Chiến thắng và huân chương Kháng chiến… mà cho đến lúc này, chưa bao giờ thấy có ai viết điều gì vinh danh ông, an ủi những nỗi đau của ông?

Nhiều người có liên quan, có hiểu biết xa gần về sự việc của ông Phổ, khi trao đổi với tôi đều nói giống nhau: Chuyện ông Phổ nó ‘nhạy cảm’ lắm, khó nói lắm… Cách lảng tránh của họ như vậy nó ẩn chứa điều gì? Vì sao chuyện ông Nguyễn Phổ lại là nhạy cảm? Việc này, khi có điều kiện, tôi sẽ xin phúc đáp nếu có bất kỳ ai quan tâm.

Tôi xin quay lại chuyện in bài báo. Ngay hôm đến Bãi Cháy, tôi nhẩn nha lang thang, tung tẩy, ăn uống trong tâm trạng của một kẻ phởn chí, mặc dù những người chung quanh tôi chỉ nghĩ đơn thuần, rằng tôi đang hưng phấn!

Chiều cùng ngày hôm đó, về đến khách sạn, tôi tính ngay đến chuyện xuống bể bơi cho thỏa thích. Bỗng lại có điện thoại của Việt Hằng, giọng đầy sự thất vọng… “Anh ơi, hỏng hết rồi. Sáng nay, Tòa soạn duyệt lần cuối cùng… và quyết định gỡ bài trên bản in thử xuống rồi!”

Tôi bỗng vụt trở thành kẻ mất hồn. Thôi, phải về Hà Nội ngay, tôi trộm nghĩ. Nhưng tôi cũng tự vấn, về ngay tôi sẽ làm được gì? Tôi là thằng nào mà đòi làm gì…?

Tôi đã từng trải qua cảm giác về sự sụp đổ, do chứng kiến báo Nhân Dân số Tết Nguyên Đán năm 2003 (Thời Đinh Thế Huynh là TBT), cũng vào phút chót, đã gỡ một bài viết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh của giáo sư hàng đầu Việt Nam về Vật lý hạt nhân Đinh Ngọc Lân (1929) vì lý do… ‘tế nhị’!

Nhưng lần này tôi có tâm trạng hơi khác. Những kiểu cảm xúc này của tôi rất khó để chia sẻ được với người đang có mặt chung quanh mình. Tôi nói với Việt Hằng:

“Mình đi tìm báo khác vậy, quan trọng là họ nhận đăng. Tôi đang ở xa, nhưng tôi cũng sẽ a lô cho một vài nơi. Ngày mai tôi về, bọn mình gặp nhau rồi cùng tháo gỡ, biết làm sao bây giờ???”

Việt Hằng nói an ủi tôi:

“Rồi, anh bình tĩnh đi, em đi ngay bây giờ, có thế nào em báo lại ngay!”

Đến giờ vào bữa ăn chiều, vừa ngồi xuống bàn, mấy người chung quanh phát hiện thấy thái độ của tôi không như lúc buổi trưa, có người lập tức đùa: Ông này làm sao thế? Có chuyện gì mà mặt mũi như đưa đám vậy? Tôi chỉ biết cười nhạt, làm sao tôi giải thích được, mà nếu có giải thích, chắc chắn mọi người cũng không ai chia sẻ được với tôi, vì họ có quan tâm đến những nỗi trăn trở của tôi bao giờ đâu?!

Lâu nay, xã hội đã tạo cho quá nhiều người lối sống thực dụng, lúc nào cũng bị ám ảnh: làm việc này có ‘mầu’ không? Được bao nhiêu? Có ra tấm ra bánh thì mới bõ… Chứ không dễ tìm được người để giãi bày những chuyện khúc mắc trong tâm lý, tình cảm hay tư tưởng.   

Nói như vậy về người đời chắc cũng chẳng phải, vì ngay như ruột thịt của tôi, cũng có người nhìn những việc tôi theo đuổi là sự háo danh, là mệt người, chẳng để làm gì… vì nó không sinh lời, chuyện ngày xưa ấy mà!!!

Và bỗng điện thoại của tôi lại réo, vẫn là Việt Hằng:

“Anh ơi, xong rồi, OK anh ạ. Báo Gia đình và Xã hội nhận ngay, họ cho xắp chữ ngay trong đêm nay anh ạ, đăng làm 2 số vì mình đưa muộn, cột báo hết chỗ rồi. Thôi thế cũng được, anh thoải mái đi, đừng sốt ruột nữa, thế nhé!”

Chao ôi, tôi có thể nói gì với những người đang ở quanh mình? Hét lên ư, họ sẽ bảo tôi không bình thường, chia sẻ ư? Họ sẽ bảo: Báo chí à, sốt ruột…! Tôi đành giữ thái độ êm dịu, nhưng trong lòng vô cùng xốn xang.

Tôi tưởng tượng ra cảnh, sáng ngày mai, các anh các chị tôi sẽ ra mua báo từ sớm để đem về dâng bác Phổ gái của tôi, để lòng dạ bác được an ủi, để nếu bác có đi gặp bác trai, bác sẽ có gì đó để kể: Cõi trần, con cháu và người đời thương ông lắm, chúng nó nhớ ơn ông, ông yên tâm, nỗi oan của ông đã được giải! Tôi khoái chí âm thầm, và rót vodka vào cốc không dè dặt…

Kết cục ngang trái

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, tôi đã quen dù ở hoàn cảnh nào cũng vậy. Rửa mặt mũi tươi tỉnh, chưa kịp định thần rằng mọi chuyện đêm qua ra sao với việc in báo? Không biết bài báo có vướng mắc gì không? Liệu có lần thứ ba không? Tôi đang phân vân, mấy giờ thì nên điện cho Việt Hằng?

Bỗng điện thoại lại réo: “Bình à, anh Tuấn đây…” (Lân Tuấn, con trai lớn của bác Nguyễn Phổ). Tôi nghĩ nhanh và lộn xộn, suy đoán… không biết sớm thế này mà người anh họ của mình đã biết được là có báo in bài về bác Phổ tôi rồi sao? Giỏi quá…

Nhưng không, anh Tuấn nói rành rọt: “Bình ơi, bác gái mất đêm qua rồi…!”

Tôi thật sự bị điên, điên vì, vậy là tôi đã thất hứa với bác Phổ gái, điên vì quá nhiều diễn biến căng thẳng trong một thời gian quá ngắn, tôi điên vì cặp cụi hơn 4 tháng trời mới ra nổi bài báo quan trọng (những bài trước đó chỉ 15 ngày là dài) để dâng cho một con người, mà cuộc đời không dám ao ước gì cao xa, chỉ mong được thấy người đời sẽ xử sự trân trọng với người chồng khổ hạnh của mình, chí ít là qua truyền thông đại chúng…

Vậy mà, đúng vào lúc bài báo được xắp chữ lên khuôn, mang đến bằng cứ là giấy trắng mực đen, để an ủi cho một con người đang hấp hối, giải toả sự oan nghiệt của một người là niềm tin máu thịt của mình, lại cũng chính là lúc ngọn đèn đó phụt tắt!

Phần 2 của bài báo “Giọt dầu văng đi không ai biết tới” trên báo Gia đình Xã hội tháng 8 năm 2005, tác giả Việt Hằng.

Tôi còn điên vì nỗi, không chia sẻ được với những người xung quanh điều cay đắng mình vừa gặp. Tôi cắn răng, nức nở gọi điện cho Việt Hằng để báo tin xấu. Việt Hằng nghe điện của tôi chỉ biết ôi…ôi…Tại sao lại thế hả anh?

Tôi ngậm ngùi gọi lại cho người anh họ để khẳng định rằng báo đã ra rồi, các anh các chị mua ngay nhé, tôi đang ở xa, chiều nay mới có mặt ở Hà Nội… Tôi ấm ức cho đến tận chiều tối khi về đến Hà Nội, và còn xót xa hơn khi các anh các chị tôi điện thoại cho biết:

Các anh, các chị mua được báo ngay, cũng là lúc trên đường đưa thi thể bác gái ra nhà lạnh ở Phùng Hưng, các anh các chị ngồi trên xe chở thi thể của bác còn ấm và xe vừa chạy, các anh các chị vừa đọc bài báo cho bác nghe như mẹ còn sống, với ý nghĩ an ủi, vớt vát rằng, mẹ vẫn nghe được..!”.

Càng nghĩ, tôi càng xót xa, cay đắng, nước mắt cứ thế chảy, và nhận ra rằng: Định mệnh oan nghiệt của gia tộc chúng tôi không đè riêng lên mệnh một người nào, nỗi đắng cay không dành cho riêng một ai, thậm chí đến cả người hấp hối!!!

Các con cháu ông Nguyễn Phổ trong buổi tang tại số 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội

Dư âm

Tôi viết những dòng này để kỷ niệm 5 năm bài báo “Giọt dầu văng đi không ai biết tới” được đăng trên báo Gia đình và Xã hội ngày 7/8/2005, một bài báo trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm trong quá trình hình thành.

Chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi về bài báo này với tấm lòng chia sẻ và cảm phục sự hy sinh của ông Nguyễn Phổ, tuy nhiên có nhiều độc giả chưa hài lòng với nội dung, do còn quá cô đọng của bài báo.

Cũng xin được thú nhận với các quý vị và các bạn một thực tế, trường hợp của ông Nguyễn Phổ không chỉ đơn thuần là sự ‘thiếu sót’ của những cơ quan có trách nhiệm trong giai đoạn đất nước bị chia cắt thành hai miền, nó cũng không đơn thuần chỉ là sự ‘nhầm lẫn’ giữa hai cơ quan An ninh Quốc phòng và cơ quan Công an…!

Tôi thấm thía khi nghĩ về câu nói của giáo sư Sử học Phan Huy Lê trong bộ phim tài liệu, về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, ông nhấn mạnhnhư sau:

“Có những việc trong bối cảnh nhất định, nhà sử học không thể nói ra được sự thật, nhưng cái gì đã nói thì phải nói đúng sự thật!”

Chuyện về bác Nguyễn Phổ của tôi còn rất dài, bởi lẽ đời, không bao giờ có gì ‘tự dưng’ như ai đó vẫn nói, cách nói hòng để tránh đi việc phải suy tư phức tạp, mà nó phức tạp, cũng bởi nguyên nhân do chính con người gây ra!

Chú thích:

1. Hồi ký Nguyễn Dực hoàn thành tháng 9/1999. Ông Nguyễn Dực mất tháng 1/2000.

Minh họa cho bài viết này, các bạn độc giả có thể xem bộ phim tài liệu của truyền hinh Quân đội Nhân dân nhan đề: “Chuyện bây giờ mới kể” trên trang mạng www.tanamtu.com, mục Phim ảnh.

Hà Nội, ngày 5/8/2012.                                                 NGUYỄN LÂN BÌNH hiệu đính và chỉnh sửa: Ngày 2/12/2021 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network