
Đầu năm 2006, tôi nảy ra ý định làm bộ phim tài liệu lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, vì tôi phải chứng kiến quá nhiều sự bất công và những dụng ý không tốt của thế giới quyền lực, muốn lảng tránh việc nói những gì liên quan đến ông.
Tôi không có khái niệm gì về quy trình, quy phạm trong lĩnh vực điện ảnh và lịch sử khi làm một tác phẩm, tôi đơn thuần bám vào ý thức, cần phải xâu chuỗi những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm trong quá khứ, bởi lẽ, suốt một chiều dài lịch sử, những gì bàn về Nguyễn Văn Vĩnh đều rất rời rạc, khập khễnh và cả sự méo mó. Việc tổng quát những gì ông đã làm, sẽ có lợi đầu tiên là cho hậu duệ, con cháu của chính ông, rồi xa nữa là xã hội, là lịch sử, không nhất thiết là các đối tượng đó muốn hay không muốn, có thể thích hay không thích….
Với vốn hiểu biết ít ỏi, nông cạn về nhiều mặt, nhưng tuyệt nhiên nó đã không ngăn cản tôi cảm nhận được về một trong những lĩnh vực cực kỳ ấn tượng của Nguyễn Văn Vĩnh để lại, đó là việc dịch các tác phẩm kinh điển của các nhà văn, nhà khoa học, các triết gia hàng đầu của thế giới từ tiếng Pháp ra chữ viết tiếng Việt, từ lúc người Việt Nam còn chưa đồng thuận, rằng có chắc chắn sẽ dùng chữ Quốc ngữ làm thứ chữ phổ thông cho dân tộc mình hay không?!
Suy ngẫm trước bảng thống kê các đầu sách Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt trong ba thập niên đầu ở thế kỷ 20, tôi ấn tượng mạnh khi đọc đến tên các tác giả của những tác phẩm đó.
Thực chất, cho đến lúc tôi bắt tay vào làm công việc này, tôi chỉ được nghe, biết rất mơ hồ qua các thầy cô giáo khi mình còn là học trò, cùng những người lớn thường nhắc đến đôi ba tác giả của những tác phẩm mà Nguyễn Văn Vĩnh đã từng dịch sang tiếng Việt. Phải thú nhận, trong cuộc đời mình, tôi chỉ đọc được vài ba tác phẩm của các tác giả lừng danh đó qua bản dịch của những người khác, những dịch giả được thể chế chính trị đương thời thừa nhận, chứ không phải những bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh xuất phát từ ý thức vì sự phát triển của giống nòi mà được xuất bản đầu tiên, từ lúc nhiều dịch giả đi sau còn chưa được sinh ra.
Các tác giả người Pháp mà tôi ấn tượng do được xã hội vinh danh qua truyền thông, rằng đó là những con người có tài năng kiệt xuất, là những cây bút vĩ đại, là những kẻ đi đầu trong việc đấu tranh chống lại sự bất công, và giúp nhân loại giành quyền bình đẳng… Sự vinh danh này cũng được toát ra từ chính những thế hệ hậu sinh, tồn tại ngay trong một thể chế chính trị được mệnh danh là ‘duy ý chí’, là ‘thiếu khách quan’, là ‘toàn trị’….
Tóm lại, vào cái thời buổi mà dân tộc Việt còn đang trong cảnh hồng hoang về ngôn ngữ, về chữ viết, về văn học, về văn hóa tư tưởng ở những thập niên đầu thế kỷ 20, Nguyễn Văn Vĩnh đã nghĩ gì, đã nhận thức thế nào, và đã cảm thụ đến đâu những nội dung sâu xa của các tác phẩm do các tác giả kiệt xuất đó đã tạo ra như: “Chuyện thơ ngụ ngôn” của La Phông Ten, “Những Người Khốn Khổ” của V. Hugo,“Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ” của A. Duma, “Miếng Da Lừa” của H. de Banzac, “Người Bệnh Tưởng” của Moliere… để chuyển sang tiếng Việt và giới thiệu với đồng bào An Nam của ông?!
Cần nhớ, vào giai đoạn lịch sử đó, sự thiếu hoàn chỉnh mang tính văn học của chữ viết dùng ký tự La Tinh của người Việt Nam còn khá nghiêm trọng, thì việc diễn giải bằng tiếng Viêt để dân chúng tiếp thu được những quan niệm xã hội, những tiêu chuẩn văn hóa của phương Tây, là một việc khó đến mức không thể không ấn tượng.
Đó là chưa nói tới những tác giả là các triết gia, các nhà chính trị xã hội, các nhà tư tưởng của cuộc cách mạng khai sáng ở thế kỷ 18, mà Nguyễn Văn Vĩnh để tâm, và đã dịch một số tác phẩm, hoặc các trích đoạn trong các tác phẩm của họ như: Vôn Te (Voltaire), Rút Xô (Rousseau), Pierơ Cóc Nây (Pierre Corneille)… Xong ngày ấy, ông đã không đầu tư cho việc quảng bá sâu rộng các kết quả đó, như các tác phẩm văn học. Hình như, ông nhắm vào môi sinh văn hóa nhiều hơn, do ông hiểu khả năng tiếp nhận và cảm thụ của dân chúng giới hạn ở đâu?!
Vậy là, trong những gạch đầu dòng cần phải quan tâm đến sự nghiệp truyền bá văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh, các tác giả của các tác phẩm nổi tiếng nhất thế giới mà ông chọn dịch, đều là người Pháp, và đều cần phải được nêu trong bộ phim tài liệu mình dự kiến. Tôi nhận thức, những lựa chọn của Nguyễn Văn Vĩnh, ngoài tinh thần văn hóa, văn học, đều hàm chứa tính đạo đức và cả tính chính trị xã hội. Tôi nghĩ đơn thuần như thế khi quyết định làm phim tài liệu về Nguyễn Văn Vĩnh.
Bộ phim không có kịch bản (điều mà đạo diễn Trần Văn Thủy phản đối tôi gay gắt khi tôi khẳng định với những người quan tâm, nhưng sự phản đối của ông chỉ diễn ra sau khi bộ phim hoàn thành!), không có cả định lượng thời gian, vì vậy những cảnh quay hầu như phụ thuộc vào ý đồ, khuynh hướng nhận thức của người tổ chức sản xuất, cùng với vốn hiểu biết của đạo diễn và các cộng sự mà tôi đã lựa chọn, bao gồm cả sự sắp đặt của Tạo hóa.
Tháng 9 năm 2006 nhóm làm phim có mặt tại Paris, và cho đến thời điểm đó, nhóm mới quyết định chính thức việc cần phải đi đến đâu, quay những địa danh văn hóa lịch sử nào liên quan đến sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh.
Người tổ chức sản xuất là tôi, nhưng là kẻ ‘ngu ngơ’ vì là lần đầu tiên đặt chân đến nước Pháp, đến Paris, vậy làm sao biết cách đi tới những địa danh, vùng miền và các di tích văn hóa liên quan đến những nhận thức khởi nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh từ năm 1906, khi ông đến Pháp lần đầu tiên dự Hội chợ Thuộc địa (Đấu xảo)?
Tôi vốn rất tin vào những thế lực vô hình, mà ở đây trong các bước đi của đời người thường hay được gọi: Có quý nhân phù trợ! Tôi muốn nói đến tấm lòng của ông Nguyễn Khánh Hội, người Nam bộ, là Chủ tịch của một tổ chức thiện nguyện mang tên “Ký ức Việt Nam – Vietnam Mémoire”. May mắn nữa cho tôi, là đạo diễn phim tài liệu Trần Văn Thủy và quay phim Nguyễn Sỹ Bằng, đều là những người từng đến và am hiểu Paris. Đặc biệt là có sự giúp đỡ của anh Roges Hùng, cũng là một người Nam Bộ, sang Pháp từ lúc mới có một tuổi nhưng rất giỏi tiếng Việt, và lúc đó anh đang là Giám đốc cơ quan bảo vệ quyền tự do internet của Chính phủ Pháp.

Với tôi, những con người kể trên đều là các quý nhân, xong họ giúp đỡ, chia sẻ và nỗ lực đến thế nào trong quá trình làm phim lại không phải do tôi, mà do sự nghiệp đồ xộ, lung linh, sáng chói của Nguyễn Văn Vĩnh đã cuốn hút họ. Nhờ vậy, khi tôi nêu suy nghĩ về việc tìm những gì liên quan đến các nhà văn là những tác giả của các tác phẩm mà Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch, đã gắn bó để tâm trong quá khứ, thì… đạo diễn Trần Văn Thủy khẳng định ngay, phải tìm đến Điện PANTHÉON!
Một ngày trời đẹp, đứng trước Điện PANTHÉON, nhưng ý thức của tôi vẫn rất mơ hồ. Cảm giác là chỉ thấy sự uy nghi, đồ xộ của công trình, mà tuyệt nhiên chưa biết được mảy may những gì là giá trị ở bên trong, nơi sẽ làm mình rung động.

Bước chân vào sảnh chính, tôi sững sờ trước một không gian tráng lệ, với những cảnh trí hoàn toàn nằm ngoài sự tưởng tượng của một kẻ ngây ngô là tôi, vả lại, có thể vì tôi chỉ quen với phương thức trình bày ở các bảo tàng ở trong nước. Tôi xin anh Roger Hùng giải thích một vài câu văn được viết trang trọng theo phong cách mà tôi tự cho rằng, khó có thể trịnh trọng hơn như mình chứng kiến. Tôi mường tượng ra những lý do để người ta đặt viết các câu văn đặt tại sảnh chính, như sự tuyên ngôn về những giá trị dâng hiến của những con người vĩ đại được lưu giữ phần mộ của mình tại đây, nơi mà mặc nhiên nó được gọi là linh thiêng này.
Lịch sử ghi rõ: 15.8.1930, Điện PANTHÉON được đặt tên là Temple de la gloire (Điện Vinh quang), còn giai đoạn từ năm 1848 đến năm 1851 gọi là Temple de l’Humanité (Điện Nhân loại).
Chúng tôi (Nhóm làm phim) không được phép ở lâu trong La PANTHÉON, vì chúng tôi chủ trương quay camera, điều mà theo quy định là không được phép, mặc dù chụp ảnh không bị cấm. Vì vậy, chúng tôi phải nhanh chóng tìm đến các hầm mộ của những nhà văn, những đối tượng là những tác giả của các tác phẩm mà sinh thời, Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn để đọc, dịch ra tiếng Việt và truyền bá cho dân chúng.

Khi còn ít tuổi, tôi biết nhà văn Alexandre Dumas cha, tác giả của cuốn tiểu thuyết Ba chàng ngự lâm – Les trois mousquetaires, câu chuyện được dựng thành phim và được Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) trình chiếu vào các buổi chiều Chủ Nhật của những năm 1980. Rồi bộ phim Những Người Khốn Khổ của nhà văn Victor Hugo, dựng theo bộ tiểu thuyết cùng tên, cũng do Đài THVN phát sóng với cái giọng thuyết minh đầy âm hưởng của bà Thu Thế, càng làm cho những ai được may mắn xem phim phải nhớ mãi…. Còn hôm nay, tôi đứng trước phần mộ của những con người vĩ đại này, thấy mình thực là kẻ may mắn, so với bao người không thiếu lòng ngưỡng mộ những danh nhân văn hóa của nhân loại.
Hôm đó, khi tôi đọc phần tóm tắt được giới thiệu tại chỗ của các danh nhân, tôi mới vỡ òa rằng, vậy là Alexandre Dumas cha, tác giả của tác phẩm bất hủ Ba Chàng Lính Ngự Lâm và Bá Tước Monte Cristo chết từ năm 1870, nhưng phải mất tới 132 năm sau, tức năm 2002, phần mộ của ông mới được quyết định đưa vào lưu giữ tại Điện PANTHÉON linh thiêng, và tôi ngẫm ra được thật nhiều điều cho những gì mình trăn trở và đang theo đuổi….

Còn bao nhiêu nữa, những ấn tượng nông sâu của tôi đã hình thành nhờ cuộc thăm viếng tưởng như ‘vô tình’ này. Và, đến một lúc, tôi nghiệm ra rằng, có được mối lương duyên này, là nhờ dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, là nhờ những tấm lòng của nhân gian, của những người thân, của các cộng sự trong nhóm làm phim, những người cảm nhận được những giá trị muôn thủa của tri thức văn hóa do Nguyễn Văn Vĩnh để lại.
Tôi biết ơn Tạo hóa, biết ơn số phận, biết ơn sự soi đường chỉ lối của các bậc tiền nhân, và cũng từ ngày đó, tôi đã mạnh dạn thay đổi một phần lối sống của bản thân để xứng đáng hơn với tấm lòng quảng đại của các vị Thánh hiền và những người tử tế!
NGUYỄN LÂN BÌNH
Tài liệu liên quan: Điện Panthéon: Nơi tôn vinh những con người vĩ đại của nước Pháp. https://tannamtu.id.vn/?p=5254.





