NGUYỄN VĂN VĨNH – PHẠM QUỲNH – KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT!

Thưa các quý vị và các bạn!

Vào thời điểm hiện tại, xã hội đang chìm ngập trong dịch bệnh, cùng với những hệ lụy do nó gây ra, không chỉ gây khó cho một một vài vùng miền, hay một vài nhóm người, mà nó thực sự quá khó cho tất cả những gì hiện hữu.

Tuy nhiên, trong cái không khí rối ren đó của cuộc sống, những vấn đề liên quan đến danh dự, đặc biệt là danh dự của những con người đã khuất, với cả một lịch sử đồ xộ, cùng những tình tiết mạch lạc, gắn với bản chất trung thực và những dâng hiến để đời của mình cho nền văn hóa của dân tộc, vậy khi thanh danh của người đó bị cố tình hiểu sai với chủ ý áp đặt, thì kể cả trong cơn hoạn nạn, những kẻ liên quan có lòng tự tôn, vẫn cần phải đấu tranh để làm rõ, thậm chí phải đạt tới sự minh bạch.

Việc làm rõ không để mưu cầu bất kỳ điều gì liên quan tới danh và lợi, nhưng phải minh chứng để người đời hiểu đúng sự thật, bản chất thật của một con người thật, nhờ đó hậu thế sẽ hiểu đúng, vì sao lịch sử liên quan đến danh phận người đó lại trở nên lắt léo, với nhiều góc khuất, và việc bóp méo sự thật nhằm mục đích gì, cho ai? Làm rõ những việc này, hậu thế sẽ không vô tình phạm phải điều mà nhân loại coi là đạo đức: Sự vô ơn!

Trong tháng Bẩy 2021, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP. HCM vừa cho ra mắt một cuốn sách có đầu đề ‘Đông Dương Tạp Chí (ĐDTC) với tiến trình đổi mới văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX’. Cuốn sách in 200 bản, 178 trang không kể phụ lục.

Đây là một đề tài đã được bàn đến rất nhiều kể từ khi người Việt Nam có nền văn học chữ Quốc ngữ. Sự bàn luận về vai trò của ĐDTC 1913 không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà nó còn trở thành đề tài khoa học cho nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước suốt năm mươi năm qua. Điều này nói lên những giá trị có một không hai của ĐDTC, bởi sự ra đời của tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ này mang đã tính dấu ấn, do nó rơi vào thời điểm lịch sử nhạy cảm trong quá khứ của dân tộc này.

Có đúng ĐDTC có mặt vào giai đoạn mà chữ quốc ngữ chưa được sử dụng làm quốc tự cho người Việt Nam?! Rõ ràng là vậy, và mặc nhiên nó trở thành tư liệu hàm chứa vô vàn những dữ kiện, chứng cứ của xã hội đương thời, và cả những con người lịch sử đã làm ra cốt cách của tờ báo.

ĐDTC là cột mốc của sự hình thành nền văn học chữ Quốc ngữ, điểm khởi đầu cho nền công nghiệp báo chí phổ thông, hình thành nền truyền thông đắc dụng nhất cho mọi cuộc cách mạng theo sau. Và hiển nhiên, đây là lý do đầu tiên làm hấp dẫn sự quan tâm của giới nghiên cứu, và cũng là đòi hỏi của lịch sử của một nền văn minh!

Cần nhấn mạnh, tờ báo được sinh ra ở Bắc kỳ, là vùng miền chính trị có nền dân trí thấp hơn so với Nam kỳ, do sự chi phối của chế độ Thuộc địa. Sự hấp dẫn các nhà nghiên cứu bởi việc, tờ báo là ngã rẽ đầu tiên về văn hóa, khi hệ thống cai trị An Nam còn đang dùng chữ Hán và chữ Nôm trong quan hệ hành chính, bao gồm cả hệ thống giáo dục khoa cử (làm quan), từ chương (thuộc lòng), và chữ Pháp vẫn đang gồng mình cạnh tranh tìm chỗ đứng trong lịch sử thuộc địa ở Đông Dương.

Để đánh giá toàn diện về vai trò của ĐDTC 1913, về những nhân sĩ đã nuôi dưỡng nó về mặt nội dung, tư tưởng, là một nhu cầu đối với thời đại khi nói tới những gương mặt liên đới, mà hôm nay nhìn lại, người ta không thể gọi khác, nếu không gọi đó là những tinh hoa trí tuệ của một giống nòi. ĐDTC nhiễm nhiên là bước ngoặt về văn hóa tư tưởng của người Việt Nam ngay từ thập niên thứ hai của thế kỷ 20.

Với lý do hệ trọng này, người nghiên cứu cần sự chính xác, công bằng và khách quan, không quan trọng là nó sẽ được thực hiện theo khuôn khổ, quy mô nào!

Vậy một cuốn sách có nội dung liên quan đến lịch sử văn hóa và tiến trình hình thành nền văn minh hiện đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20, nó cần những sự cẩn trọng nào? Mặc dù ai cũng hiểu, rằng muốn hay không, những sản phẩm văn hóa xã hội luôn lệ thuộc vào sự chi phối của môi sinh chính trị. Nhưng làm công việc khoa học, hãy công minh, bởi đó là lương tâm của người làm chuyên môn.

Cuối thế kỷ 19, ở Nam kỳ đã xuất hiện những ấn bản đầu tiên mang phong cách báo chí, thực chất được gọi là công báo. Đầu thế kỷ 20 ở Bắc kỳ cũng bắt đầu xuất hiện vài đầu báo có một phần nội dung in quốc ngữ. Tuy nhiên, vì rất nhiều lý do, sự xuất hiện của những ấn bản mang phong cách báo chí đó, đã không thể trở thành lá cờ kêu gọi, dẫn dắt dân chúng tìm đến một định hướng văn hóa như ĐDTC 1913.   

Sự chững chạc về phong cách của ĐDTC 1913 từ khi người Việt Nam chưa có khái niệm về truyền thông in ấn, thể hiện khả năng tổ chức, điều hành của người Chủ bút. Theo các ghi chép lịch sử, hầu hết những gương mặt là thành viên của Ban Biên tập (BBT) đều được liệt vào hàng ngũ các nhân sĩ tinh hoa của cả phái cựu học (Hán học) và phái tân học (Pháp học) ở Bắc và Trung kỳ, và đều có quan hệ bạn bè với người Chủ bút. Điều này đủ thấy năng lực và uy tín của kẻ cầm đầu, cho dù kẻ đó không phải là người chi tiền, giống như lối sống thời hiện đại hôm nay!

ĐDTC 1913 mang đặc điểm chính trị vì là lần đầu tiên, ngành báo ở Việt Nam xuất hiện với vai trò là quyền lực thứ tư, một thứ quyền lực có xuất xứ từ phương Tây, mà phương Tây trong quan niệm và ý thức người An Nam ngày ấy là sự xấu xa. Chưa nói tới việc nó quá mới mẻ trong hiểu biết dân trí của xã hội Việt nam, nó mới đến mức, đa phần không hiểu vì sao nó được gọi là ‘quyền lực’?!

Suy ra, thứ quyền lực vô hình này dù muốn công nhận hay không, nó cũng đã được du nhập và hình thành từ chính những bộ óc làm nên ĐDTC, cha đẻ ngành báo chí hiện đại ở Việt Nam, điều mà bản thân đầu đề cuốn sách cũng đã xác nhận là: tiến trình đổi mới văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX’!

Vậy vì sao các tác giả cuốn sách không tự hỏi, rằng những nhân sĩ chủ chốt của ĐDTC ngày ấy, đã lấy đâu ra lòng dũng cảm, sự thông thái, và cả sự liều lĩnh trong việc lái mục tiêu chiến lược của tờ báo khi thành lập là ‘dẹp loạn’ (Vì quyết định ra báo là của Nhà Cầm quyền), hướng theo quỹ đạo có lợi cho nền dân trí, văn hóa của người dân bản xứ, đi ngược với chính sách ngu dân của Chính quyền?

Vì là lịch sử chính trị và văn hóa, người làm sách càng cần cẩn trọng trong việc nắm bắt đầy đủ những yếu tố khách quan, cùng nhãn quan xã hội thể hiện tính trung lập, cho dù thực tế, đây là một đòi hỏi cực khó ở xã hội Việt Nam đương đại.

Sự kiện chính trị quan trọng đặc biệt phát sinh từ ĐDTC 1913, đó là sự phân hóa tư tưởng trong nội bộ BBT của tờ báo sau hai năm đầu hoạt động, được xuất phát từ đâu? Kẻ chủ trương là ai? Có nhà nghiên cứu nào biết và có bằng chứng xác thực, rằng lý do sâu xa nào đã đẩy nhà báo Phạm Quỳnh (1890-1945) tách ra làm Tạp chí Nam Phong 1917 ? Và vì sao Phó Chủ bút của Nam Phong Tạp chí lại là Nguyễn Bá Trác (1881-1945), một người có nhân thân chính trị thế nào trong lịch sử ??? *

Đó là chưa nói đến vai trò của hai người Pháp chịu trách nhiệm trước luật pháp đương thời, lại vừa là chủ đầu tư về tài chính, ĐDTC là Jean-François-Henri Schneider, một nhà kinh doanh ngành in và xuất bản, còn của Nam Phong Tạp chí là Louis Marty, Giám đốc cơ quan chính trị Đông Dương, Chánh Sở Mật thám Phủ Toàn quyền, người từng để lại những hệ lụy lâu dài đến nền chính trị Việt Nam suốt hai thập niên 20 và 30, thậm chí còn ảnh hưởng đến danh phận của cả một vị tướng nổi tiếng trong Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Nhìn rộng ra, và sâu xuống, người ta nhận ra cội nguồn ý chí của các nhân sĩ chủ chốt trong ĐDTC, và họ đâu phải chỉ để phục vụ thuần túy chính sách đô hộ của thực dân?! Điều này, chính các tác giả cuốn sách cũng phải thừa nhận,

Họ sinh ra hoàn toàn không vì sự ‘run rủi của hoàn cảnh’ như cách đặt vấn đề trong cuốn sách. Họ, những nhân sĩ thực hiện cuộc ‘cách mạng’ này có tấm lòng, có lập trường, có lý tưởng và các kế sách thông minh, cùng với khối kiến thức phong phú thu nhận được từ việc học hỏi nghiêm túc trong kho tàng trí tuệ của nhân loại.

Xin hỏi: Nếu họ thiếu niềm tự tôn dân tộc, nếu họ không vì mục tiêu xây dựng ‘người’ Việt Nam chứ không phải chỉ là sự cai trị ‘mọi’ An Nam, hòng tìm đến tương lai tốt đẹp cho giống nòi, thì động cơ của người Chủ bút và các cộng sự nếu không xuất phát từ lòng yêu nước, thì xuất phát từ đâu, và phải được gọi là gì? 

Khi đạt được điều này, giá trị cuốn sách mặc nhiên sẽ trở nên có ý nghĩa và có ích cho sự hiểu biết của hậu thế, cùng với sự hàm ơn chân thành của những kẻ hậu sinh, vì lịch sử phải như nó có, chứ không thể như ta muốn.

Tóm lại, cuốn sách được tạo ra không nên chỉ đơn thuần phục vụ con đường danh vị của một ai đó, mà nó nhất thiết phải có được những nhận thức nghiêm khắc đến tận cùng, về những gì liên quan đến các dấu mốc trong lịch sử văn hóa, không nhất thiết là mặt trái hay mặt phải, nếu chúng ta coi lịch sử là thiêng liêng.

Tôi đề cập như vậy bởi lẽ, phần đầu của cuốn sách có khá nhiều chi tiết không khách quan, mang nặng những thành kiến của quá khứ. Các cứ liệu lịch sử và các lập luận được dẫn chứng còn thiên vị theo tinh thần của những nhóm quyền lực bảo thủ, định kiến. Có phải, hình như, theo một ‘nguyên tắc’, những tác giả cuốn sách nếu không sắp đặt có tính rào dậu như vậy, cuốn sách sẽ khó được phát hành?

Xin không phải nhắc lại vì ai cũng biết, những thập niên đầu thế kỷ 20 dân tộc Việt cực kỳ lạc hậu, vô cùng nghèo túng, với sự cai trị của cả Phong kiến lẫn Thực dân, người dân không có bất cứ thứ quyền nào được phép. Nhưng các nhân sĩ tiến bộ do được tiếp thu qua việc đọc và học, họ thiết tha nuôi chí cải cách, họ muốn đồng bào của mình sẽ có đời sống tinh thần trong tương lai như ở các quốc gia phát triển. Họ cần người dân có được tri thức, từ đó nhắm đến cuộc cách mạng dân chủ, tạo ra một quốc gia độc lập, tiến bộ, thì những kẻ tiên phong đó phải dựa vào đâu?

Ngày ấy, những người làm cuộc cách mạng văn hóa chữ viết, tuyệt nhiên đã không có đồng minh, không có sự chia sẻ của bất kỳ một thế lực ngoại bang nào, nay ta gọi là nội lực. Chưa nói tới sự chống đối quyết liệt của Triều đình Phong kiến bảo hoàng, cùng với sự xét nét của Chính phủ Bảo hộ. Nhưng họ vẫn đã hoàn thành cuộc cách mạng, lật đổ nền giáo dục nô bộc tầm chương trích cú do chế độ Phong kiến thiết lập từ ngàn đời, thay thế bằng một nền giáo dục hiện đại, với con chữ, giúp người dân tiến vào một thế giới tri thức, lấy tư duy, nhận thức và trí tuệ làm lợi khí.

Cuộc cách mạng chữ viết đã giúp người dân nhận biết được một cách căn bản, rằng thế nào là độc lập, là dân chủ, là bình quyền, là bóc lột, và cả thế nào là đấu tranh giai cấp? Việc đạt được những kết quả về tri thức văn hóa của các nhân sĩ thế hệ ĐDTC 1913 phải được gọi là huy hoàng, là ngoạn mục, và nó đã trở thành cơ sở vững chắc để những nhà cách mạng Việt Nam theo chủ thuyết Vô sản, đạt được thành công cuối cùng trong việc giành lấy chính quyền vào tay.

Đây là một lĩnh vực mà có người không muốn bàn tới, xin hãy suy ngẫm kỹ!

Chưa hết, ĐDTC 1913 là sự lan tỏa những giá trị sâu sắc của chữ viết tiếng Việt dùng ký tự La Tinh, một thứ chữ viết khẳng định tính độc lập về văn hóa của người Việt, một thứ chữ viết đã chiếm lĩnh được vị trí thượng phong, trong việc đối đầu với cả hai thứ chữ của hai thế lực khổng lồ, đã dày công trong việc thôn tính dân tộc này, là Hán văn và Pháp văn. Đây cũng là điều được thai nghén từ những nhân sĩ xuất chúng ở Nam kỳ trước đó 40 năm, xong đã không có cơ hội đạt được.

Những nhân sĩ can dự vào cuộc cách mạng chữ viết, thực chất là đã chấm dứt tiến trình đồng hóa dân tộc An Nam của các triều đại phương Bắc bằng con đường văn hóa. Và họ đã được gì ngoài việc từng bị những kẻ bảo hoàng kết án mang danh tội đồ, ‘những kẻ chặt đứt mạch văn hóa Hán Nôm…!’, thứ mạch văn hóa được tạo thành từ cả ngàn năm Bắc thuộc, thứ mạch văn hóa nô bộc.

Công lao của những nhân sĩ người Việt vừa nêu, chắc chắn các nhà nghiên cứu đều không ai coi thường. Trong sâu thẳm, họ không thể không thầm phục tài năng xuất chúng của những nhân vật lịch sử đó, nhất là trong hoàn cảnh một xã hội như đã nói ở trên, họ, không hề là ‘tay sai’ như cách đặt vấn đề ở phần đầu trong cuốn sách của NXB ĐH QG TP HCM!

Đáng tiếc, việc lên án, đôi chỗ ‘kết án’ gượng gạo một số quan điểm chính trị của những nhân sĩ chủ chốt trong ĐDTC 1913, trong khi bản thân các tác giả cũng chưa hiểu rõ nhiều khía cạnh mang tính thời cuộc lịch sử, là sự coi thường các bậc nhân sĩ là linh hồn của tờ tạp chí lịch sử quan trọng này.

Cho đến nay, chưa có một chứng cứ nào cho thấy, các thành viên trong BBT của ĐDTC 1913, được hưởng lợi hơn người về tài chính hay vật chất từ việc tham gia xuất bản tờ báo theo phong cách mới này! Tôi có không nhiều, nhưng đủ tư liệu chứng minh, họ, các nhân sĩ tiến bộ ngày đó không phải là những kẻ ham danh vọng, tiền tài, và họ cũng không sợ cả sự thù hằn của bất cứ đối tượng nào. Và như thế có được gọi là lòng yêu nước dũng cảm hay không?

Những tác giả của cuốn sách đã bỏ không ít thời gian nghiên cứu, sao lục suốt cả chục năm trời về Nguyễn Văn Vĩnh, là Chủ bút ĐDTC từ những nguồn tư liệu khác nhau, cho dù có các tư liệu không được gọi là chính thống, nhưng kẻ cung cấp chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước lương tâm, và cả pháp luật, việc này đã giúp các tác giả rất hiểu vì sao Nguyễn Văn Vĩnh phải chết, vì sao..?! Tuy nhiên họ đã ‘đành’ bỏ qua sự kiện có tính chính trị then chốt này khi nói về sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh.

Còn như, nếu ai chưa khi nào hiểu thấu đáo, về thế nào là thuyết âm mưu, xin hãy xem việc lặp lại quan điểm xấu xí và thô thiển về ‘Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh’ nêu trong phần đầu cuốn sách, mới thấy đáng tiếc cho công sức không nhỏ của họ đã bỏ ra.

Việc tạo ra một quan niệm văn hóa trong quá khứ, để dư luận ‘quen’ với cách gọi ‘Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh’ như một mệnh đề, là một thủ thuật chính trị, bởi lẽ, tất cả đều biết Nguyễn Văn Vĩnh hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi. Nguyễn Văn Vĩnh đi làm báo lúc Phạm Quỳnh còn đang học trường Thông ngôn… Nguyễn Văn Vĩnh dù bị cả sự dụ dỗ và cả sự áp chế, vẫn từ chối chấm dứt việc đấu tranh chống lại Triều đình Huế và Chính phủ Thuộc địa, từ chối tất cả những bổng lộc của hệ thống chính trị ban tặng, thì việc ông làm ‘tay sai’ cho họ để mưu cầu điều gì?

Thượng thư Phạm Quỳnh bị lực lượng Việt Minh tử hình năm 1945, còn Nguyễn Văn Vĩnh bị Chính quyền Thực dân bức hại để phải chết từ năm 1936, đủ để nhận ra cái mệnh đề lịch sử ‘Phạm quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh’ là thuyết âm mưu phục vụ cho mục đích chính trị có chính xác hay không?

Đây là một chi tiết nhạy cảm, nhưng nếu nói theo cách hiểu về Nguyễn Văn Vĩnh trong phần đầu cuốn sách, thì không khác gì cách tư duy của những người theo tư tưởng Đại Hán trước các nhân sĩ yêu nước người Việt mang tư tưởng thoát Á.

Tôi viết những dòng này, chưa phải để đánh giá hay phân tích tác phẩm, vì tôi tự biết, mình không đủ trình độ để làm việc đó. Song tôi có may mắn có, và đọc được nhiều tư liệu, chứng minh những góc độ nhận thức lịch sử thiên tả, thiếu toàn diện không chỉ của các tác giả cuốn sách, khi đặt vấn đề có tính quan điểm chính trị với người Chủ bút của tờ báo lịch sử này.

Ở một mức nào đó, chúng tôi cảm ơn các tác giả cuốn sách, đã nêu khá hệ thống những giá trị cao quý có một không hai trong lịch sử của Nguyễn Văn Vĩnh, bằng rất nhiều dẫn chứng, hệ quả của việc dày công sưu tầm tư liệu từ năm 2008. Nhưng chính vì thế, ở đây lại càng trở nên mâu thuẫn với phía bên kia là những ‘bản án’ chính trị trong quá khứ, sản phẩm của tư tưởng đố kị, bảo thủ của một nhóm người cực đoan trong bộ máy quyền lực. Sự cố gắng làm cân bằng này, nhìn rộng ra, đó chính là sự giằng xé trong lương tâm của các tác giả mà thôi.

Thưa các quý vị và các bạn!

Trong các nghiên cứu có tính chuyên đề văn hóa lịch sử của nhiều nhà khoa học thời nay liên quan đến nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, càng ngày càng lộ ra một góc nhìn khôi hài lịch sử, rằng đây là một đối thủ chính trị nguy hiểm, đáng phải loại bỏ, tiêu diệt, cả trước hệ thống Triều đình Phong kiến Nhà Nguyễn, và cả với Chính phủ Bảo hộ của người Pháp Thực dân.

Vậy, những ‘kết án’ tiêu cực về con người này của những người theo chủ thuyết Vô sản, cũng mang một nội dung tương tự như của các lực lượng chính trị kia, thì hậu thế phải hiểu Nguyễn Văn Vĩnh là thế nào? Có phải là người Việt Nam không? Và những nỗ lực dâng hiến có thật trong lịch sử văn hóa của ông ta, dành cho đối tượng nào thụ hưởng? Vì sao ông ta lại làm như vậy?

Hơn ai hết, Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt đầu tiên cổ xúy nhiệt thành nhất trong lịch sử cho việc, hãy học cách tư duy logic (Phương châm của Nguyễn Văn Vĩnh khi làm Chủ bút tờ Nhật báo đầu tiên ở Việt Nam ‘Trung Bắc Tân Văn 1917’).

Để bổ xung thêm cho sự hiểu biết về đề tài Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin được giới thiệu một trong nhiều bài viết về người đồng nghiệp của ông mà chúng tôi sưu tập được, nhờ tấm lòng của những người trân trọng Nguyễn Văn Vĩnh.

Hi vọng các quý vị và các bạn có thêm những nhìn nhận đa chiều, về một đề tài ‘gai góc’ của quá khứ. Đồng thời, là những người quan tâm đến lịch sử văn hóa xã hội, các bạn càng ngày sẽ càng nhận ra, một Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn không hề là đối tượng phải ‘gạn đục khơi trong’ để được hậu thế chấp nhận, hoặc vinh danh như cách nhận thức mang tính an ủi của các tác giả của cuốn sách ‘Đông Dương Tạp Chí với tiến trình đổi mới văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX’.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các quý vị và các bạn!

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH

Chú thích:

* Nguyễn Bá Trác sinh ở Quảng Nam 1881. Đỗ cử nhân tại Huế 1906, từng du học ở Nhật, sau quay về Trung Quốc. Năm 1914 làm việc tại Phòng Báo chí Phủ Toàn quyền Đông Dương. Trước khi làm Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nam Phong cùng Phạm Quỳnh, ông là Chủ bút tờ báo chữ Hán ‘Cộng Thị’.

Nguyễn Bá Trác từng làm Tổng đốc Thanh Hóa và Tổng đốc Bình Định. Trong cuốn ‘40 năm nói láo’ của Vũ Bằng, có viết: Cuối những năm 20, Nguyễn Bá Trác là người đã khẳng định với Toàn quyền Đông Dương khi được hỏi: “Theo ông, hiện nay ai là nhà cách mạng nguy hiểm nhất? Nguyễn Bá Trác không đắn đo trả lời: Nguyễn Văn Vĩnh…!”. Nguyễn Bá Trác bị lực lượng Việt Minh tử hình tại Quy Nhơn vào tháng Tám năm 1945 cùng thời gian với Phạm Quỳnh.

Bài viết liên quan: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, hai hệ tư tưởng khác biệt?

MỘT HỌC – GIẢ SẼ KHÔNG LỖI VỚI THIÊN – CHỨC MÌNH

(Báo Thanh Nghệ Tĩnh Tân văn số 122 năm 1932)

Thôi thì lần này ông Julien Benda lại đến phát tức lên hẳn. Mà không phải là vô cớ.

Một đạo chỉ-dụ mới bổ ông Phạm – Quỳnh vào chức Chánh-văn-phòng của đức Bảo – Đại, quyền vị ngang hàng với chức Thượng-thư.

Tức cũng là Thượng-thư vậy.

Ông Phạm – Quỳnh đi làm quan, thế là một người nữa bỏ trại trốn sang bên kia rồi. Mà trước khi ông đi cũng không nói cho ai biết.

Làng văn nước Việt – Nam, vốn không có bao người nay sảy ra sự này, thì sẽ thiệt hại không biết mấy.

Đứng vào địa-vị ông chủ-nhiệm tạp-chí Nam – Phong quyết rằng tác-giả quyển “La trahison des Clercs. Nhà học-giả lỗi với thiên-chức mình” * sẽ khăng khăng nằm chết trong chốn phòng-văn để noi theo sự-nghiệp văn-chương mà không chịu lên hoạt-động trên trường chính-trị. Cái thiên-chức một người học-giả ấy tác-giả sẽ giả lời chỉ là tìm chân-lý. Ngoài ra chỉ nên đặt mình lên trên hết cả những việc đời, đối với những sự vui hay sự buồn, không hề bận lòng tới.

Thử xem, lời trách cũng có sức nặng, nhưng thiết tưởng cũng chưa đúng với lẽ phải cho hoàn-toàn.

Kỳ thực thì lời trách ấy chỉ nhắc lại một vấn-đề thôi vậy. Tuy luận-giả vẫn kính-phục cái tư-tưởng của ông Julien Benda, nhưng xin nói rằng cách giải quyết của ông có vẻ hẹp-hòi quá. Quí hồ mình cho thành-tâm, không có gì thiên về tư-lợi, thì cái vấn-đề này có thể giải-quyết được một cách khác đúng hơn.

Thực thế, mà dù rằng chân-lý là khách không nhà, nhưng người tìm chân-lý vẫn có một tổ-quốc. Và phải có. Bởi vì tổ-quốc không những là quê hương của người học-giả, mà nhất là cái bản-vị tinh thần, người học-giả trước đã nhờ tổ-quốc mà đào-tạo bồi đắp cái tâm-hồn, rồi sau này cũng dựa vào tổ-quốc để tìm chân lý. Nói tóm lại thì thờ tổ-quốc, không phải là bội phản với chân-lý.

Lịch sử nhân-loại còn để cho ta nhiều cái chứng-cớ rất hay. Vậy một ông Goethe ở nước Đức, một ông Lamartine ở nước Pháp, một ông Bạch – cư – Dị ở nước Tàu, một ông Nguyễn – công – Trứ ở nước Việt – Nam, những bậc danh-nhân này, ta có thể nói được là họ đã nhận lầm cái thiên-chức mình khi họ nhúng tay vào chính-trị chăng. Quyết rằng không. Trái lại, chính vì lẽ đó mà các ông ấy đã trở nên những học-giả hoàn-toàn đứng đắn.

Nay nếu không muốn lỗi với thiên-chức, ông Phạm – Quỳnh chỉ nên trông những cái gương sáng của người xưa.

***

Hiện nay ở nước Nam, kỷ nguyên mới sắp xuất hiện. Nước nhà đương trải qua một thời-kỳ cải-cách. Cho được gây dựng thành cái sự-nghiệp to tát ấy, đức Bảo – Đại đã tỏ ra một vị quốc-trưởng am-hiểu lẽ phải mà vời những người tri-thức trong nước về giúp mình. Ông Phạm – Quỳnh vừa có cái học-vấn uyên-bác về cả mọi phương, vừa có cái lịch-duyệt dồi dào về những thực-sự hiện-tại, chắc là người xứng đáng dự cái địa-vị mới đó.

Ông Phạm – Quỳnh sẽ không phụ lòng hy-vọng của quốc-dân và cái lòng tín-nhiệm của đức Bảo – Đại. Đó là một điều ta không phải nghi-ngờ.

                                                                                                          Tân – nam – Tử

Ghi chú:

(*) Tên một quyển sách của ông Julien Benda vừa mới xuất bản. Nhà văn-sĩ Pháp vừa là một nhà tư-tưởng thâm-thúy kết-án những người học-giả làm việc chính-trị. Theo ý-kiến ông thì nhà văn-sĩ, nhà thi-sĩ, mỹ-thuật, nhà bác-sĩ, nghĩa là nhà học-giả không nên thờ tổ-quốc, mà chỉ nên thờ chân-lý. Tìm chân-lý là cái thiên-chức độc-nhất của những người ấy ở trên đời.

Ông Phạm – Quỳnh đã bình-phẩm những cái khuyết-điểm trong cái thuyết đó – cái thuyết có tính-chất triết-lý nhiều hơn là luân-lý – trong một bài xã-thuyết rất giá-trị, đăng ở báo France Indochine, hồi tháng Juillet 1930.

4 Responses

  1. Từ lâu em vẫn luôn nghĩ về anh, và cảm phục anh- một tấm gương bền bỉ tiếp nối, gìn giữ, phục hưng công nghiệp của tổ tông…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network