NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU QUA NGÒI BÚT NGUYỄN VĂN VĨNH

Thưa các quý vị và các bạn!

Ngày 25/12/2017, mục Tuần Việt Nam của báo điện tử Vietnamnet đăng bài “Cơ hội cho ‘con sãi ở chùa’…” có kèm bức tranh biếm họa với một câu vè thời nay: “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ”.

Nội dung thực tế của câu vè, hoàn toàn không xa lạ với công chúng, với xã hội Việt Nam, và tai hại ở chỗ, hầu như trong nhận thức của người dân, đa phần đã coi là… tất yếu và… bình thường! 

Riêng với tôi, ba mệnh đề một, hai và ba của câu vè thuộc về trách nhiệm của thể chế chính trị, của bộ máy cai trị tạo ra, và họ hiểu sâu sắc cái hậu họa do những lối sống đó sẽ mang lại, hoặc sẽ để lại, vì trong quá khứ, dân tộc này đã từng đấu tranh bằng cả mồ hôi và máu, hòng chống lại nó như một thứ giặc giã, dịch bệnh.

Với những người tiến bộ, có lương tri ở mọi thời đại, đều hiểu lời răn của Khổng Tử, rằng:“Đứa nhỏ mà địa vị cao; trí cạn mà mưu việc lớn trước sau cũng gặp họa”.

Tôi chỉ thấy day dứt với mệnh đề thứ tư, là trí tuệ… được xếp sau cùng. Song có lẽ không nhất thiết phải phân tích thực trạng này, vì phàm những ai quan tâm đến vai trò của trí tuệ, cũng nhận thấy ý nghĩa và giá trị bất tận của nó quý giá đến mức nào?!

*****

Sau thời gian các phương tiện truyền thông quảng bá khá rầm rộ, giới thiệu một sản phẩm điện ảnh mới ra đời, là bộ phim Kiều của Nguyễn Du, tuần cuối tháng Tư năm nay, vẫn các cơ quan truyền thông đó, không ngại ngùng đưa tin:“Phim Kiều ‘lỗ’” VNEX 28/4/21, “Doanh thu thấp thảm hại, phim 18+ Kiều lại vừa tạo ra một kỷ lục mới chưa từng có của điện ảnh Việt” Kênh 14.Vn 27/4/21,“Truyện Kiều 3 lần lên phim đều là thảm họa” Tuổi Trẻ 11/4/21….

Những ai hay nghĩ sâu và rộng, đều nhận ra đây là hậu quả của một lối tư duy hời hợt, không phải riêng các nhà làm phim, mà của cả một xã hội vốn lâu nay, chỉ quen với cách nhìn nhận mọi vấn đề theo chiều ngang, và chỉ tìm cách để ăn xổi.

Tôi tin, ‘Họ’ chưa khi nào quan tâm, rằng trong lịch sử, có một người Việt Nam, từ hơn 100 năm trước, đã dành cả đời mình để hiểu thi sĩ Nguyễn Du là thế nào? Truyện Kiều, bản chất muốn nói lên điều gì? Nó liên quan ra sao đến cuộc sống và người dân đất nước này trong đời sống văn hóa… Thứ mà ngày hôm nay, ‘Họ’ đã rất ‘thành công’ vì, đã quy ra được thành… tiền!

Thực ra điều này cũng chưa quá đe dọa, bởi đến cả tín ngưỡng người ta còn kinh doanh được, như tờ báo điện tử VNN đã từng phải ‘rên’ lên rằng: “Siêu chùa và công nghiệp tâm linh”(*) 

Một lần nữa, để chứng minh với quý vị và các bạn, để khách quan và công bằng, đồng thời cũng để minh họa cho nội dung của bài viết “NGUYỄN VĂN VĨNH HIỂU VĂN TRUYỆN KIỀU ĐẾN ĐÂU?”, đăng ngày 8/12/2020, chúng tôi xin được giới thiệu với quý vị và các bạn, một bài tâm sự của Nguyễn Văn Vĩnh, cắt nghĩa Nguyễn Du là thế nào? Truyện Kiều đem đến cho chúng ta được những gì?

Bài viết trên một tờ báo tiếng Việt có tên Thanh – Nghệ – Tịnh Tân văn, phát hành năm 1933.

Bài viết về Nguyễn Du trên báo Thanh Nghệ Tịnh Tân Văn năm 1933

Chúng tôi có được bài báo này, nhờ công sưu tầm và tấm lòng của dịch giả Võ Xuân Quế, người dịch cuốn sách “Phần Lan ngôi sao phương Bắc” 2007.

*****

Mặt khác, để đáp ứng đề nghị của dịch giả Võ Xuân Quế, khi băn khoăn về bút danh Tân Nam Tử trong một bài viết khác cũng trên báo Thanh – Nghệ – Tịnh Tân văn, chúng tôi xin phúc đáp và xác nhận, việc Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh đăng bài viết của mình ở một tờ báo miền Trung lúc đó, vì ông bị Nhà Cầm quyền cấm viết bằng tiếng Việt từ năm 1930, và chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào cho thấy, ông có liên quan tới tờ báo đó ở trong miền Trung.

Đây là bài báo hiếm hoi, mà Nguyễn Văn Vĩnh bộc lộ những suy nghĩ sâu xa về Đại Thi hào Nguyễn Du và tác phẩm Kim Vân Kiều, nguồn cơn của việc ông đã đắm đuối suốt cuộc đời, chuyển từ bản in chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ lần đầu tiên năm 1910 ở Bắc kỳ, nhằm giúp người dân An Nam có cơ hội tiếp cận với một tác phẩm, mà ngay từ ngày đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã coi là vĩ đại!

Ông cũng xác định, đây là bản sắc đặc trưng của một giống dân. Ông mải miết làm nhiều cách, để cho đồng bào của ông có quyền hãnh diện, vì được sở hữu một sản phẩm tiêu biểu, mang đậm chất văn hóa tinh thần của một dân tộc.

Nguyễn Văn Vĩnh sau nhiều chục năm lao tâm khổ tứ, đã hoàn thành việc chuyển toàn bộ tác phẩm nàycủa Nguyễn Du ra Pháp ngữ trong những năm 30. Ông muốn minh chứng với kẻ đô hộ mình, rằng người dân An Nam, không phải là giống Mọi như sự miệt thị của Thực dân. Và không phải chỉ có người Pháp mới có sắc thái văn hóa cho riêng mình.

Từ ngày đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã trông đợi… “quyển sách này một ngày kia sẽ vượt ra ngoài phạm-vi quốc-gia mà được liệt vào trong cái kho văn-chương quí-báu của thế-giới”. Và điều này đã trở thành hiện thực vào năm 1953!

Năm 1953, Hiệp hội biên soạn Tự điển và Bách khoa toàn thư của Cộng hòa Pháp đã trang trọng đưa tác phẩm Kim Vân kiều vào bộ tự điển CÁC TÁC PHẨM CỦA TẤT CẢ CÁC THỜI ĐẠI VÀ CÁC XỨ SỞ (Dictionnaire des oeuvres de Tous les Temps et de Tous les Pays). Bộ tự điển gồm 4 tập, khổ sách 22 x 30 cm, dày trên 3.000 trang.

Hóa ra, từ cái ngày xưa ấy, Người Man di hiện đại Nguyễn Văn Vĩnh đã thấm câu nói kinh điển của Leonardo da Vinci:“Tri thức về quá khứ và về địa danh là vật trang trí và thực phẩm của trí tuệ con người”.

Nhân đây, một lần nữa, chúng tôi trân trọng cảm ơn tấm lòng của dịch giả Võ Xuân Quế, và xin được chuyển tới các quý vị và các bạn bài viết của Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên báo Thanh Nghệ Tịnh Tân văn, ngày thứ Sáu, 7/7/1933.

Phần chép lại và đầu bài báo được dịch giả Võ Xuân Quế chuyển tới chúng tôi.

NGUYỄN LÂN BÌNH.

  • Bài viết “Siêu chùa và công nghiệp tâm linh” của tác giả Nguyễn Duy Xuân trên Vietnamnet, bị gỡ xuống sau khi đăng vài giờ đồng hồ. Báo điện tử của tỉnh Hải Dương đã đăng lại vào ngày 3/3/2019.

http://www.baohaiduong.vn/xa-hoi/sieu-chua-va-cong-nghiep-tam-linh-105496.

NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU QUA NGÒI BÚT NGUYỄN VĂN VĨNH

Còn nhớ một buổi chiều mùa xuân, tôi cùng với một người bạn ra hứng mát trên bãi bể Sông-cầu (Phú-yên). Ngồi trên tấm nệm cát phẳng-phiu, ngó trông ra ngoài, trời, non, nước, man-mác một mầu xanh biếc, lốm đốn mấy chiếc thuyền buồm trắng, trông tựa như đàn chim đương đi, bạn tôi bất-giác ngâm câu:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Câu kiều ấy, đọc trong cái thời khắc ấy, ở chỗ ấy, có cái sức lạ lùng gợi lên cho mình không biết là bao nhiêu tình tư, như thương, như nhớ, như lạnh lẽo, như buồn rầu… mà như nhẹ nhàng đưa người trong cảnh vào một cõi thơ, cõi mộng mơ màng. Đến bây giờ, mỗi lần tôi đọc lại câu này, tôi lại sực nghĩ đến bạn tôi, mà cái cảnh bãi bể chiều hôm cũng phục sinh lại trong trí tưởng tượng.

Nhà văn-sĩ Pháp, ông Pierre Loti, trong quyển tiểu thuyết “Le roman d’un spahi” có viết một câu thâm-thúy rằng: “người sinh ra ở đời ai cũng là thi sĩ cả, nhưng phần nhiều là thi-sĩ câm đó thôi”.

Thực vậy. Sống qua một thời gian sáu bảy mươi năm, ai lại không trải những nỗi vui buồn lo lắng, hờn giận ghét thương… ai cũng như ai cả. Song nhà thi-sĩ sở-dĩ hơn người thường là có tài diễn-tả những tình-từ mình ra trên tờ giấy bằng những lời vàng tiếng ngọc đó thôi, kỳ thực thì tiếng khóc của người thường cũng là một câu thơ, mà câu thơ của nhà thi-sĩ cũng là một tiếng khóc.

Cho nên tôi thường tin rằng nhà thi-sĩ giỏi nhất là người đã đem lời văn mà diễn tả được những tình-tứ chung cho cả mọi người.

Cái danh bất hủ của ông Nguyễn Du là đã giúp cho người đời về phương diện đó.

* * *

Quyển Kim-Vân-Kiều có cái giá-trị đặc-biệt là làm quyển kinh nhật-tụng cho tất cả các giai-cấp độc-giả trong xã-hội. Ta có thể nói được rằng bởi cái tính-chất phổ-thông của nó, quyển sách này một ngày kia sẽ vượt ra ngoài phạm-vi quốc-gia mà được liệt vào trong cái kho văn-chương quí-báu của thế-giới.

Nghĩa là kể trong văn-giới nước ta cũng còn có một vài quyển khác có thể gọi là hay, nhưng quyển Chinh-phụ Ngâm thì chỉ làm thú riêng cho một hạng người trí-thức, nhưng quyển Cung-oán thì chỉ giải-trí cho hạng người thường chứ quyển Kim-Vân-Kiều thì bất kỳ thuộc về hạng thượng lưu, trung-lưu hay hạ-lưu, ai đọc cũng hiểu, ai cũng ham đọc.

Tại sao vậy? – Như trên kia tôi đã nói, vì quyển Kim-Vân-Kiều đã tóm tắt lại một cách rất rõ ràng, rất thanh nhã, tất cả những cái tâm cảnh của người đời, hình như khi viết áng văn kiệt-tác này, ông Nguyễn-Du đã sống hết thảy những cảm-tình tư-tưởng của người đời vậy. Thành thử dầu là người phe nào, địa-vị nào, ở trong tâm cảnh nào cũng có thể tìm ở trong quyển Kim-Vân-Kiều những câu để bầy tỏ tâm-sự.

Người thiếu nữ sau một lần gặp một người thiếu-niên, bất-giác phát sinh ra một cảm tình mơ màng sẽ đọc đến câu:

Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Người đàn bà vì cảnh ngộ bắt buộc mà phải làm nghề buôn son bán phấn, nhưng mỗi lần nghĩ đến thân phận thì lại “giựt mình, mình lại thương mình xót xa” sẽ nhớ đến câu:

Tiếc thay trong đá trắng ngần,

Đến phong trần cũng phong trần thế thôi.

……

Thương thay cũng một kiếp người,

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi.

Người hiền phụ đứng đắn, tuy lấy làm đau thầm xót vụng vì chồng lấy vợ lẽ, nhưng lại biết giữ nếp nhà thì sẽ tự an ủi bằng câu:

Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen,

Xấu chàng mà có ai khen chi mình.

Nhưng người ghen tuông thì lại nói Hoạn Thư:

Làm cho nhìn chẳng được nhau,

Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.

Làm cho trông thấy nhãn tiền,

Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Người chán cái bản lợi danh, không muốn dìm thân ở nơi bể hoạn thì thường nhớ câu:

Áo xiêm đùm bọc lấy nhau,

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi.

Người chí khí ngang tàng thì bắt chước Từ Hải:

Đục giời quấy nước mặc giầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

… Nói tóm lại thì tất cả mỗi hạng người ở đời đều tìm thấy tâm sự riêng của mình phô bày ra ở trong quyển Kim-Vân-Kiều cả.

Quyển sách của Nguyễn Du sở dĩ có cái công dụng sâu rộng như thế, bởi nó là một bức tranh xã hội. Bức tranh ấy đã họp lại hầu hết các nhân vật trong xã hội. Tuy nét mực dầu đậm nhạt khác nhau, nhưng dưới ngọn bút của Nguyễn Du, cái vai trò đều trông thấy rất rõ rệt, đúng với sự thực, mà không những chỉ tả những cảm tình hay tư tưởng đã sai khiến họ, tác giả lại không quen vẽ ra cái hình ảnh của bọn họ nữa. Ông Nguyễn Du tả người về hình thể rất tài.

Mã Giám Sinh xuất đầu lộ diện ra trong hai câu;

 Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.

Mụ Tú-Bà, tác giả giới thiệu một cách khéo quá, chẳng ai lầm được là một người đàn bà đoan chính.

… Rèm trong đã thấy một người bước ra.

Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao.

Trước xe bả lả han chào…

Đến anh họ Sở thì thực là có cái ẩn tướng một chàng công tử bột:

Một chàng vừa trạc thanh xuân,

Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng.

Song chỗ này có một tì vết nên chú ý. Là ông Nguyễn Du đã để theo hai câu sau:

Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,

Hỏi ra mới biết là chàng Sở Khanh.

Sở Khanh là một tên riêng. Vậy nếu cô Kiều trước không biết gì đến cái đời tư của va, thì nay dẫu có biết là Sở Khanh nữa thì sao lại không lầm được là “mạch thư hương”. Đem một cái tên riêng, mới xuất hiện lần dầu mà đã cho  nó một cái tính chất phổ thông, chỉ những chàng công tử bột thì cũng e khi vội vàng quá.

Song tưởng không hại gì. Cái khuyết điểm nhỏ ấy không thể làm mất giá trị của toàn thể bức tranh được. Tóm lại thì ngòi bút tả người của ông Nguyễn-Du vẫn tài tình lắm.

Tài tình nhất là tác giả lại đem bỏ những nhân vật ấy cử động trong những cảnh nó điều hòa với tâm cảnh của họ. Thực vậy, bao nhiêu cảnh trong quyển Kim-Vân-Kiều đều là bấy nhiêu tình.

Xem như cảnh trước lầu Ngưng bích:

Trước lầu Ngưng bích khóa xuân,

Vẻ non xa, tấm trăng ngần ở chung,

Bốn bề bát ngát mênh mông,

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.

Cảnh khi Thúy Kiều cùng Thúc Sinh từ biệt.

Sông Tần một giải xanh xanh,

Lôi thôi bờ liễu mấy cành dương quan.

Lại như cảnh Thúy Kiều trốn nhà họ Hoạn ra đi.

Lần đường theo bóng giăng tà về tây.

Mịt mù dặm cát đồi cây,

Tiếng gà điểm nguyệt, dấu giầy nên sương.

… Nét bút đơn giản mà kỳ thực thì đậm đà sắc sảo. Những cảnh ấy đều là những cái tâm tình của cô Kiều, nó hiện hình ra ngoài, khi buồn, khi lo, khi thương, khi nhớ. Sách Tây có câu rằng: “Cảnh tức là tâm hồn”. Đọc những đoạn văn trên kia mới hiểu cái nghĩa thâm thúy xác thực của câu nói ấy.

Độc giả nay đã có một cái ý quảng đại về văn chương Kim-Vân-Kiều, chắc cũng cho là một ánh văn chương rất có giá trị.

Về phương diện mỹ thuật, ông Nguyễn Du đã đi đến mục đích vậy.

Nhưng làm quyển Kim-Vân-Kiều, nhà thi sĩ Tiên-điền còn muốn theo đuổi một mục đích khác. Là mượn chuyện Kiều để tả chuyện riêng mình vậy.

Tôi không cần phải nói dài lời, chắc ai cũng đã hiểu cái trường hợp Nguyễn Du, cái trường hợp tâm lý rất là thương tâm quá đỗi.

Ông Nguyễn Du nguyên là cựu thần nhà Lê mà là hàng thần nhà Nguyễn. Cái khổ tâm của ông ấp ủ trong bấy nhiêu năm là cái khổ tâm của người đàn bà vì cảnh ngộ bắt buộc phải cải giả. Theo cái học Khổng Mạnh thì làm tôi phải trung, làm vợ phải trinh, người đàn bà không được thờ hai chồng, người đàn ông đã thờ vua này, không được thờ vua khác.

Nhiều người sinh ra ở thời đại bay giờ không khỏi cho những điều đó là vô nghĩa lý. Đã đành vậy, song xét một việc gì, bình phẩm một người nào, thì cần phải để việc ấy, con người đó vào trong cái thời đại đã sinh ra nó. Có như thế, ý kiến mới mong không thiên lệch được. Ừ, thì trung với trinh ở đời này đã thành ra hai vật vô ý thức rồi, nhưng ở thời đại xưa thì nó rất phải lẽ. Ở thời đại xưa, người tôi trung tức là người yêu tổ quốc, người vợ trinh tức là người vợ làm trọn nghĩa vụ của mình.

Ông Nguyễn Du, tuy là một người tài trí hơn đời, nhưng ở vào thời đại xưa, thì không thể có những tư tưởng cao hơn nữa.

Ông Nguyễn Du về làm tôi nhà Nguyễn, song lòng vẫn nhớ đến nhà Lê, không biết làm thế nào, đành phải ôm cái khổ tâm mà sống ở trong cái nghiệt cảnh ấy,ông Nguyễn Du gặp được cô Kiều, xét cái đời ba chìm bảy nổi của cô Kiều, ông lại thương vụng xót thầm đến cái đời “hàng thần lơ láo” của mình, nhân đấy mới mượn tâm sự khách hồng nhan để bộc bạch cái tâm sự của mình vậy.

Người đời sau đọc truyện Kiều phải nên hiểu chỗ đó. Chứ mấy kẻ lấy cái óc đạo đức mà đọc truyện Kiều thì thực là lầm to, phi hạng đạo đức nửa mùa, thì cũng là hạng đạo đức giả dối. Vì họ đã ngộ nhận cô Kiều và ông Nguyễn Du.

Cô Kiều có thực hay không có, cô Kiều là cái tên bịa đặt hay là cái bóng, ta không cần biết. Ta chỉ biết rằng cô Kiều trong quyển sách ông Nguyễn Du là một nhân vật tiểu thuyết, cô có nhân cách chăng nữa thì cũng là cái nhân cách mỹ thuật (personnalite artistique) mà thôi. Bình phẩm cô Kiều không nên bình phẩm như một người thường mà bình phẩm ông Nguyễn Du, tác giả Kim-Vân-Kiều chỉ được phép nói là một nhà thi sĩ, hay, hay là dở.

Nay nói về hay, dở, thì chắc ai cũng phải chịu nhận ông Nguyễn Du là một nhà thi sĩ có thiên tài, mà cho quyển Kin-Vân-Kiều là một áng văn chương kiệt tác.

TÂN NAM TỬ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network