CÁI THỂ THỐNG CỦA TƯ TƯỞNG

Thưa các quý vị và các bạn!

Hai thập niên đầu của thế kỷ 20, khi người dân An Nam còn chìm sâu trong cái thiết chế văn hóa phong kiến, với lối sống đơn giản của bản năng, họ không mảy may quan tâm đến triết học tư tưởng, đến tư duy trí tuệ vì bị giới hạn bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân nghiêm trọng, là vì chưa có một loại chữ viết phổ thông dành cho dân chúng. Lịch sử không khi nào phủ nhận, rằng nhờ có chữ viết, loài người đã truyền bá thành công những tư tưởng tiến bộ, giúp cải tạo cuộc sống và hướng xã hội đến sự phát triển.

Vào cái bối cảnh lịch sử bi đát ấy của đất nước, Nguyễn Văn Vĩnh đã vượt ra khỏi những rào cản thông thường về khả năng tư duy và nhận thức, nhờ cái năng khiếu xuất chúng về tri thức, ngôn ngữ và văn hóa. Ông đã tiếp cận được với rất nhiều hệ tư tưởng mới, tiến bộ của các nhà hiền triết, các nhà khoa học, triết học chính trị xã hội ở châu Âu, trong đó có nhà Thần học, nhà Toán học danh tiếng người Pháp Blaise Pascal (1623-1662) (1).

Nguyễn Văn Vĩnh luôn mang nặng trong lòng một lý tưởng, hãy làm gì, phải làm thế nào để đồng bào An Nam có được con chữ cho riêng mình? Ông luôn xác định, con chữ là phương tiện căn bản dùng để thiết lập một nền giáo dục cho người dân, giúp họ hướng đến những cách suy nghĩ tích cực nhất, hiểu được thế nào là khoa học và sự tiến bộ. Mục đích này của ông, không phải chỉ để thay đổi vận mệnh của mỗi con người, mà còn để thay đổi tận gốc chính cái xã hội nơi ông đang tồn tại, cái xã hội cơ cực đến mức, chỉ dám mơ No ba ngày Tết và ấm ba tháng Hè!

Cái lý tưởng quá mới, quá khác lạ, và thậm chí, đi ngược lại với chính sách ngu dân của hệ thống cầm quyền, đặc biệt, cái mới đó lại có nguồn gốc từ nền văn minh phương Tây, một quan niệm không được chấp nhận trong ý thức hệ tư tưởng của xã hội phong kiến Việt Nam. Điều này, đã cản trở những nỗ lực của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc thực hiện những tham vọng của mình. Mỉa mai hơn, thực tế này đã để lại nhiều hậu quả cay đắng cho Nguyễn Văn Vĩnh, nhìn từ mặt lịch sử phát triển tư duy trí tuệ ở đất nước An Nam.

Cho tới một thế kỷ sau, những di chứng của sự thật vừa nêu về Nguyễn Văn Vĩnh, vẫn dai dẳng tồn tại, cộng với các chính sách thiên tả về văn hóa trong một xã hội toàn trị, cùng các cuộc chiến tranh kéo dài, làm hạn chế sự nhìn nhận của hậu thế, đẩy giới nghiên cứu và những người quan tâm đến không gian của sự mơ hồ, trong việc đánh giá về những giá trị gốc rễ của hệ thống tư tưởng triết học phương Tây được chuyển tải đến cộng đồng, thông qua sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi. 

Một thế kỷ sau, dư luận ở Việt Nam mới được biết chưa đầy đủ, rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã từng gắng công dẫn dắt dân chúng An Nam, đến với các hệ tư tưởng kinh điển của nền chính trị Âu châu, của nền triết học khai sáng, cơ sở để Nhật Bản xây dựng thành công và trở thành một quốc gia phát triển.

Nguyễn Văn Vĩnh đã thông qua việc chuyển ngữ các tác phẩm có tính nền tảng in bằng tiếng Pháp ra chữ quốc ngữ từ những năm cuối thế kỷ 19, và những năm đầu của thế kỷ 20, một việc làm, mà vào bối cảnh chính trị xã hội ở Việt Nam ngày ấy, hầu như không được chào đón.

Trên Tập san Nghiên cứu Lịch sử số 116 ra tháng 11 năm 1968, ấn phẩm về nghiên cứu, lý luận thuộc Viện Sử học Việt Nam, tác giả Nguyễn Anh, với góc nhìn thiển cận và định kiến, thậm chí mang tính ác ý, đã từng đánh giá tiêu cực về nội dung các dịch phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh một cách méo mó, tệ hại như sau:

“…Nhìn vào khối lượng dịch thuật của Đông dương tạp chí, chúng ta thấy rõ ràng là một việc dịch thuật lung tung bừa bãi. Tuy có chọn lọc một số tác gia lớn nhưng tuỳ tiện, gặp đâu dịch đấy, không có giới thiệu phê bình gì cả…”.(2)

Để dần minh chứng cho những nỗ lực đầy tính trí tuệ trong sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu với các quý vị và các bạn, một đoạn dịch phẩm nằm trong chuỗi mắt xích của cuộc cách mạng văn hóa mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi từ đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam.

Đoạn dịch phẩm này, còn giúp cho hậu thế nhìn rõ hơn, thứ chữ viết mẹ đẻ của người Việt, thứ văn phong quốc ngữ thủa hồng hoang của chúng ta, nó không hề ‘nông cạn’‘đơn giản’ như sự dèm pha của các thế lực bảo thủ, cực đoan trong tầng lớp các nhân sĩ thân Hán. Ngược lại, nó đã được hoàn thiện đến đâu, qua bộ óc của những nhân sĩ yêu nước nười Việt?!

Trân trọng!

BBT Tannamtu.com

Ghi chú:

  1. Blaise Pascal, nhà Thần học, Toán học, Triết học và Vật lý thế kỷ 17. Tác phẩm thần học gây ảnh hưởng lớn nhất của Pascal được xuất bản sau khi mất là PENSÉES (Suy tưởng).
  2. “Vài nét về quá trình đấu tranh chống thực dân và tay sai trên lĩnh vực văn hoá của nhân dân ta trong 30 năm đầu thế kỷ 20”. Trang 54.

Việc chép lại cả hai phần tiếng Việt và tiếng Pháp, được chúng tôi thận trọng đến mức cao nhất, đảm bảo tính nguyên vẹn từ trên trang báo in, đồng thời giúp người đọc thấy rõ cách viết quốc ngữ cách đây hơn 100 năm, tránh để độc giả nghi ngờ việc chép sai, gây lỗi chính tả.

===========

Tượng Pascal tại bảo tàng Louvre , Paris, Pháp

CÁI THỂ THỐNG CỦA TƯ TƯỞNG

(DIGNITÉ DE LA PENCÉE)

Đông Dương Tạp chí số 30 tháng Một năm 1916.

                                      Tác giả: Pascal, PenséesNguyễn Văn Vĩnh diễn nôm.

Người ta chẳng qua là một cái ống sậy, cái ống sậy yếu ớt nhất trong Tạo-hóa, nhưng là một cái ống sậy có tư tưởng. Cả vũ-trụ không nên tòng hành nhau mà làm cho bẹp cái ống sậy ấy. Một cái hơi độc bốc lên, một giọt nước lã, cũng đủ làm chết được người. Nhưng dầu vũ-trụ có đè bẹp được người ta đi nữa, người ta cũng vuỗn còn sang trọng hơn vũ-trụ, bởi vì người ta chết, thì biết rằng chết, chớ vũ-trụ khỏe hơn người ta, mà không biết rằng khỏe.

Vậy thì cái thể-thống của chúng ta ở trong cái tư-tưởng. Ta phải cậy ở cái tư-tưởng ta, chớ ta đừng cậy ở cái khoảng rộng và cái hạn lâu chóng, bởi vì ta không bao giờ đứng chật được hết khoảng rộng, mà cũng không bao giờ bền được đến hết cái hạn lâu chóng. Vậy thì ta nên rèn tập lấy cái tư-tưởng cho hay, đó là lẽ gốc của luân-lý.

Tôi không cậy ở khoảng rộng để tìm lấy cái thể-thống, mà tôi cậy ở cái tư-tưởng của tôi. Dẫu tôi có bao nhiêu đất cũng còn là ít. Lấy khoảng rộng ra mà suy, thì tôi ở trong vũ-trụ, vũ-trụ nuốt tôi đi như một cái điểm nhỏ. Lấy tư-tưởng mà suy, thì vũ-trụ ở trong óc tôi.

Chân dung Pascal

DIGNITÉ DE LA PENCÉE

L’homme n’est qu’un roseau, le plus faible de la nature, mais c’est un roseau pensant. Il ne faut pas que l’univers entier s’arme pour l’écraser. Une vapeur, une goutte d’eau suffit pour le tuer. Mais quand l’univers l’écraserait, l’homme serait encore plus noble que ce qui le tue, parce qu’il sait qu’il meurt, et l’avantage que l’univers a sur lui, l’univers n’en sait rien.

Toute notre dignité consiste donc en la pensée. C’est de là qu’il faut nous relever, et non de l’espace et de la durée, que nous ne saurions remplir. Travaillons donc à bien penser: voilà le principe de la moral.

Ce n’est point de l’espace que je dois chercher ma dignité, mais c’est du refglement de ma pensée. Je n’aurai pas davantage en possédant des terres. Par l’espace, l’univers me comprend et m’engloutit comme un point; par la pensée, je le comprends.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network