NGUYỄN VĂN VĨNH HIỂU VĂN TRUYỆN KIỀU ĐẾN ĐÂU? – Phần 2

TRUYỆN THÚY KIỀU (2)

(Báo L’Annam Nouveau số 224, 225 và 226 năm 1933)

Phần hai

Cũng vậy khi tôi dịch hai câu sau trong bài “La Femme Veuve” (Góa phụ) của La Fontaine

On dit qu’on est inconsolable

On le dit mais il n’en est rien

(Chung thiên miệng nói quyết là

Nói thì nói vậy nhưng mà có đâu)

thì trong cách chuyển tải này nếu không ra được nghĩa và nhịp đích thực thì ít nhất cũng có sự tương đương hoàn hảo của ý tưởng, tính nhạc bên trong đến mức người ta tin được rằng mọi thứ đều có thể dịch theo cách này. Nhưng những trường hợp trùng hợp như vậy là rất hiếm.

Bản dịch Kiều đầu tiên của tôi[1] đã bị cuốn theo ảo tưởng đó. Tuy nhiên đối với những người am hiểu thì bản thử đầu tiên này cũng đưa lại được chút gì đó cái làn hơi đã thổi hồn cho nhà thơ An Nam, vì vậy tôi đã giữ lại nó, cho bản thân tôi và cho những ai muốn chú ý đến dự định đó của một dịch giả thiếu kinh nghiệm đã ảo tưởng về hiệu quả của sự chuyển đổi thể loại này.

Bị phê phán nghiêm khắc, bản dịch năm 1913 của tôi đã không qua được kỳ sát hạch. Tiếng Pháp của tôi hãy còn quá yếu, nó được viết theo cách của các nhà báo tất bật hối hả, luôn đưa ra bản chép lại vào phút cuối, bị thợ sắp chữ thúc sát gót lúc đã trễ. Đó không phải là một bản dịch thơ, cũng không phải là một bản dịch xuôi, thậm chí cũng không phải là một bản diễn dịch. Tôi đã dịch theo cách giải thích từng chữ một và giữ nguyên bản tiếng Việt trong bản dịch ra thơ bằng thứ tiếng Pháp thông thường.

Lần này[2] tôi dự định vẫn giữ lại văn bản từng chữ một, sau đó diễn xuôi bằng tiếng Pháp thông thường, chứ không có ý định viết bằng thứ tiếng Pháp văn chương.

Theo cách này người đang nghiên cứu An Nam có thể nắm được cơ chế thứ tiếng của chúng tôi, cú pháp thực của nó mà không cần tôi phải nói ra; đồng thời cả vốn từ vựng văn chương của tiếng An Nam. Vì những từ có cùng nghĩa không phải bao giờ cũng nói cùng một điều ở hai thứ tiếng nên việc diễn dịch bằng tiếng Pháp là cần thiết. Đối với đồng bào mình tôi đề nghị một cách dịch mà theo tôi là tốt cho họ khi lần đầu tâm trí người An Nam tiếp xúc với thế giới văn chương Pháp. Một việc mà còn phải làm nhiều để tới chỗ nắm được mọi vẻ đẹp và mọi sự tinh tế của tiếng nước tôi.

Còn về việc chuyển dịch toàn vẹn tư tưởng, nhịp điệu và thơ An Nam trong tiếng Pháp thì đó lại là một công việc khác vượt quá không chỉ khả năng của tôi, mà cả ý định của các nhà văn Pháp muốn đi sâu vào những sự việc và sự vật của người An Nam.

Ông Crayssac bằng bản dịch tiếng Pháp tuyệt vời của mình in ở nhà Lê Văn Tân[3] đã mở ra một con đường. Theo hướng của ông những người khác sẽ còn thâm nhập được xa hơn và thực hiện được việc như Nguyễn Du của chúng tôi đã làm để truyền tải tư tưởng Trung Hoa bằng thứ tiếng An Nam thông thường. Đó thực sự là một công cuộc phi thường để những câu thơ Trung Hoa đó được chuyển sang tiếng An Nam với tất cả sự súc tích của chúng, để những ý tưởng đó được thể hiện nguyên vẹn với số từ ít hơn số từ cần để dịch.

Đây là một thí dụ nhỏ về sự khéo léo tài tình này.

Dập dìu lá gió cành chim

(dịch sát từ là: nhẹ nhàng, chiếc lá, cơn gió, cành cây, con chim)

(Gió thổi liên hồi ve vuốt những chiếc lá và cành cây có những con chim đậu), sáu chữ An Nam ấy là để dịch hai câu thơ Trung Hoa này:

Chi nghênh nam bắc điểu

Diệp tống vãng lai phong

(Cành cây rập rình con chim từ phía Nam phía Bắc đến

Chiếc lá theo ngọn gió dập dờn đến đi)

Để mô tả cuộc sống hiếu khách của cô gái làng chơi đón tiếp các vị khách lạ và ân cần đưa tiễn những khách hàng đã được phục vụ.

Ảnh cuốn Kịm Vân Kiều tiếng Pháp, Nhà sách Khai Trí Sài Gòn tái bản năm 1970

Các ghi chú của tôi nhằm giải thích những điều quan trọng để hiểu được văn bản và từ vựng.

Chúng có rất nhiều trong các công trình đầu tiên của thể loại này nhưng một khi đã có thì chúng sẽ được dùng mãi trong tất cả các bản dịch tác phẩm văn chương An Nam. Như vậy những độc giả nào muốn làm việc nghiêm túc với ngôn ngữ và văn chương của chúng tôi thì họ cần nên nghiên cứu những ghi chú này một lần và mãi mãi. Chúng sẽ giúp họ đọc và dịch các truyện thơ khác của người bản xứ được dễ dàng hơn nhiều.

Đối với chính tả của chữ quốc ngữ trong văn bản tiếng An Nam, chúng tôi đã chủ ý áp dụng hệ thống ký hiệu của mình, trong đó các trọng âm ngữ điệu được thay thế bằng các chữ cái, không được sử dụng như phụ âm và nguyên âm, đặt ở cuối từ.

q dùng cho dấu sắc

f dùng cho dấu huyền

j dùng cho dấu nặng

x dùng cho dấu hỏi

w dùng cho dấu ngã

đ thay bằng d

d mềm thay bằng y

Các nguyên âm ă, ơ, ư thay bằng cũng những chữ cái đó với dấu lược: a’ o’ u’.

Với những người thù ghét sự thí nghiệm kiểu viết chữ như thế, chúng tôi xin lỗi vì đã áp đặt cho họ quan điểm của chúng tôi, về những cải cách cần thiết của chữ viết quốc ngữ.

Họ sẽ biết ơn chúng tôi khi họ đã nhìn thấy những lợi thế thực sự của hệ thống, đặc biệt là trong trường hợp ký hiệu tỏ ra chính xác và tránh được mọi sự đoán định sai lầm: tránh được mọi sự do dự trước một dấu sắc mà có thể là một dấu huyền, một dấu hỏi mà có thể là một dấu ngã, hoặc thậm chí trước một từ không dấu mà có thể là có dấu nhưng không biết dấu nào.

NGUYỄN VĂN VĨNH

Dịch từ tiếng Pháp: Ngân Xuyên.

Hiệu đính: Trần Thị Hải Yến.

Người cung cấp bản sao từ báo L’Annam Nouveau:

Chủ nhiệm website Tannamtu.com – Nguyễn Lân Bình. (Bản dịch này được in trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, tháng 12 năm 2020)


[1] Nguyễn Văn Vĩnh muốn nói đến bản dịch đã in trọn vẹn trên Đông Dương tạp chí từ năm 1913 đến năm 1917. (chú thích của người dịch).

[2] Bản dịch Kiều thứ hai của Nguyễn Văn Vĩnh in trên L’Annam Nouveau từ số 225 đến 279, năm 1933-1935. (chú thích của người dịch)

[3] Ấn phẩm này là” René Crayssac, Kim-Van-Kiéou, nhà Le-Van-Tan in tại Hà Nội năm 1926. (chú thích của người dịch)

Bìa cuốn KIÊU tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh do NXB Vĩnh Bảo và Hoành Sơn tái bản tại Sài Gòn năm 1951. Theo báo Nhân Dân ngày 21/4/2009, đây là bản Kiều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng nhà báo người Đức Franz Faber năm 1955, và từ bản dịch này của Nguyễn Văn Vĩnh, F. Faber đã chuyển thành công sang tiếng Đức năm 1964

MỘT BẢN DỊCH MỚI TRUYỆN THÚY KIỀU RA PHÁP VĂN.

(L’Annam Nouveau No 226 – 7/4/1933)

Rất nhiều độc giả yêu cầu bản báo xuất bản thành sách, bản dịch Kim Vân Kiều do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra Pháp văn được đăng trên Đông Dương Tạp Chí, từ những năm 1913 đến 1917.

Trong khi đọc lại bản dịch đó để chuyển cho nhà in xếp chữ, ông Vĩnh nhận thấy cần phải hiệu chỉnh lại đôi chỗ để được chính xác hơn, chủ yếu ở phần thứ nhất đã được dịch hơi vội vàng, chưa có phương pháp dịch tốt.

Trong quá trình dịch, tác giả đã tìm ra phương thức tốt hơn, và chỉ được áp dụng từ giữa những bản dịch liên tục này.

Theo phương pháp dịch mới, nó đáp ứng được những yêu cầu từ nhiều phía rất khác nhau cho mọi độc giả. Đồng thời, chúng tôi nhận thấy, việc sửa chữa lại một số đoạn trong cuốn sách này, sẽ đem lại sự thuận lợi và có ích cho các bạn đọc người phương Tây, đã từng Việt hóa cuộc sống của họ, với mong muốn được học hỏi sâu hơn vấn đề ngôn ngữ học của chúng ta. Điều này, cũng dành cho những người Việt muốn nâng cao khả năng hiểu tốt ngôn ngữ phương Tây, nhất là khi cuộc sống của họ đã bị Âu hóa, giúp họ có thể nghiên cứu chính các vấn đề của đất nước mình thông qua tiếng Pháp, do họ giỏi tiếng Pháp hơn tiếng An Nam.

Ông Vĩnh đã dịch lại toàn bộ truyện Kim Vân Kiều, và đăng trên L’Annam Nouveau bắt đầu từ số này 224, ngày 30/3/1933. Lần này, ông còn tham khảo cả các bản dịch Kiều ra chữ quốc ngữ của các ông Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, những bản dịch được dịch từ các bản chữ Nôm cổ nhất.

Theo phương pháp dịch mới sẽ bao gồm:

  • Phần thứ nhất, dịch từng chữ.
  • Phần thứ hai, dịch ra tiếng Pháp thông dụng.
  • Phần thứ ba, là những ghi chú liên quan. Giải thích những đặc điểm trong văn phạm, những điển tích văn học, nguồn gốc chi tiết về các phong tục, tập quán được nêu trong câu truyện, bao gồm cả những điều giúp cho người đọc hiểu được sâu sắc tác phẩm thơ dân gian này, câu chuyện mà lâu nay người dân ta từng bị hiểu sai lệch ít nhiều, do không có cơ hội hiểu tường tận gốc gác Truyện Kiều.

Cách dùng dấu trong bản dịch mới này chính xác hơn, đảm bảo tránh được mọi nhầm lẫn, không còn sự nghi ngại khi đánh dấu như kiểu sắc thành huyền, hỏi thành ngã, hoặc gặp một chữ không dấu, gây khó cho người đọc vì không rõ có phải là lỗi in quên dấu không?!

Số lượng sách in ra rất hạn chế đối với bản dịch có ghi chú này, để có thể dùng được những bản in đã xuất bản, chúng tôi chỉ dành cho những người ưa thích tiếng An Nam, và họ sẽ rất vui lòng được đăng ký mua, vì không phải đặt tiền cọc.

Những bạn đọc nào khó tính, muốn có một cuốn in bằng chữ quốc ngữ có dấu theo  truyền thống, xin các bạn báo trước để chúng tôi xắp xếp trước khi quyết định phát hành, vì một tờ giấy chúng tôi chỉ in được 16 trang.

Giá một tập, hay toàn tập, chúng tôi chưa ấn định được trước vào lúc này, vì giá cuốn sách sẽ phụ thuộc vào số lượng trang được in.

Báo L’Annam Nouveau

Người dịch: Nguyễn Kỳ (1918-2009)

Hiệu đính kỹ thuật: Nguyễn Lân Bình (Lưu trữ gia đình).

Câu thơ Kiều thứ 1954 trong cuốn Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh tái bản năm 1951

LE TRUYỆN THÚY-KIỀU (2)

(L’Annam Nouveau No 224, 225 et 226 – 1933)

Deuxième partie

De même, quand j’ai traduit comme suit, ces deux vers de la fable « La Femme Veuve », de la Fontaine :

On dit qu’on est inconsolable :

On le dit mais il n’en n’est rien.

(Chung-thiên miệng nói quyết là :

Nói thì nói vậy nhưng mà có đâu.)

Il y a dans cette façon de transposer, sinon identité de sens et de rythme, du moins une équivalence si parfaite de pensée, de musique intérieure, qu’on se laisse aller à croire que tout peut se traduire de cette manière. Mais ce sont là de rares coïncidences.

Ma première traduction du Kiều a été entreprise dans cette illusion. Pour les connaisseurs, ce premier jet donne néanmoins quelque chose du souffle qui anima le poète annamite, et, à ce seul titre, je le conserve, pour moi et pour ceux qui veulent bien accorder quelque attention à cette tentative d’un traducteur inexpérimenté qui s’illusionnait sur le rendement d’une transposition de ce genre.

Soumise à une critique sévère, ma traduction de 1913 ne soutient pas l’examen. Mon français, déjà trop faible, était écrit à la manière des journalistes débordés, donnant toujours la copie à la dernière minute, talonné par les typos mis en retard. Ce n’était ni une traduction mot à mot, ni une version, ni même une interprétation. J’ai introduit des interprétations dans le mot à mot et j’ai gardé la textualité dans la version en français courant.

Cette fois-ci, j’entends rester textuel dans le mot à mot, et donner ensuite l’interprétation un français courant, pour ne pas dire du bon français que je n’ai pas la prétention d’écrire.

De la sorte, les annamitisants pourront saisir le mécanisme de notre langue, sa vraie syntaxe, sans que j’aie à l’énoncer : en même temps que le vocabulaire littéraire annamite. Comme les mots de même sens ne disent pas toujours la même chose dans les deux langues, l’interprétation en français était nécessaire. A nos compatriotes, je propose là un mode de traduction, qui me semble bon pour ce travail de première mise en contact de la pensée annamite avec le monde littéraire française. Lequel aura encore beaucoup à faire pour arriver à saisir toute la beauté et toutes les finesses de notre langue.

Quant à la transposition intégrale de la pensée, du rythme, et de la poésie annamite dans la langue française, c’est une autre affaire qui dépasse non seulement ma capacité, mais encore les dispositions actuelles des lettrés français à pénétrer les choses annamites.

M. Crayssac, par sa brillante traduction en vers français parue chez Lê-van-Tân, a ouvert la voie. Il reste aux autres à y pénétrer plus avant encore et à réaliser, par exemple, ce que notre Nguyên-Du a fait pour la transposition de la pensée chinoise dans la langue vulgaire anamite. Ce sont de véritables tours de force, que ces vers chinois transposés en annamite dans toute leur concision ; ces pensées rendues intégralement en moins de mots qu’il ne faut, pour traduire.

Un tout petit exemple de ces tours ingénieux :

Dpdìu lá gió cành chim

(mot à mot : doucement, feuille, vent, branche, oiseau)

(D’un mouvement continu, la feuille se laisse caresser par les vents et la branche reçoit les oiseaux), soit six mots annamites pour traduire ces deux vers chinois :

Chi nghênh nam bắc điểu

Diệp tống vâng lai phong

(La branche guette l’oiseau qui vient du sud ou du nord ;

La feuille accompagne le vent qui va et qui vient).

Pour décrire cette vie hospitalière de la fille de joie qui reçoit les visiteurs inconnus et reconduisent poliment les clients servis.

*******

Mes notes expliqueront tout ce qui importe à la compréhension du texte et du vocabulaire.

Elles sont forcément trop nombreuses dans les premiers travaux de ce genre mais une fois données, nous avons la conviction qu’elles serviront indéfiniment dans toutes les traductions de textes littéraires annamites. Aussi, les lecteurs qui voudront travailler sérieusement notre langue et notre littérature, gagneront-ils à bien étudier ces notes une fois pour toutes. Elles leur faciliteront, dans une large mesure, la lecture et la traduction d’autres poèmes et récits indigènes.

Pour l’orthographe quốc ngữ du texte annamite, nous avons délibérément adopté notre système de notation, où les accents d’intonation sont remplacés par des lettres, non utilisées comme consonnes et voyelles, placées à la fin du mot,

          q pour l’accent aigu (dấu sc)

          f        —       grave (́u huyền)

          j   —  le point sous la voyelle (́u nng)

          z pour l’accent interrogatif (́u hỏi)

          w pour l’accent ascendant (́u ngã).

          Le đ renplacé par le d

          d mouillé par   y

          Les voyelles ă ơ ư par les mêmes lettres suivies d’apostrophes

a’ o’ u’

Que les adversaires de cet expédient typographique nous excusent de leur avoir imposé ainsi nos vues sur les réformes nécessaires de l’écriture quốc-ngữ. Ils nous en sauront gré quand ils se seront aperçus des avantages pratiques réels du système, notamment dans le cas d’une notation qui entend être précise et à l’abri de toute erreur d’interprétation ; de toute hésitation devant un dấu sắc qui pourrait être un dấu huyền, un dấu hỏi qui pourrait être un dấu ngã, ou encore devant un mot non accentué qui pourrait en porter un, on ne sait lequel.

NGUYÊN VĂN VINH

Copier l’œuvre : NGUYỄN THỊ HƯƠNG CẦN (Retranscrit par)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network