NGUYỄN VĂN VĨNH – VŨ TRỌNG PHỤNG… Bỗng nhiên liên quan?

(Chia sẻ sự biết và hiểu với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)

Thưa các quý vị và các bạn!

Nhiều năm nay, người dân Việt Nam tỏ ra ‘quen’ với các thông tin về các vụ ‘vi phạm’, tham nhũng, vơ vét trắng trợn trong xã hội, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, mà cả y tế, giáo dục, quốc phòng… Điều nguy hiểm, là không chỉ do một số cá nhân ma mãnh, thủ đoạn ‘dám’(1) làm giàu trong phạm vi kinh doanh kiếm lời, mà người dân còn phải chứng kiến sự tha hóa nhân cách, đạo đức, thậm chí đến mức tàn nhẫn của các đối tượng nhân danh quyền lực, nhân danh công lý, đã không loại trừ bất cứ thủ đoạn nào, bất cứ môi trường nào để trục lợi, và đối với bất cứ đối tượng xã hội nào trong cuộc sống sinh tồn.

Chỉ trong tháng Năm năm nay, dân chúng đành phải chứng kiến các vụ xử phúc thẩm những vụ án tham nhũng, lạm dụng quyền lực đến mức kinh thiên động địa như: Tướng Đặng Văn Hiến (Tư lệnh Quân chủng Hải quân), liên quan đến đại án Thượng tá Quân đội Đinh Ngọc Hệ (Út trọc), vụ án Gian lận điểm thi THPT năm 2018 ở Hòa Bình, vụ án buôn bán thuốc chữa bệnh ung thư giả, của công ty VN Pharma liên quan trực tiếp đến ngành Y tế….

Sẽ là sai mục đích, nếu chúng tôi liệt kê ra đây cơ man nào những sự việc tương tự đã, đang và sẽ còn diễn ra ở Việt Nam để chứng minh với các quý vị và các bạn, sự suy đồi (chưa đến cùng cực đâu) giữa các mối quan hệ trong xã hội.

Tuanvietnam của VNN ngày 1/8/2018, trong bài viết:“Tướng như mấy ông, dân hoài công nuôi”, tác giả Uông Ngọc Dậu đã than vãn, cay đắng đặt ra những dấu hỏi chua chát đối với …. Ai? Xin trích một đoạn bài viết, để không những chúng ta đủ hiểu mà còn thừa hiểu, rằng những dấu hỏi đó dành cho ai? Ai đã khai sinh ra nó, dung dưỡng và ‘dạy’ nó như vậy?:

“Khi câu chuyện hai ông thượng tá mang biệt danh, một “Vũ nhôm”, tức Phan Văn Anh Vũ, một“Út trọc”, tức Đinh Ngọc Hệ vỡ ra, tôi chợt nhận ra vì sao đất nước này lại nảy nòi những tướng không ra tướng.“Út trọc”thành thật trước hội đồng xét xử hôm 30/7 rằng “trình độ dân trí bị cáo thấp”, và thừa nhận không học mà dùng tiền mua bằng giả trường Kinh tế quốc dân. Vũ nhôm học đến lớp 11 thì bỏ, xuất phát là thợ làm nhôm kính. Hai vị thượng tá “từ trên trời rơi xuống” này, một sinh năm 1971 và một sinh năm 1975, đều tỏ ra hơn người về sở trường“quan hệ”,“ngoại giao”,“quan lộ” lẫn “tiền lộ”đang rất thênh thênh. Nếu không bị lò lửa chống tiêu cực, tha hoá soi chiếu, chẳng mấy chốc hai vị thượng tá mang biệt danh này, biết đâu đấy, qua vài lần “chuyển hoá”, sẽ thành tướng!”.

Bản chất cuộc sống không có chuyện ‘tự dưng’ hay ‘tự nhiên’..! Việc hàng loạt các vụ nhũng lạm nối tiếp nhau một cách ‘quy mô’, hết năm này sang năm khác, hết ngành này sang ngành khác, rồi hết thế hệ này sang thế hệ khác, làm công chúng ‘thích nghi’ với cái lối hành xử vô nhân, ích kỷ, tham lam khốn kiếp như thế bởi, vì chúng ta đã sinh ra và đang tồn tại trong một xã hội có nguồn gốc như thế nào?

Đã có bao nhiêu kẻ trong cái lớp người ‘nòng cốt’, từ đời này sang đời khác, thay vì lao động chân chính, đã đắc trí tự cho rằng, mình ‘khôn ngoan’ khi ‘khéo’ vun vén để có cuộc sống hơn người. Họ tự đắc dạy cho các thế hệ đi sau, rằng: Mình phải vì mọi người… Nhưng… ăn của người là chính!

………………

Từ hơn 100 năm trước, Nguyễn Văn Vĩnh đã ‘cay cú’ khi nhìn rõ lý do của sự đói nghèo, sự mất tự do, sự ngu dốt là những nguyên nhân chính dẫn đến một xã hội tha hóa về nhân cách, tham lam, ích kỉ về lối sống, và thằng người chỉ tỏ ra dũng cảm do liều mạng, thay vì nhờ có lý trí. Cứ thế, người dân vẫn mãi không biết thế nào là tự do, dân chủ theo đúng nghĩa, và coi việc bị áp đặt là ‘biết làm thế nào được…?!’ Xa hơn nữa, Nguyễn Văn Vĩnh kết luận, tất cả thực tế đó là hệ quả của việc con người không có tri thức! Vậy, cần làm gì, và làm thế nào để giúp người dân có được tri thức?!

Thực ra, Nguyễn Văn Vĩnh cũng chẳng tài giỏi gì để hiểu được những triết lý đó của cuộc sống, nhưng ngày đó, ông là kẻ may mắn vì, ông biết chữ.

Nhờ biết giỏi cả chữ Tây lẫn chữ Tàu, mới 18 tuổi, ông đã được đọc, thậm chí dịch sang chữ Việt (khi chữ viết tiếng Việt chưa được công nhận) cuốn sách kinh điển của nhà bác học nổi tiếng, nhân tài lỗi lạc ở cuối thế kỷ 18, Giăng Giắc Rutxô – Jean Jacques Rousseau (1712-1778), người có ảnh hưởng to lớn tới cuộc cách mạng động trời của nước Pháp 1789, tác giả cuốn sách The Social Contract (Khế Ước Xã Hội), còn được gọi là Các Nguyên Tắc của Quyền Chính Trị.

Trong cuốn sách, Rutxô đưa ra tiền đề về một sự nô lệ chính trị trong xã hội loài người, vậy cần có những yếu tố gì, để tạo nên một mối kết hợp chính trị tốt? 

Rutxô chứng minh, cường quyền chắc chắn không thể là nền tảng cho một liên hợp chính trị phù hợp với luân lý, vì cường quyền đến từ sức mạnh bạo lực, thay vì đạo đức, nó không thể là yếu tố hợp lý, bảo đảm sự tồn tại cho một chính thể. Trong lời mở đầu Rutxô viết:

“Với bản chất con người như ta biết, và với tính chất có thể xảy ra của luật pháp, tôi muốn tìm xem trong trật tự của một xã hội dân sự có thể có một luật lệ cai trị nào cho chắc chắn và hợp tình hợp lý…”.

Cứ theo con đường đó, lối tư duy đó, Nguyễn Văn Vĩnh đã từng mơ ước làm thay đổi cách nghĩ của đồng bào mình trên quê hương ông, trên nền tảng của cuốn sách mà ông được đọc từ khi mới 18 tuổi. Ông đã nghĩ, đã làm và đã viết cả cuộc đời, nhằm thực hiện hoài bão cao quý này.

—————–

Nhờ được sinh ra trong một môi sinh văn hóa gia đình, tôi may mắn được hiểu về Nguyễn Văn Vĩnh nhiều hơn người khác đôi chút, tôi còn được nhờ những tấm lòng của người hâm mộ, những người trân trọng sự thật lịch sử, là những nhà nghiên cứu khoa học, nhà sưu tầm văn hóa, văn học, nghệ thuật, chính trị từ mọi phương trời, trong đó có nhà nghiên cứu (NNC) Lại Nguyên Ân.

Năm 2008, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân viết cảm nghĩ về một bài báo tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh có từ năm 1932, với một chủ đề rất nghiêm trọng, bàn về sự tha hóa của xã hội dân sự và chính trị Việt Nam. Nội dung bài báo được khẳng định ngay bằng đầu đề:“Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng – La concussion sous ses différentes formes” (2), mà nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) đã dịch ra tiếng Việt, và đăng trên Đông Dương Tạp Chí (ĐDTC) năm 1937.

Tuy nhiên, ĐDTC 1913 được khẳng định là tờ báo đầu tiên thuần tiếng Việt ở Bắc và Trung kỳ. BBT của tờ báo quy tụ những nhân sĩ xuất sắc, nổi tiếng nhất cùng thời (3) (khác với những tờ báo ở Nam kỳ ra trước đó mang tính cục bộ). ĐDTC 13 là tờ báo hướng dẫn người Việt đọc, viết văn bằng chữ Quốc ngữ, và định hướng dân chúng tìm đến những kiến thức mới, tiến bộ thông qua con chữ.

Tờ báo là dấu ấn quan trọng trong lịch sử báo chí Việt Nam, vì trước đó, Việt Nam chưa có loại chữ viết của riêng mình, để từ đây, đã khai sinh ra một nền văn học mới, sau này được gọi là: Nền văn học chữ Quốc ngữ. Theo các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, ĐDTC mang giá trị khai sáng.

Cũng trong bối cảnh lịch sử đó, khi một đất nước chưa có ngành phát hành, in ấn, xuất bản. ĐDTC 13 ra đời, mặc nhiên như một bản tuyên bố cho một nền văn hóa độc lập của một dân tộc, là sự ly khai khỏi nền giáo dục khoa cử và áp đặt kéo dài gần cả ngàn năm, với việc dùng chữ Hán làm nền tảng.

Hiểu rõ giá trị đặc biệt của bài báo, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân còn có những băn khoăn về bối cảnh và lý do ra đời của bài báo. Điều gì đã thôi thúc Vũ Trọng Phụng phải dịch ra tiếng Việt? Nó đã tác động thế nào đến nhận thức của Vũ Trọng Phụng về một hệ thống ràng buộc xã hội, xấu xa tới mức tệ hại như trong bài viết? Liệu đây có phải là nguồn cơn để Vũ Trọng Phụng sáng tác ra tiểu thuyết nổi tiếng ‘Giông tố’ năm 1936? Vì sao bài lại đăng trên ĐDTC 1937, mà Nguyễn Văn Vĩnh đã mất từ năm 1936? Khi hậu thế vẫn giữ khái niệm nếu nói về lịch sử báo chí Việt Nam, luôn có cụm từ như một thuật ngữ báo chí: ĐDTC 1913, và kết thúc năm 1919!

ĐDTC thực sự là khởi nguồn của nền văn hóa Việt Nam mới (4), là lý do mà ngành khoa học Xã hội đã chứng kiến hai luận văn Tiến sĩ, một ở Cộng hòa Pháp của cô Emmanuelle Affidi, bảo vệ tại Đại học Paris 7, năm 2006, thứ hai là cô Tạ Anh Thư, bảo vệ tại Đại học Khoa học và Xã Hội Nhân Văn TP. Hồ Chí Minh năm 2017.

Cô Emmanuelle Effidi giới thiệu về Nguyễn Văn Vĩnh nhân ngày Quốc tế Francophie 20.3 năm 2008 tại Các Viện Đại học Montpellier – CH Pháp
Cô Tạ Anh Thư (áo dài tím), giảng viên Đại học Sư phạm Bình Dương, tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ tại ĐHKHXHNV TP HCM năm 2017

Trong thư tịch báo chí Việt Nam, cũng như Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), lịch sử của ĐDTC luôn được gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Văn Vĩnh, bất chấp kẻ sáng lập là một người Pháp gốc Đức – F.H. Schneider (1851-1929).

Vậy sự liên đới giữa ĐDTC 1913 và ĐDTC 1937 là gì? Là sự độc lập hay kế tục sau hơn 20 năm vắng bóng? Vì sao hai tờ báo lại mang cùng tên? Nếu nhìn vào tư liệu của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, những năm 1936, 1937, là những năm Phong trào Tự lực Văn đoàn đang nở hoa, vậy tờ báo này có quan hệ gì không, khi nhìn về mặt trào lưu văn học chữ Quốc ngữ?

Thực tế này chính là sự phản ánh sống động những thăng trầm của cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh nói theo cách nhìn đời thường. Còn nói theo góc nhìn xã hội học, nó phản ánh khá rõ nội tình phức tạp, dẫn đến mâu thuẫn chính trị nghiêm trọng giữa cá nhân Nguyễn Văn Vĩnh với Nhà cầm quyền Thực dân.

Năm 1930, khi mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, Nguyễn Văn Vĩnh trở thành kẻ đại diện cho tư tưởng chính trị đối lập, trái ngược với đường lối và chủ trương chính trị của Chính quyền Thực dân và Vương Triều Nguyễn, đẩy Nguyễn Văn Vĩnh quyết định cho ra đời tờ báo in tiếng Pháp  L’Annam Nouveau – Nước Nam mới năm 1931, trong vai cơ quan ngôn luận của một khuynh hướng chính trị phản diện.

Việc tờ báo phải viết bằng tiếng Pháp, đơn giản chỉ là do, tiếng Pháp không phải xin phép. Hoạt động của tờ báo, không lệ thuộc vào tài chính hay lực lượng chính trị nào nằm trong hệ thống cai trị.

Khi L’Annam Nouveau vào vai là một cơ quan ngôn luận đối lập, việc viết và đăng những bài phê phán toàn bộ hệ thống chính trị, xã hội của chính quyền đương thời là nhiệm vụ hàng ngày.

Tờ báo là vũ khí đấu tranh lợi hại của Nguyễn Văn Vĩnh, một mặt đòi cải thiện chế độ cai trị già cỗi, mục ruỗng, mặt khác nhằm phản đối Thực dân Pháp chủ trương thiết lập chế độ Quân Chủ Lập Hiến, cơ sở để duy trì vai trò bù nhìn của Triều đình Huế. Bài viết “Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng – La concussion sous ses différentes formes”, chỉ là một trong 500 bài trên tờ L’Annam Nouveau, và nằm trong chiến lược đấu tranh nghị trường của Nguyễn Văn Vĩnh mà thôi.

Để chấm dứt vai trò của một kẻ mang tư tưởng đối lập, gây ảnh hưởng sâu rộng trước làn sóng phát triển tư duy trí tuệ của một dân tộc nô lệ, họ đã làm mọi cách để hạ gục Nguyễn Văn Vĩnh không phải chỉ ở nghĩa bóng, mà cả nghĩa đen.

Theo những tư liệu có trong gia đình, và lời kể của bốn người con trai là Nguyễn Phổ (1917), Nguyễn Kỳ (1918), Nguyễn Dực (1921) và Nguyễn Hồ (1923), thì cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh 100% là toan tính và biện pháp của Nhà Cầm quyền Thực dân, sau một quá trình dài thuyết phục, dụ dỗ và cả đe dọa không thành.

Những ai quan tâm đến Nguyễn Văn Vĩnh đều biết, trong cuốn sách nổi tiếng ‘40 năm nói láo’ của nhà văn Vũ Bằng (1913-1984), đã thuật lại cuộc đối thoại tàn nhẫn, quyết định vận mệnh của Nguyễn Văn Vĩnh, giữa nhân sĩ thân Pháp là Nguyễn Bá Trác (1881-1945) và Toàn quyền Đông Dương Pierre Marie Antoine Pasquier (1874-1934) như sau:

“…Tôi nhớ lại lúc ông Nguyễn Văn Vĩnh sắp lên đường sang Lào để tìm vàng, công nợ ngập đầu, mà cứ cố sống cố chết bám vào tờ “Trung Bắc”,“Học báo” và “L’Annam Nuoveau” để viết. Toàn quyền Pasquier, một hôm, gặp Nguyễn Bá Trác (lúc ấy vừa ở Nhật về), hỏi theo ý Trác thì nhà Cách mạng Việt Nam nào nguy hiểm nhất. Trác trả lời “Nguyễn Văn Vĩnh”.

Toàn quyền Pasquier nhờ Sở Mật thám điều tra xem ông Vĩnh còn nợ Ngân hàng và tư nhân chừng bao nhiêu tiền. Số nợ ấy, so với lúc ấy, thật lớn: từ 60 đến 80 nghìn đồng. Toàn quyền  Pasquier nhờ một người thân tín của ông Vĩnh bắn tiếng đến tai ông: nếu ông Vĩnh bằng lòng ngưng công kích Bảo Đại và bút chiến với Phạm Quỳnh, gấp đôi số nợ ấy cũng sẽ được trang trải êm ấm mà không cần phải bận tâm gì hết”.

(Trang 261 và 262, NXB Văn hóa Thông tin 2001).

Cuốn ’40 năm nói láo’ của Vũ Bằng xuất bản lần đầu tiên năm 1969 tại Sài Gòn. Năm 1993, lần đầu tiên xuất bản ở Hà Nội, nhưng không được tái bản, năm 2001, được tái bản chính thức

Không vô cớ, trong khi Nguyễn Văn Vĩnh bị ‘đày’ sang Lào ‘tìm vàng trả nợ’ Chính phủ vào đầu năm 1936, tại Hà Nội, Nhà Cầm quyền đã mau chóng hóa giá toàn bộ tài sản của Nguyễn Văn Vĩnh với một mức rẻ mạt, hòng dập tắt khả năng phục hồi của Nguyễn Văn Vĩnh nếu muốn.

Chỉ ngay sau khi đưa tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936, Nhà Cầm quyền đã vội vã cử người đến ‘an ủi’ bà Nguyễn Văn Vĩnh  (Tức Đinh Thị Tính), và thông báo: Mời Nguyễn Giang (1904-1969) – con trai thứ hai của Nguyễn Văn Vĩnh – đến nhận chức Tổng Biên tập Đông Dương Tạp Chí (Tên tiếng Pháp La Revue IndochonoiseĐDTC 1913 không dùng tên tiếng Pháp) với lý do, để ‘kế thừa’ sự nghiệp của bố!!!

Trang nhất ĐDTC ra số đầu tiên ngày 15.5.1913 tại Hà Nội

Đồng thời Tòa soạn ĐDTC của Nguyễn Giang được bố trí đặt đại bản doanh ngay tại số 1-3 phố Hàng Gai, nơi từng là tòa soạn của Trung tâm Âu Tây Tư tưởng, Trung Bắc Tân văn, L’Annam Nouveau, Học báo của Nguyễn Văn Vĩnh (tòa nhà Hồng Vân-Long Vân, trước quảng trường Đông Kinh Nghĩa thục hôm nay), mà vào thời điểm đó, tòa nhà này đã bị phát mại cho một đối tượng khác trong chiến dịch ép Nguyễn Văn Vĩnh phải phá sản, buộc phải chấp nhận việc đi đày sang Lào.

Thực chất, Nguyễn Giang không đủ sức để đảm đương công việc này, xong với lòng kiêu hãnh, ông vẫn nhận vị trí có tính xắp đặt đó của Nhà Cầm quyền (vẫn tâm sự của những người con của Nguyễn Văn Vĩnh).

Tòa nhà Hồng Vân-Long Vân trước quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội. Ảnh cắt từ clip quay năm 2006

Không vô cớ, năm 2011, vì thấy rõ những ảnh hưởng sâu sắc tới lịch sử, xã hội, văn hóa và chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh đối với quá trình phát triển của nền văn minh Việt Nam, nên tôi đã trân trọng gửi kiến nghị đến các cơ quan cấp cao nhất của hai Nhà nước Việt Nam và nước Cộng hòa Pháp, cùng hai Tổ chức Quốc tế là UNESCO và FRANCOPHONIE, đề nghị tổ chức việc nghiên cứu có hệ thống cấp Nhà nước, nhìn nhận và đánh giá đầy đủ về con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, nhằm giúp các thế hệ đi sau hiểu hơn quá trình phát triển lịch sử văn minh một Việt Nam hiện đại, xây dựng lòng tự hào chính đáng của một giống dân trong địa hạt tư duy trí tuệ.

Đã gần 10 năm trôi qua, họ vẫn im lặng….

Vâng, họ im lặng là quyền của họ, còn trách nhiệm của tôi và chúng tôi, vẫn sẽ tiếp tục trình bày với những ai quan tâm đến sự thật lịch sử theo một cách thức ‘nông dân’ là, thấy thế nào… trình bày như thế.

Trong cách thức ‘nhà quê’ mà chúng tôi thực hiện việc chứng minh Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Chúng tôi xin được giới thiệu lại với các quý vị và các bạn, bài viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1932, đăng trên các số báo 110, 111, 112 và 113 của L’Annam Nouveau, được nhà văn Vũ Trọng Phụng dịch sang tiếng Việt và đăng trên ĐDTC năm 1937, nhờ công sưu tầm của NNC Lại Nguyên Ân.

Do bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh khá dài (đăng trên 4 số báo), nên trang tin của chúng tôi xin được chia làm ba kỳ.

Đồng thời, nhân đây, tôi xin được thay mặt hậu duệ của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, thắp một nén hương với tấm lòng thành kính biết ơn cố nhà văn Vũ Trọng Phụng, người đã dày công dịch bài viết quan trọng này, giúp cho hậu sinh hiểu hơn về Nguyễn Văn Vĩnh.

Đây cũng là một trong cả ngàn bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh lúc sinh thời, mà tôi đặt kế hoạch đưa vào tập 9 trong dự án bộ sách 14 tập có chủ đề ‘LỜI NGƯỜI MAN DI HIỆN ĐẠI’.

Chúng tôi tin rằng, sau khi đọc bài viết này, bạn đọc sẽ dễ nhàng nhận ra việc, vì sao các chế độ chính trị ở Việt Nam trong quá khứ, không muốn chấp nhận Nguyễn Văn Vĩnh?!

Tôi thành thật xin cảm ơn một lần nữa NNC Lại Nguyên Ân, người đã quá một lần giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trân trọng!NGUYỄN LÂN BÌNH.

Chú thích:

  1. ‘Dám’, một từ rất đắt của tác giả Đức Hoàng dùng trong bài “Có cửa làm ăn’, mô tả một lối hành xử bắt chấp đạo lý của một số ‘người tài’… Đăng trong chương mục GÓC NHÌN-VNEXPRESS 12/5/2020.
  2. Lời dịch đầu bài báo sang tiếng Việt, do Nguyễn Kỳ (con trai thứ sáu của Nguyễn Văn Vĩnh) dịch từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 ở thế kỷ trước. Lời dịch này hơi khác với của Vũ Trọng Phụng dịch năm 1937.

      3. Thành phần của BBT. ĐDTC 1913:

          – Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936)
          – Phạm Duy Tốn (1883-1924).
          – Bưu Văn – Phan Kế Bính (1875-1921)
          – Trần Trọng Kim (1883-1953)
          – Đông Châu – Nguyễn Hữu Tiến (1875-1941)
          – Nguyễn Bá Trác (1881-1945)
          – Tư Trung – Thân Trọng Huề (1869-1925)
          – Ứng Hòe – Nguyễn Văn Tố (1889-1947).
          – Trọng Hữu – Nguyễn Đỗ Mục (1882-1951)
          – Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939)
          – Phạm Quỳnh (1892-1945) 

          – Tuyết Huy – Dương Bá Trạc (1884-1944)

       4. http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/30-nhung-goc-nhin-van-hoa/11769-dong-duong-tap-chi-to-bao-quoc-ngu-som-nhat-o-ha-noi

Những tác phẩm dễ nhận biết nhất của Vũ Trọng Phụng xuất bản năm 1936:

–  Giông tốVỡ đê – Số đỏKỹ nghệ lấy TâyLàm đĩ.

Với đầu đề ‘Vũ Trọng Phụng PR rẻ tiền?’ của tác giả Mi Ly, đăng trên báo Tiền Phong ra ngày 20.6.2012, từng viết:

“Nhiều nhà văn, nhà phê bình văn học đánh giá Vũ Trọng Phụng là nhà văn lớn nhất Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. “Nhất” chứ không chỉ là “một trong những”. Giá trị vượt thời gian của những tác phẩm như Giông tố, Số đỏ, Kỹ nghệ lấy Tây, Làm đĩ… chứng tỏ nhận định này không sai”.

Ghi chú: Chúng tôi đồng ý cung cấp bản in báo bài “Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng – La concussion sous ses différentes formes” (cả bản mềm-word).

                                =============================

 NHỮNG THIÊN HÌNH VẠN TRẠNG CỦA NẠN HỐI LỘ

(La concussion sous ses différentes formes)

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI SƯU TẦM: Bài báo dài này đăng Đông Dương tạp chí ở Hà Nội cuối năm 1937, dưới nhan đề ghi rõ: “Nguyên văn chữ Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh viết từ năm 1932, Vũ Trọng Phụng dịch ra quốc văn”.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng được in trên tem bưu chính VN năm 2012

Lúc này, tức là khoảng nửa sau năm 1937, Vũ Trọng Phụng là Thư ký toà soạn phần tiếng Việt của Đông Dương tạp chí, đã cho đăng khá nhiều tác phẩm (ví dụ nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Quý phái), nhiều bài viết của mình, trong đó có bài dịch này.

Ghi chú dưới nhan đề bài dịch cho biết bài báo chữ Pháp này Nguyễn Văn Vĩnh viết từ năm 1932, nhưng lại không cho biết đó là bản thảo hay bài đã đăng báo, và nếu đã đăng thì đăng trên báo nào?

Xin tạm dự đoán bài này có thể đã đăng trên L’ Annam nouveau, tờ báo chữ Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh là giám đốc chính trị từ số 1 (25/1/1931) đến số 527 (5/3/1935), sau chuyển sang những người khác và tồn tại đến tháng 4/1942 (theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Hà Nội, 2001: Nxb. VHTT, tr. 23-24).

Việc tìm thấy bản dịch bài báo này là đáng chú ý đối với việc nghiên cứu cả hai nhân vật: nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) và nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939).

Xin lưu ý rằng cho đến hiện giờ, di sản ngòi bút của nhà báo, nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Vĩnh vẫn chưa hề được sưu tập và biên soạn để tái công bố; hậu thế hầu như không còn biết ông viết những gì, về các vấn đề nào; và bài viết bằng chữ Pháp này của ông mà ta được đọc lại qua bản dịch của nhà văn Vũ Trọng Phụng, ít ra cho thấy ở ông một cách nhìn vào chiều sâu của xã hội người Việt để cắt nghĩa một trong những tệ đoan thâm căn cố đế là nạn hối lộ từ phía người dân và tệ tham nhũng từ phía giới quan trường.

Riêng đối với nhà văn họ Vũ, việc ông có đọc và dịch bài viết này hé cho ta thấy có những loại sự kiện và vấn đề của đời sống xã hội đương thời đã được nhà văn tiếp cận mô tả không chỉ nhờ sự chứng kiến trực tiếp mà còn thông qua các tài liệu khái quát, ví dụ về nạn quan lại tham nhũng, như thông qua bài báo này.

Ta sẽ thấy có  những chi tiết trong tiểu thuyết Giông tố (1936) của ông được viết dựa theo tài liệu khái quát ở bài này của Nguyễn Văn Vĩnh, rõ nhất là đoạn văn nói về “tiểu sử” viên tri huyện mới về trị nhậm huyện Cúc Lâm để xử vụ việc làng Quỳnh Thôn khởi kiện kẻ hiếp dâm con gái làng mình.

Tư liệu về hiện tượng lễ trình (cadeau de présentation) mà Nguyễn Văn Vĩnh nói tới, theo nhận xét của tôi (LNÂ), đã được Vũ Trọng Phụng dựng thành một chi tiết trong “tiền sự” của viên quan mới về trị nhậm này (một đoạn thuộc chương VIII tiểu thuyết Giông tố,bản đăng báo lần đầu).   

Tất nhiên bản dịch này cũng có ích cho những ai muốn tìm hiểu chung về những căn cứ bề sâu của nạn hối lộ trong xã hội người Việt, những nguồn cội này chưa hẳn đã mất dấu trong đời sống hiện tại.

Xin trân trọng giới thiệu bài dịch này của nhà văn Vũ Trọng Phụng với đông đảo bạn đọc.

Tháng 8/2008

LẠI NGUYÊN ÂN

One Response

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network