Câu chuyện thứ 7: NGUYỄN DỰC RADIO với NHẠC SỸ PHẠM DUY – PHẦN 1

Tháng Ba vừa qua, từ các phương tiện truyền thông, giới nghệ sỹ và người hâm mộ âm nhạc Việt Nam đón nhận tin, ca sỹ Thái Thanh qua đời ở tuổi 86.

Bất chấp bối cảnh nạn dịch toàn cầu đang ở giai đoạn cực kỳ căng thẳng, mệt mỏi, tin ca sỹ Thái Thanh từ trần vẫn được lan truyền khá mạnh mẽ qua các mạng truyền thông, cả của phía Nhà nước Việt Nam, cùng các trang tin độc lập của các tổ chức và cá nhân người Việt ở nước ngoài, đủ thấy danh tiếng của người ca sĩ vừa khuất núi lớn đến mức nào?!

Trong những lý do tạo sự quan tâm lớn của công chúng, việc ca sỹ Thái Thanh là em ruột Thái Hằng, vợ của nhạc sỹ danh tiếng Phạm Duy chiếm phần quan trọng.

Chúng ta, những người hâm mộ ở những thế hệ sau, những người chỉ biết đến danh tiếng của gia đình nhạc sỹ, đều có những câu hỏi, và thắc mắc giống nhau khi nhắc đến giai đoạn lịch sử, mà nhạc sỹ Phạm Duy và những người thân của mình thành danh trong cuộc kháng chiến 9 năm với Pháp (1946-1954).

Hình ảnh nhạc sỹ Phạm Duy sau 1954 ở phía Bắc Việt Nam, hầu như không được nhắc đến vì lý do chính trị. Một số ít người Hà Nội yêu văn hóa, âm nhạc, khi nhắc đến Phạm Duy, đều trong tâm lý rụt rè, âm thầm. Những người hâm mộ ngày ấy, đều là những người có tâm hồn lãng mạn, mang nặng ký ức về một dòng nhạc được đặt tên là ‘Nhạc tiền chiến’, và nó gắn với những kỷ niệm của ‘Thời tạm chiếm’, một khái niệm mà thế hệ về sau không dễ chia sẻ. Đây cũng là lý do, đẩy người hâm mộ đến việc thích nghe lại những âm hưởng đã gắn với tuổi thanh xuân của họ, trong đó có những tác phẩm để đời của nhạc sỹ Phạm Duy.

…………..

Tôi sinh vào cái thời ấy, lớn lên sau khi đất nước đã chia làm đôi với hai chế độ chính trị đối lập. Tôi không phải tín đồ của âm nhạc, nhưng môi sinh văn hóa là cái bối cảnh xã hội mà ngày ấy tôi tồn tại. Sáng mở mắt ra, đã thấy những giai điệu của‘Câu hò bên bến Hiền Lương…Sóng Cửa Tùng…Trên đường ta đi tới Bắc Nam liền một khối…’, thì những gì liên quan đến nhạc sỹ Phạm Duy đều bị coi là ‘nguy hiểm’, do bị liệt vào diện ‘phản động’… 

Vậy mà, tôi lại được nghe, và biết tới cái tên Phạm Duy, Thái Thanh, Thái Hằng, Quang Hưng, Khánh Ly… nhiều hơn các bạn cùng trang lứa, thậm chí còn nhiều hơn cả không ít người trong làng âm nhạc, văn hóa ngày ấy.

Và đó là lý do thúc đẩy tôi viết bài tâm sự này.

Tình bạn Nguyễn Dực và Phạm Duy

Cha tôi, Nguyễn Dực. Ông sinh năm 1921 và là con trai thứ 7 của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, người có gốc làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, phủ Hà Đông mà nay thuộc huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) với vai trò là người thuộc phái Tân học (học trường Tây). Trong số những người bạn được Nguyễn Văn Vĩnh coi là chí cốt và cùng phái Tân học, có Phạm Duy Tốn (1881-1924) và Trần Trọng Kim (1883-1953).

Phạm Duy Tốn là người cùng làng Phượng Dực với Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, cụ thân sinh của Phạm Duy Tốn làm quan, khác hoàn toàn với xuất thân của gia đình Nguyễn Văn Vĩnh là dân nghèo. Hai gia đình đều lên Hà Nội sinh sống vào thập niên 80 ở thế kỷ 19, nhưng một người gia đình có nhà riêng ở phố Hàng Dầu (Phạm Duy Tốn), và một người gia đình đi ở nhờ nhà người thân ở phố Hàng Giấy.

Ảnh ba người Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh (từ trái sang)

Năm 1921, Nguyễn Văn Vĩnh sinh Nguyễn Dực, còn Phạm Duy Tốn sinh Phạm Duy (tên khai sinh là Phạm Duy Cẩn, sau Nguyễn Dực vài tháng,).

Hai người lớn lên khi hai ông bố đều có danh, đều từng là thông ngôn (phiên dịch), và đều cùng tham gia phong trào ĐKNT, cả hai là những nhân vật trụ cột của tờ báo thuần tiếng Việt đầu tiên danh tiếng nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam ‘Đông Dương Tạp chí 1913’… Họ lại cùng có chung gốc làng Phượng Dực.

Năm 1936, Nguyễn Văn Vĩnh qua đời trong bối cảnh cực kỳ éo le khi Nguyễn Dực mới 15 tuổi. Trước gia cảnh vô cùng rối ren của gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim lúc này là Giám đốc Nha học chính Đông Dương, vì thương cảm cái nỗi mất mát của gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, đã đứng ra xin cho Nguyễn Dực vào học Trường Kỹ Nghệ Thực Hành Đông Dương mà không phải thi.

Cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh không muốn, bà quan niệm, học trường kỹ nghệ, nơi chỉ dành cho con nhà khó khăn, cần một nghề gì đó để kiếm cơm ăn, áo mặc. Bà cho rằng, nhà đàng hoàng, phải cho con học Anbe Sarô (Albert Sarraut), giống như các anh trai của Nguyễn Dực. Mong thế, nghĩ thế, nhưng cụ bà Vĩnh đã không còn khả năng chu cấp cho các con sau khi cụ Vĩnh bị xiết nợ và phá sản. Tệ hơn nữa, chính quyền đương thời còn o ép, khủng bố nhiều mặt đối với gia đình Nguyễn Văn Vĩnh. Cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh để lại những hậu quả đúng như người đời thường nói, khuynh gia, bại sản.

Nguyễn Dực vào học trường Kỹ nghệ vì… không mất tiền!

Có thể khẳng định, việc Nguyễn Dực học trường Kỹ nghệ Đông Dương, là một bước ngoặt quan trọng đầy hiểm nguy trong cuộc đời mình. Trường Kỹ nghệ Đông Dương, nơi hội tụ nhiều gương mặt tài năng, bản lĩnh hơn người, nên sau này, khi Nguyễn Dực thành danh, các bạn học cũ đã tác động, ảnh hưởng rất nhiều đến việc ‘định hướng’ của ông đối với cuộc đời.

Nguyễn Dực tham gia các tổ chức bí mật của Việt Minh, mà ông không biết và cả không hiểu Việt Minh là những ai? Họ hướng đến điều gì? Rồi ông đã quyết định, mang tất cả những gì mình tích lũy được của những năm lao động ngắn ngủi nhưng nhiều may mắn, đem theo Việt Minh với ý thức dâng hiến, cho đến lúc kết thúc 9 năm kháng chiến.

Bước vào năm thứ nhất trường Kỹ nghệ, Nguyễn Dực đã gặp ngay hai người bạn vốn đã biết nhau từ trước. Trong những kỷ niệm tuổi thơ của mình, nói tới mối quan hệ bạn hữu, Nguyễn Dực đã ghi lại như sau:

“… Cùng học một lớp, tình cờ tôi có hai anh bạn thân từ trước, đều thạo nhạc cả, đó là anh Hoàng Văn Dư, anh từng ở trong một ban nhạc chơi được đủ các loại đàn và thổi được cả các loại kèn, và anh Phạm Duy Cẩn hát hay, biết sáng tác nhiều bài hát… Chính nhờ hai người bạn thân này mà ngay khi học năm thứ nhất, tôi đã cùng hai anh tham gia vào ban âm nhạc chơi cho các phòng trà và tiệm nhảy ở Hà Nội, mỗi tuần ba tối là thứ Tư, thứ Bẩy và Chủ Nhật.

Kỷ luật trong trường rất nghiêm khắc, mỗi lần kiểm tra viết vào tối thứ Năm, mà bài làm chỉ được điểm 8, là ngài Giám đốc Camboulioe sẽ cho ít nhất là hai cái tát, vì vậy anh Hoàng Văn Dư đã bỏ học ngay ở học kỳ hai, không phải vì anh làm bài không tốt, mà chỉ tại vở chép bài của anh không bọc ngoài. Một lần, ngài Giám đốc kiểm tra, định tát anh, anh Dư đã lấy tay gạt ra không để bị tát, đồng thời quyết định bỏ học ngay hôm đó.

Còn anh Phạm Duy Cẩn cũng chỉ theo học sang năm thứ hai. Nguyên nhân vì hàng tháng, trường đều bắt khám vệ sinh thân thể, từng người phải cởi hết quần áo, vào phòng khám bệnh. Trong phòng khám có một y sỹ là người Pháp, nếu thấy học sinh nào bẩn thỉu, hay bị ghẻ, lở… sẽ bị đưa đi cách ly ngay và tắm ngay dưới sự kiểm soát của một y tá người Việt, sau đó được bôi thuốc. Anh Phạm Duy Cẩn đã bị đuổi học vì không chịu tuân theo kỷ luật này…”.

Nguyễn Dực bị sốt rét thương hàn vào trước kỳ thi phân loại ngành học, và chỉ đạt 13/16 điểm, loại điểm chỉ được học ngành cơ khí, mặc dù ông muốn học ngành điện, nhưng không đủ 16 điểm.

Xưởng cơ khí thực hành dành cho học sinh trường Kỹ nghệ Đông Dương.
Ảnh của Phòng dịch vụ ảnh, Trung tâm VP Báo chí Đông Kinh và Bắc An Nam, mã số 5496

Tuy nhiên, nhờ các hoạt động đa dạng trong chương trình của nhà trường, cùng với  năng lực bẩm sinh, Nguyễn Dực làm quen với một người Hoa ở phố Hàng Cót, là kỹ thuật viên vô tuyến điện có tên là Kỳ Anh Sô, người này đã dìu dắt giúp Nguyễn Dực học thêm rất nhiều về chuyên môn ngành vô tuyến. Chính mối nhân duyên này, đã đưa đẩy Nguyễn Dực vào nghề vô tuyến điện.

Năm 1939, tay nghề của Nguyễn Dực đã tỏ ra khá vững vàng, bên cạnh Kỳ Anh Xô, Nguyễn Dực có một người em họ là Nguyễn Đình Thụ, kỹ sư vô tuyến điện tốt nghiệp ở Pháp, và làm việc tại Đài Phát sóng Bạch Mai, Hà Nội.

Năm 1940, Nguyễn Đình Thụ ký được thỏa thuận với chủ số nhà 43a phố Đồng Khánh (nay là Hàng Bài), và lập cửa hàng sửa chữa radio, lấy tên là HANOI RADIO. Nguyễn Đình Thụ giao Nguyễn Dực phụ trách.

Công việc sửa chữa, kinh doanh radio và các thiết bị điện tử ngày ấy là một đối tượng ngành nghề hiếm. Một phần vì cuộc sống sinh hoạt của người dân Hà Nội thấp, mặt khác, đó là những loại đồ dùng sinh hoạt 100% ngoại nhập, vì vậy, khách hàng của HANOI RADIO hầu hết là những thương nhân người Việt giàu có, và những người Pháp sang Việt Nam trong những năm Việt Nam là thuộc địa.

Hoạt động của HANOI RADIO nổi danh khắp Bắc kỳ, song cũng là lúc Thế chiến thứ Hai bắt đầu nóng. Việc cung ứng vật tư, thiết bị điện tử từ Pháp sang trở nên khó khăn, nhiều điểm kinh doanh hàng điện tử của người Pháp phải đóng cửa, vô hình chung tạo điều kiện để HANOI RADIO phát triển, cả về việc thu nạp một số chuyên gia giỏi của các cơ sở dừng hoạt động, cả về việc độc quyền nhiều loại trang thiết bị máy móc vô tuyến điện, do chính Nguyễn Dực đi tầm nã và mua về từ Hồng Kông và Singapore. 

Đến thời điểm này, kỹ sư Nguyễn Văn Thụ gặp rất nhiều khó khăn riêng, ông không còn ham muốn theo đuổi công việc này nữa, và quyết định chuyển giao toàn bộ cơ sở sửa chữa và kinh doanh HANOI RADIO cho Nguyễn Dực, với một mức giá rất hữu hảo, đó là năm 1941.

Cửa hàng tại 43a Hàng Bài được đổi tên thành NGUYỄN DỰC RADIO.

Nguyễn Dực trở nên nổi danh trong nghề vô tuyến điện ở Hà Nội, đồng thời thành người giàu có. Ông đã trở thành con rể cả của chủ nhà số 43a Hàng Bài, là cụ An Thái (tức Lê Bá Chính) vào năm 1944. 

Phong cách, lối sống, môi trường công việc, xuất thân của Nguyễn Dực, đã đưa ông tới các mối quan hệ đa dạng, 43a Hàng Bài, NGUYỄN DỰC RADIO trở thành tụ điểm của nhiều bạn học cũ, các bạn hướng đạo, có cả kẻ tứ xứ… mà lúc này, họ đã là ‘Việt Minh’, nhưng Nguyễn Dực không hề biết…

Với thực tế này, việc kêu gọi và ‘đề nghị’ giúp đỡ hàng loạt các hoạt động của ‘Hội Hướng đạo sinh Việt Nam’, ‘Hội Truyền bá Quốc ngữ’, rồi tiếp nữa là‘Tổng Hội Viên chức Thủ đô’, trở thành những chuyện bình thường, thậm chí là đương nhiên. Vả lại Nguyễn Dực thích thú với những công việc được coi là mới mẻ, hơi phiêu lưu và độc đáo dành cho mình, bởi lẽ, chỉ có mình làm được.

Nguyễn Dực không mảy may toan tính, hay mong đợi gì từ những đóng góp do mình tạo ra, thuần túy theo khái niệm được kêu gọi là ‘giúp đỡ’ Cách mạng. Trong lúc có những gương mặt trong số các ‘bạn’ quen, đã sớm bộc lộ tính cơ hội và tận dụng, mà phải nhiều năm sau này, khi họ trở thành những nhân vật quan trọng của hệ thống chính trị, Nguyễn Dực mới thấy băn khoăn, khổ sở vì họ.

Ảnh Nhà hát lớn trong cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 do Tổng Hội Viên chức Thủ đô tổ chức. Với các máy móc, thiết bị từ cửa hàngNGUYỄN DỰC RADIO, ông là người lắp đặt và vận hành hệ thống âm thanh. Vợ Nguyễn Dực là người may chiếc lá cờ khổ lớn buông phía trước Nhà hát lớn

Năm 1945, sự kiện Việt Minh cướp Chính quyền tháng Tám, đã đặt Nguyễn Dực vào một công việc đòi hỏi chuyên môn sâu, phải đầu tư số lượng thiết bị kỹ thuật lớn và đắt tiền, đó là việc lắp đặt đài phát sóng, phát thanh theo yêu cầu của Tổng Bộ Việt Minh, mà người trực tiếp là Trần Kim Xuyến (1921-1947) và Xuân Thủy (1912-1985) chỉ đạo.

Chỉ trong hai ngày, Nguyễn Dực đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, vào sáng ngày 25/8/1945, tại Sở Thông tin Tuyên truyền Bắc bộ ở số 2 phố Đinh Lễ Hà Nội. Đồng thời, đúng 10h00, Nguyễn Dực đã tự mình ngồi trước micro trong buổi phát sóng đầu tiên và dõng dạc phát ngôn:“Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, trên làn sóng điện 41 m…”.

Vẫn những chuỗi hoạt động này, ngày 2/9/1945, Nguyễn Dực đã dùng những bộ khuếch đại (ampli) tốt nhất, những chiếc micro đắt tiền nhất, và những chiếc loa công xuất lớn, cùng hàng ngàn mét cáp điện được ông cất giấu theo ‘chỉ thị’ của Xuân Thủy và Trần Kim Xuyến từ trước đó nhiều tháng, để lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống truyền thanh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, phục vụ cho buổi lễ Tuyên ngôn Độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Cứ như thế, Nguyễn Dực đã đắm mình trong những hoạt động cực kỳ quan trọng về truyền và phát thanh của Chính phủ Lâm thời VNDCCH.

Ngày 19/12/1946, ‘chấp hành’ chỉ đạo của lãnh đạo nơi Nguyễn Dực công tác, là Nha Thông tin Tuyên truyền Bắc bộ, yêu cầu gấp rút đưa máy móc, trang thiết bị kỹ thuật vô tuyến điện vào Nghệ An, để xây dựng và lắp đặt Đài Phát thanh Liên khu IV theo điện khẩn của Hải Triều (1908-1954), thuộc Nha Thông tin Tuyên truyền Trung bộ yêu cầu.

Trong ngày 19/12, Nguyễn Dực đã cùng anh em nhân viên làm trong NGUYỄN DỰC RADIO, đóng gói toàn bộ các trang thiết bị cần thiết được 15 hòm đồ. Một mình Nguyễn Dực cùng 15 hòm thiết bị, với 170 đồng tiền Đông Dương của riêng, ông đã hoàn thành việc vận chuyển số thiết bị đó vào đến ga Vinh vào sáng ngày hôm sau 20/12/1946, bằng chuyến tàu hỏa cuối cùng với sự hướng dẫn của Hà Đăng Ấn (1914-1982), do thực hiện lệnh Toàn quốc Kháng chiến.

Nguyễn Dực hài lòng trước những lời khen ngợi của Hoàng Quốc Việt (1905-1992),  người cũng từng là học sinh trường Kỹ nghệ Đông Dương, với vai trò là Bí thư Khu ủy Liên khu IV, khi đón ông tại nhà ga Vinh. 

Nguyễn Dực chính thức theo kháng chiến chống Pháp…!

Tái hợp tình thân

Để thuận lợi cho điều kiện công tác, năm 1947, Nguyễn Dực trở lại Hà Nội, đưa vợ và con gái đầu lòng vào Nghệ An. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, chỉ vài tháng sau đó, ông đã đưa gia đình ra vùng tự do Thanh Hóa, phù hợp với yêu cầu tản cư trong chiến tranh.

Nơi gia đình Nguyễn Dực cư trú, là một vùng đồi thấp thuộc thôn Yên Xuyên, xã Yên Hùng, huyện Yên Định. Cả xóm chỉ có hai nóc nhà đều là dân tản cư từ Hà Nội về, là gia đình Nguyễn Dực và gia đình bác sỹ Nhữ Thế Bảo (1912-1983).

Trong những năm tháng này, kinh tế của vợ chồng Nguyễn Dực cực kỳ eo hẹp, bởi lẽ số tài sản có thể ‘ép’ ra thành tiền để sinh sống, ông đã không còn gì. Tiền bạc ông đã tiêu tốn gần như toàn bộ trong suốt hai năm trước đó, do yêu cầu của những hoạt động với Việt Minh. Vợ và hai con ở lại Yên Xuyên, đã trực tiếp tham gia làm nông nghiệp, cô con gái trường nữ sinh Đồng Khánh (bà Nguyễn Dực) cũng ‘dám’ làm ruộng, tăng gia sinh sống, trong lúc Nguyễn Dực bôn ba các vùng miền theo yêu cầu công tác của cơ quan thông tin tuyên truyền Chính phủ VNDCCH.

Hơn một lần, vào những lúc có thể, bà Nguyễn Dực đã xin cầu cứu bố mẹ đẻ của mình là cụ An Thái, lúc một hai chỉ vàng, lúc dăm ba đồng để cầm cự.

Ảnh gia đình Nguyễn Dực tại thôn Yên Xuyên, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa – Ảnh chụp năm 1950

Những năm tháng này, Phạm Duy tham gia kháng chiến tận trong Bình Trị Thiên, cũng trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền văn hóa ca nhạc. Năm 1948, Phạm Duy đã tìm đến tận Yên Xuyên và gặp gia đình Nguyễn Dực. Câu chuyện này tôi xin được kể lại như sau:

Năm 1971, tôi từ Bungari về nước. Mấy tháng sau, tôi nhận được giấy gọi nhập ngũ. Sau ba tháng với khóa huấn luyện khẩn cấp tại Sơn Tây, tôi lên đường vào chiến trường miền Nam.

Trước khi đi Nam, tôi đề nghị cha mình đổi cho chiếc đồng hồ ông đang đeo có nhãn hiệu DOXA của Thụy Sỹ. Lý do xin đổi, vì chiếc đồng hồ tôi dùng còn rất mới, mua ở Bungari, có nhãn hiệu CREATION cũng của Thụy Sỹ và có lịch. Thời ấy, đồng hồ Thụy Sỹ có lịch là thứ đồ ít có ở Hà Nội. Tôi đơn thuần chỉ nghĩ, rằng mang vào chiến trường nó phí đi, xin đổi cái của bố mình, vì đồng hồ của bố nhìn thấy cũ lắm rồi, nếu có làm sao… thì đỡ tiếc!

Cha tôi trả lời:

“Không được, cái DOXA này cũ nhưng mang đầy kỷ niệm đấy, vì nó là thứ ‘đồ chơi’ cha dùng để dỗ cả bẩy đứa con khi nó khóc… Cha còn có cái MOVADO quý hơn cái này nhiều, mua sau cái DOXA một chút.

Con nhớ cha đã từng nói đến ông Phạm Duy nhạc sỹ không? Hồi ở Yên Xuyên, ông Duy tìm đến, ông ấy tâm sự là muốn cưới vợ, nhưng… chẳng có đồng nào, vì là bạn thân từ nhỏ, ông ấy muốn cha giúp.

Khốn nạn, lúc ấy cha có còn gì nữa đâu. Đi kháng chiến mang theo hết, cửa hàng ở Hà Nội đóng cửa, bỏ đấy, toàn tiêu đi chứ có làm ra được đồng nào.

Tội nghiệp, cha đắn đo mãi, không biết làm sao giúp bạn. Ông ấy còn đề nghị cha đứng ra lo tổ chức nữa… Im lặng lúc lâu, cha nói với ông Duy:

Nói thực, anh cũng biết suốt mấy năm qua tôi lặn lộn, khó khăn như thế nào. Bao nhiêu thiết bị, máy móc tôi đem dùng cho Cách mạng hết. Hơn nữa, có đứa con đầu lòng đúng vào lúc loạn lạc, mà nhà tôi cũng phải theo tôi lặn lộn khốn khổ, anh nhìn thì biết, trong nhà chẳng còn gì cả.

Thôi, thế này nhé (vừa nói, cha tôi vừa làm động tác tháo chiếc đồng hồ trên tay), anh cầm cái này đi, cái MOVADO này tôi cất mãi, mới bỏ ra đeo. Hồi tôi mua nó, anh biết, chẳng ít tiền đâu. Anh cứ cầm đi bán, chắc cũng tàm tạm, đỡ được chút nào hay tí ấy.

Ông Duy cầm chiếc đồng hồ cha tôi đưa, ông nói: Thế bao giờ tôi phải trả anh? Cha tôi khoát tay kêu lên, bao giờ thì bao… Quan trọng gì đâu!”.

Kể cho tôi câu chuyện ngắn gọn về chiếc đồng hồ và nhạc sỹ Phạm Duy, cha tôi nói tiếp:

“Bình phải biết, ngày ấy khó mua được đồ sang lắm, đắt lắm, đắt và khó hơn bây giờ tìm mua cái xe máy”.

Mẹ tôi chứng kiến câu chuyện của hai cha con, bà nghẹn ngào bảo tôi:

“Thôi con ạ, con cứ mang cái đồng hồ của con đi, nhỡ có chuyện gì, còn có cái mà bán lấy tiền, chứ cái của cha nó cũ lắm rồi, muốn bán cũng chẳng ai mua…!”. 

30 năm sau

Thời gian quá ngắn khi chúng ta nhìn lại mọi điều, cuộc đời quá ngắn để nhắc lại những chuyện cũ, và kiếp người quá ngắn để ai đó ân hận…

Năm 1975, chiến tranh kết thúc! Ơn Trời, sau những năm lang bạt, tôi lại được về với cha mẹ mình. Nhìn từ góc tinh thần, tôi là đứa con may mắn hơn so với bẩy anh chị em trong nhà, vì là đứa được gần gũi và chia sẻ với cha mình hơn những anh chị em khác (có lẽ là do mệnh).

Từ khi còn là đứa trẻ, tôi đã được cha mình hay cho đi cùng. Không phải chỉ là đi chơi xa các tỉnh, mà còn được cùng ông đến chơi, tham gia những sự kiện lớn và có mặt trong những mối quan hệ thân thiết của ông. Nhờ vậy, tôi được biết và thậm chí là gần gũi với nhiều bạn bè của ông ở nhiều lĩnh vực.

Tôi từng được chứng kiến lúc mới 5, 6 tuổi, ông đã chạy đôn chạy đáo ra sao, khi thu xếp việc tổ chức ghi âm hai bài nhạc quan trọng dùng làm nhạc hiệu cho Đài Tiếng nói Việt Nam (ĐTNVN) tại rạp Magiestic (Tháng Tám hôm nay), đó là bài Diệt Phát xít và bài Quốc ca.

Ngày đó, ĐTNVN còn chưa có nơi thu thanh chuyên biệt. Tôi ấn tượng thế nào với các cô các chú trong Đài, đặc biệt là nghệ sỹ piano Hoàng Mãnh (người miền Nam), người lúc nào cũng chỉnh chu, mượt mà trong ăn mặc, nhất là cái tác phong ngồi đánh đàn của Hoàng Mãnh thật đẹp, cho dù vóc dáng ông nhỏ nhắn.

Rồi các nhạc sỹ danh tiếng như Nguyễn Xuân Khoát, chỉ huy dàn nhạc Cao Việt Bách, nhạc sỹ Văn Chung… với tác phẩm kháng chiến để đời ‘Lỳ và Sáo’. Chưa hết, các nhân vật có chức sắc nổi tiếng như giáo sư Hoàng Minh Giám, bác sỹ Nhữ Thế Bảo, bác sỹ Trần Duy Hưng, bác sỹ Từ Giấy, rồi bác Chu Đình Xương, Trần Văn giàu, Nguyễn Văn Huyên… Họ đều có trong tâm trí tôi với những điểm ấn tượng và kỷ niệm nho nhỏ khi nhớ đến từng người.

Ảnh ông Chu Đình Xương dự đám cưới Nguyễn Lân Bình tháng 1/1980

Cuộc bể dâu của dân tộc qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, đã giúp cho cha tôi hiểu hơn, đâu là sự tử tế, và đâu là sự lợi dụng, là tính cơ hội.

Khi tôi đã đứng tuổi, cha tôi vẫn thường xuyên trao đổi với tôi như với một người bạn, về những diễn biến xã hội gần xa, về những người bạn cũ và mới, về thế thái nhân tình. Ông biết, tôi nhận thức được, chia sẻ được.

Tôi nhớ lắm một ngày, ông nhận được thư bưu điện của nhạc sỹ Phạm Duy gửi về từ Mỹ. Không phải chỉ có ông, mà cả mẹ tôi cũng mừng. Dù gì, bạn cũ mà, thậm chí gọi là nối khố cũng không quá, bởi lẽ (cha tôi kể), từ lúc 16, 17 tuổi, cha tôi đã được nhóm nhạc của Phạm Duy rủ đi chơi nhạc, cùng kiếm tiền ở các tiệm ăn nổi tiếng Hà Nội thời Pháp thuộc, BODEGA ở Tràng Tiền, chẳng hạn. Cha tôi thổi armonica hay lắm, tôi từng được nghe ông thổi bài Đa Nuýp xanh như thế nào?!

Năm tháng cứ trôi đi, cha tôi cũng như bao người cùng thế hệ, và đến cả lứa chúng tôi bây giờ cũng thế, thích ngồi ‘gặm nhấm’ lại những kỷ niệm xa xưa, không quan trọng là nó hay, hay nó dở, miễn nó là của mình.

Rồi một ngày tháng 9 năm 1999, cha tôi nhận được thư của nhạc sỹ Phạm Duy. Ông xem rồi để vào ngăn kéo bàn làm việc, ông cho gọi tôi về.

Tôi quen với việc khi có chuyện gì hệ trọng, cha hay mẹ tôi thường nhắn tôi về nhà. Lần này, ông run run khi kéo ngăn kéo, lấy bức thư của Phạm Duy ra, và nói với chất giọng xúc động:

“Bình ơi, ông Phạm Duy gửi thư nói về tang lễ bà Thái Hằng, này, con xem đi, có cả ảnh nữa này!”.

Tôi rất tệ, chỉ lướt qua, vì nghĩ chuyện mất mát, ra đi của cái lứa tuổi ngang với cha mình, là lẽ đương nhiên, vì ai già rồi cũng chết mà.

Ảnh phong bì của Phạm Duy. Góc trái là chữ của Nguyễn Dực

Tôi ý thức như thế bởi lẽ, những hiểu biết mơ hồ của tôi về mối tình thân của hai con người, là cha tôi và Phạm Duy đã bị chiến tranh mang đi lâu rồi… Đã bị sự cắt chia của đất nước này đẩy đi mãi đâu rồi. Tôi còn được cha mẹ tôi kể, hồi kháng chiến, vì sao Phạm Duy đi vào Nam…?

Vả lại, tôi từng ngờ vực, sao chiến tranh lùi xa rồi, tôi chứng kiến nhiều mối quan hệ được hồi sinh, họ vượt qua thời gian, sự khác biệt, cả sự mặc cảm về chính trị để tìm lại nhau, để giữ lại những ký ức đẹp của cuộc đời, của những điều tốt lành trong quá khứ, và dùng nó làm nhiên liệu cho cuộc sống tinh thần của quãng đời còn lại, để khi sang thế giới bên kia, lòng dạ ai cũng sẽ được an ủi vì mình có nhiều bạn, nhiều ân tình.

Vậy nhưng tôi không thấy sự mặn mà nào được thể hiện, trong cái mối quan hệ thân tình như đã kể, giữa cha tôi với Phạm Duy sau khi đất nước hết chia cắt? Hay vì cha tôi lạc quan, hay ông cũng thích là kẻ đứng ngang hàng với người nổi tiếng?

Phạm Duy và Thái Hằng chụp năm 1949 tại Thanh Hóa (nguồn: Âm nhạc Online)

Từng ấy năm qua đi, cuộc đời đã cho gì cha tôi? Cho gì nhạc sỹ Phạm Duy? Để một bên cứ ngong, cứ ngóng, còn một bên… thi thoảng có đôi dòng. Biết đâu, trong tâm khảm của nhạc sỹ Phạm Duy, Nguyễn Dực chỉ là cái bóng của ngày xưa!

Nghĩ như thế, mặc cảm như thế, nên tôi chỉ biết vâng, trước cha mình. Song, tôi đã dám ‘chất vấn’ ông một cách vu vơ, rằng vì sao, chưa bao giờ con thấy ông ấy gửi quà gì cho cha? Hồi xưa hai người thân nhau thế kia mà?

Cha tôi cười thật nhạt, và nói:

“Ừ, không hiểu…Mà có khó khăn gì đâu nhỉ?!”.

Tôi hiểu, vậy ra cha tôi cũng mong đợi điều gì đó, chí ít là để ông chứng minh với các con mình rằng: quà bạn thân cha gửi đấy! Cha có bạn thân nổi tiếng đấy!

Hết phần Một.

2 Responses

  1. Cảm ơn Anh Bình nhiều nhiều về những câu chuyện một thời để nhớ. Hôm nào mà ngồi được với Anh đàm đạo chắc cả ngày không hết chuyện.
    Có nhiều tình tiết ly kỳ, bí ẩn tuyệt vời đã đi vào lịch sử.
    Hẹn gặp Anh nhé!
    Bst Rgds!
    Lê An Vi
    Nghiên cứu độc lập Văn Hóa Việt Cổ

  2. Rất cảm phục bạn đã chịu khó thu thật các kỷ niệm của cha, ông và viết lại cho con cháu và bạn bè được đọc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
June 2024
M T W T F S S
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Social Network