GIỖ ÔNG NỘI

Từ khi tôi còn học cấp một, cho mãi đến tận lúc là người trưởng thành, tôi luôn thắc mắc, rằng vì sao, vào ngày giỗ ông hay bà nội tôi, cha mẹ mình chỉ trải chiếc khăn lên mặt tủ (nhà tôi gọi cái tủ đó là tủ buyphe) đặt sát tường, có chiều cao khoảng 1,1 hay 1,2 m, vừa tầm với của mọi người, rồi đặt phía trong là bức ảnh chân dung ông, bà dựa vào tường. Phía trước ảnh là một cái cốc cao, trong đó đựng gạo để cắm hương khi thắp. Ở giữa là nải chuối, đôi khi có cả vài ba thứ hoa quả khác, cùng với một đĩa hoa cúng (Hoa đĩa thường có một vài bông hồng, vài ba bông mẫu đơn, cùng mấy bông hoàng lan, hoa ngâu hoặc hoa sói, tùy từng mùa).

Có lần giỗ, tôi thấy mẹ mình luộc một con gà (tức là trong nhà có tí tiền), lần thì một đĩa thịt lợn luộc, hoặc thịt quay, được hiểu như món cúng chính. Tôi cứ nhìn cách mẹ tôi xắp lễ để thắp hương thì biết thời điểm đó, cha mẹ mình có tiền hay không?! Ngoài ra, còn có bát canh măng, hoặc canh bí xanh, với một đĩa rau xào… Chỉ từng đó thôi, mà anh chị em chúng tôi đã thấy ‘long trọng’ lắm rồi.

Những người anh em ruột ở Hà Nội của Nguyễn Dực chụp năm 1994, từ năm này trở đi, mọi người mất dần

Tôi còn thắc mắc, là những lần làm mâm cỗ cúng ngày đó, trong những năm tháng lần mò ‘học’ cách ứng xử theo tập quán ấy, vì sao không thấy mẹ tôi bày sáu cái bát ăn cơm và sáu đôi đũa trên mâm cơm cúng?

Khốn nạn, ngày nhỏ, tôi nhớ, xoong nồi, bát đũa ở nhà tôi chẳng có cái nào tử tế, nếu không méo mó do dùng lâu ngày, thì vung nồi, soong, chảo cũng biến dạng, bởi nay anh lớn đánh đổ, mai đứa em kia làm rơi. Chưa nói tới chuyện, nhà tôi còn có cái nồi nhôm phải hàn đi hàn lại đến ba lần bẩy lượt.

Tôi để ý, rằng nếu có cơ may mua được cái mới, thì cũng chỉ được mua loại chất lượng kém bằng bìa mua hàng gia đình, mà người dân thường gọi là sản phẩm loại II, thay vì gọi là đồ phế phẩm, mà thế cũng đã là may mắn lắm rồi. Đĩa bát, cái thì bị sứt, cái bị mẻ. Đũa ăn thì xấu xí và cũ kỹ, loại đũa bằng gỗ sơn đỏ, trên đầu phía tay cầm sơn mầu vàng (người dân gọi là đũa son), nhưng vì dùng lâu không có thay, sơn bị bong tróc nên nhìn nó chẳng ra loại màu gì, đó là chưa kể nó còn vênh vênh váo váo vì bị cong do dùng từ ngày nào không rõ, khốn nạn, mà cũng có đủ sáu đôi cùng một kiểu đâu, vì thế mà mẹ tôi không dám đặt lên mâm cơm để cúng.

Nói là cúng, nhưng cả cha và mẹ tôi có biết khấn vái bao giờ đâu, chưa nói tới chuyện vàng mã có cần không, có tiền mà mua không? Có đủ đèn dầu, với ba chén nước lã không? Đứng trước nơi tạm gọi là ‘bàn thờ’, khi thắp nén hương, liệu cha mẹ tôi có biết nói với vong hồn ông bà tôi điều gì đó không…? Hay chỉ chắp tay vái lạy đôi ba lần là coi như đã hoàn thành ‘thủ tục’!

Tôi từng đoán, không phải vì cha mẹ mình không biết, bởi lẽ thời gian họ lớn lên, họ được chứng kiến bà nội tôi và ông bà ngoại tôi từng làm cỗ trong những ngày giỗ chạp như thế nào kia mà. Vả lại, họ đều là những người có học, đành rằng là học thời thuộc địa, nghĩa là học cả từ thày cô người Tây và cả người Việt.

Phải mất rất nhiều năm sau này tôi mới hiểu, rằng lúc cha mẹ tôi vừa cưới nhau được một năm thì bùng nổ cách mạng 1945, rồi kháng chiến 1946, cha tôi đã dồn tất tần tật những gì mình có (nhiều hơn bất kỳ ai ngày đó) dâng hiến cho cho cuộc cách mạng ấy. Cha tôi đã đem theo gần như toàn bộ tài sản, tiền bạc, sức lực và trí tuệ để phục vụ cho cái lý tưởng cách mạng mà sau này, ông đã phải sống cực kỳ khổ hạnh vì chính cái lực lượng cầm quyền của cái lý tưởng mình theo đuổi ấy áp đặt xuống ông. Ông đã có tới ba lần bị tuyên án tử hình trong những năm kháng chiến chống Pháp (lần thứ ba là năm 1955 – Cải cách ruộng đất).

Bằng trang thiết bị, máy móc vô tuyến điện của cá nhân, ông Nguyễn Dực hoàn thành việc dựng và phát sóng Đài Tiếng nói VN lần đầu tiên tại số 2 Đinh Lễ, Hà Nội ngày 25/8/1945. Bằng một loạt các thiết bị kỹ thuật VTĐ khác trong số tài sản của mình, ông tự lắp đặt và vận hành thành công hệ thống truyền thanh tại buổi mít tinh ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Với số thiết bị VTĐ còn lại của mình, ông lên đường vào Nghệ An xây dựng Đài Phát thanh Liên khu IV vào đêm ngày 19/12/1946 bằng tàu hỏa.
Ảnh ông bà Nguyễn Dực cùng người em ruột của vợ là Lê Thị Sửu và 2 người con đầu đi tản cư tại thôn Yên Xuyên, xã Yên Hùng huyện Yên Định thuộc vùng tự do Thanh Hóa từ 1947 đến 1951

Rồi cũng chính cái lý tưởng mà cha tôi theo đuổi ngày ấy, đã từng đẩy ông phải ngồi xuống viết bản kiểm điểm trình cấp trên, khi ông là giảng viên Khoa Vô tuyến điện trường ĐH Bách khoa Hà Nội, rằng vì sao anh lại ‘khoe’ với các ‘đồng chí’ trong khoa, rằng việc ngày mai là ngày giỗ thầy mình…? (Các con cụ Vĩnh gọi bố mẹ là thầy mẹ).

Lần ấy, cha tôi đã bị Chi bộ Đảng của Khoa (ông không phải đảng viên) kết án là đối tượng ‘mê tín’, là kẻ lạc hậu, ảnh hưởng của bọn ‘phong kiến’ cổ hủ, và có tư tưởng lối sống của bọn ‘Tiểu Tư sản’. Câu chuyện này tôi được chứng kiến, vì lúc đó tôi cũng đã 9 tuổi rồi. Tôi và anh trai thường xuyên đi tầu điện từ Hàng Bài xuống trường Bách khoa để mua cơm ở bếp tập thể về cho gia đình.

Ngày ấy, lạ lùng và ngờ vực lớn nhất của tôi về cha mẹ mình khi nói đến lòng thành kính với các bậc sinh thành, là sau khi hương thắp cháy hết trên nơi được gọi là ‘bàn thờ’ trong những buổi giỗ ông bà tôi, là cha mẹ tôi lập tức thu dọn toàn bộ ‘bàn thờ’ chỉ trong năm phút, vội vã đến mức, hình như cha mẹ tôi chỉ lo… vô tình, có ai đó đến đột ngột và nhìn thấy.

Ảnh lại được cất vào nơi cũ, cốc gạo dùng để thắp hương lại được đổ vào thùng, mâm cỗ được hạ xuống cho cả gia đình ‘thụ lộc’…. (Cha mẹ tôi không có khái niệm về ‘tài’… về ‘lộc’).

Suốt đời, cha tôi như con chim sợ cành cây cong… thì làm sao biết và dám cúng giỗ thầy mẹ mình như tập quán, phong tục mà người đi trước từng làm. Ông chỉ vô tình, tâm sự với người quen về ngày giỗ bố, mà đã 03 bản kiểm điểm, thì nếu lập ban thờ, có lẽ sẽ là 300 bản tự kiểm điểm chứ đâu chỉ có ba. Đâu như hôm nay, chính những kẻ mệnh danh là ‘đày tớ’ của dân, đã nhân danh cuộc cách mạng ấy… để giành những vị trí quyền lực, để ‘huy động’ vốn xây chùa, kinh doanh đức tin của dân chúng, lấy lời xây nhà thờ họ, điện thờ, rồi ngồi khấn lễ với chi phí cho mỗi buổi chầu tiêu đến cả trăm triệu đồng!

Tôi chỉ vỡ ra mọi điều và ‘bỏ qua’ cho những thiếu sót của cha mẹ mình trong việc hương khói với các bậc sinh thành, khi nhìn thấy tận mắt những điều dối trá và nham hiểm của lớp người đã lợi dụng những tài năng, sự trung thực và tấm lòng của những người như cha mẹ tôi.

Ông bà Nguyễn Dực chụp tại 43 Hàng Bài là nơi ông bà Dực ở nhờ nhà bố mẹ vợ từ năm 1957 đến lúc chết, sau cả cuộc đời lặn lội hy sinh

Đặc biệt, đến một ngày, khi tôi mất đi những người anh em trong cùng tiểu đội giữa núi rừng Trường Sơn, tôi mới cảm nhận được cái mùi của hương thắp nó quấn quýt thế nào giữa hai thế giới Âm và Dương?! Mới hiểu được đôi chút cái ân tình của những người thân đã khuất, và mới biết đau đớn trước sự mất mát…

Vài ngày nữa, lại đến ngày mất ông nội của tôi, ngày 12 tháng Ba Âm lịch, ông Nguyễn Văn Vĩnh, lòng dạ tôi lại bâng khuâng nghĩ đến cha mẹ mình trong những lần giỗ ông bà nội vào những năm tháng bần hàn và cay đắng.

Cầu Trời, Phật và các Thánh thần, cùng các vong linh linh thiêng của các bậc tiền nhân chân chính, sẽ thử thách lòng người vừa đủ thôi, và ban cho muôn dân cơ may sớm vượt qua cơn bấn loạn dịch bệnh hôm nay!

Lễ tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 ở Hà Nội. Ảnh đoàn người đưa tang đi đến trước cổng bệnh viện Bạch Mai, mà đoàn người đưa tiễn vẫn còn ở ga Hàng Cỏ.

Nhân ngày giỗ 12 tháng Ba Âm lịch của ông nội Nguyễn Văn Vĩnh của tôi, chúng tôi xin được gửi đến các quý vị và các bạn một bài viết cách đây đã hơn 80 năm từ ‘mãi’ trong thành phố Sài Gòn, nói về con người hào kiệt Nguyễn Văn Vĩnh lúc ông chưa đầy 50 tuổi.

Âu cũng là dịp để người đời hôm nay có cơ hội hiểu thêm, rằng có phải vì Nguyễn Văn Vĩnh như thế, nên ‘Họ’ đã ngăn cản cha tôi đừng nói tới ngày mất của bố mình, và đừng nghĩ tới chuyện làm bàn thờ để tưởng nhớ, để biết ơn nguồn cội, tổ tiên, ông bà, bố mẹ cho đúng với đạo làm người? Và chính ‘Họ’ đã từng muốn cha tôi không được làm người!   

Hà Nội, tháng Ba năm Canh Tý.

NGUYỄN LÂN BÌNH.

ÔNG NGUYÊN W – VA’N  VINHW

(PHỤ – NỮ TÂN – VĂN, 23 MAI 1929).

Chân dung Nguyễn Văn Vĩnh chụp năm 1924

Tấm hình mà bỗn báo in đây là chơn-dung Nguyễn-văn-Vĩnh tiên sanh, chủ nhiệm báo Trung-Bắc Tân-Văn ở ngoài Hanoi.

Không nói thì chắc ai cũng phải công nhận rằng trong đàn quốc-văn của ta ngày nay, thì tiên-sanh là một nhà cự-phách. Chẳng những tiên sanh đã là một bực tiên tiến lão-thành trong báo-giới, mà lại là một bậc giàu về thiên-tài, rộng về học-vấn, tài về văn-chương, ai cũng kính-phục. Thiệt vậy, tiên-sanh đã nói can-đảm rằng: “Nước Nam ta sau nầy, hay dở là ở chữ quốc-ngữ”, vì có tư tưởng xác định như vậy, cho nên có lẻ tới ba chục năm nay, tiên-sanh rất hết lòng hết sức với chữ quốc-ngữ. Trong khi ngoài Bắc sôi nổi về cái phong trào tân-học, mà trường Đông-kinh Nghĩa-thục lập ra, thì tiên-sanh đã là một người cổ-xướng về việc cải-cách sự học, có tiếng là nhà diễn-thuyết giỏi, và nhiệt-thành với tân-học lắm.

Về sau tiên-sanh ra chủ-trương báo Đông-dương Tập-chí, rồi tới Trung-Bắc Tân-Văn ngày nay, là tờ báo truyền bá nhiều và có danh hơn hết ở ngoài Bắc. Những người cộng-sự với tiên-sanh trước kia thì có ông Phan Kế – Bính, bây giờ thì có ông Dương Bá – Trạc, ông Hoàng Tăng – Bí, đều là những người có đại-danh về học-vấn cã.

Tiên-sanh có công lớn trong việc truyền bá tư-tưởng mới lại còn đem các sách hay của nước Pháp, thứ nhứt là tiểu-thuyết, như là Trois Mousquetaires, Peau de Chagrin, Dame aux Camélias, Misérables, và hài-kịch Molière v.v… dịch ra quốc-ngữ. Tiên-sanh dịch hay và tài lắm, không mất tinh-thần cũa văn Pháp, lại phát dương ra được cái tinh-thần của tiếng nói và văn-chương mình. Như những bản dịch Những kẻ khốn nạn và Hài-kịch Molière, thật có thể nói là những pho kiệt-tác trong văn dịch vậy.

Đã nói rằng tiên-sanh rất nhiệt thành với chử quốc-ngữ, nhiệt thành đến đổi chử quốc-ngữ của ta bây giờ, bị mấy cái dấu lôi thôi, làm cho ta không tiện về sự viết sự in, không lợi dụng được những máy in chữ in ở đời rất là mau chóng tiện lợi. Bởi vậy lâu nay tiên-sanh khởi xướng lên sự cải-cách chữ quốc-ngử, lấy mấy chữ trong vần tây thế vào cho mấy cái dấu. Bỗn-báo đề tựa trên bài nầy, tức là thứ quốc-ngữ mới của tiên-sanh đương chủ-trương đó.

Về vấn-đề phụ-nữ, thì tiên-sanh quan-tâm tới luôn. Ai mở những tập Đông-Dương Tạp-Chí ngày trước, đọc mấy bài ‘Lời đàn-bà’ của cô Đào-thị-Loan, có văn-chương, có tư-tưởng, có ý-vị, thì thấy mượn lời của người cửa các buồng khuê như thế, ấy là viên kiện-tướng trên trường văn trận bút là tiên-sanh đó. Bởi vậy Phụ-nữ Tân-Văn ra đời là thích-hạp với lòng ao ước của tiên-sanh lắm, tiên-sanh sẵn lòng bày tỏ ý-kiến cho bỗn-báo, và đăng trong Trung-Bắc Tân-Văn, ấy chánh là mấy bài mà bỗn-báo trích ra đăng trong số bữa nay đây. Độc-giả coi đó đủ thấy sự quan-xát cũa tiên-sanh có nhiều chỗ mới lạ, không mấy người nghĩ tới.

Phụ-Nữ Tân-Văn rất cảm cái thạnh-tình nhã-ý của tiên-sanh, và trông mong tiên-sanh lưu ý tới luôn, chắc có thể mở mang và bổ ích cho chị em bạn gái nhà Nam ta nhiều lắm.

                                                                                                                  P.N.T.V

Lời giới thiệu về Phụ nữ Tân văn.

Ra đời năm 1929 tại Sài Gòn, chủ trương đấu tranh cho nữ quyền, khuyến khích giới trẻ viết và làm văn bằng chữ Quốc ngữ. Tờ báo tồn tại đến 1935.

Phụ Nữ Tân Văn có Chủ nhiệm là Nguyễn Đức Nhuận (1901-1970, nhũ danh Cao Thị Khanh) và Chủ bút là Đào Trinh Nhất (1900-1951), là tờ báo thứ hai của phụ nữ ở Nam kỳ, sau tờ Nữ Giới Chung của bà Sương Nguyệt Anh (con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu – 1822-1888).

Ban Biên tập Phụ Nữ Tân Văn gồm: Phan Khôi (1887-1959), Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Hồ Biểu Chánh (1884-1958), Thiếu Sơn (1908-1978), Vân Đài (1904-1964)….

Cộng sự của Phụ Nữ Tân Văn có: Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Diệp Văn Kỳ….

BBT. TNT.com

NGUYỄN LÂN BÌNH.

One Response

  1. Cảm ơn Chú Nguyễn Lân Bình với những thông tin về ngày gỗ cụ Nguyễn Văn Vĩnh.
    Cháu xin thành kính thắp hương cho cụ vào ngày gỗ năm nay.
    Và xin chia sớt với chú cảm giác cay đắng về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Ký ức được chia sẻ sẽ là những ký ức sống mãi… Cháu ghi nhớ điều chú vừa kể.
    Kính mong chú Bình và thân quyến bình an!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network